|
Chó chẩn đoán ung thư!
Nguyễn Văn Tuấn
Ư tưởng về sử
dụng chó trong việc chẩn đoán hay phát hiện ung thư, nếu thoạt đầu
mới nghe qua, có người sẽ cho là điên rồ. Nhưng một vài nghiên cứu
gần đây có thể làm thay đổi định kiến đó. Nói một cách ngắn gọn,
chó có thể phát hiện một số ung thư chính xác hơn cả các phương tiện
máy móc điện tử khác như quang tuyến X.
Ung thư là một
trong những bệnh nguy hiểm nhất mà con người biết đến. Ở các nước
kĩ nghệ, ung thư là nguyên nhân thứ hai (sau các bệnh tim mạch) gây
ra tử vong cho dân chúng. Nghe đến hai chữ “ung thư”, rất nhiều
người sợ hăi. Dưới mắt nhiều người, nó là căn bệnh kinh tởm. Nó là
căn bệnh khi một cơ phận trong cơ thể bị hư hỏng một cách tuyệt vọng.
Tế bào phát triển nhanh nhưng “mất trật tự”, và lan sang các cơ phận
khác trong cơ thể, và cuối cùng “ăn sống” cơ thể làm cho cơ thể phải
chết.
Ngay
cả bác sĩ cũng sợ hăi ung thư. Tôi c̣n nhớ trong một seminar bàn về
các bệnh nan y, diễn giả tŕnh bày vấn đề bệnh tim mạch bằng những
h́nh hoạt họa nhằm mục đích khuyến khích quần chúng thường xuyên tập
thể dục, ăn uống điều độ, giảm lượng chất béo trong cơ thể để giảm
nguy cơ bị bệnh tim. Có nhiều h́nh hoạt họa làm cho cử tọa cười
thoải mái, và buổi giảng làm nhiều người hài ḷng. Nhưng khi qua
đến phần ung thư th́ toàn bộ thính giả (tức toàn bác sĩ và giới
nghiên cứu khoa học) chẳng thấy ai cười, ai cũng tỏ vẻ rất quan tâm.
Trong nỗ lực
pḥng ngừa ung thư, các nước phương Tây đă phát động nhiều chương
tŕnh truy t́m ung thư trong những người chưa có triệu chứng ung thư.
Cái lô-gích đằng sau các chương tŕnh truy t́m ung thư này rất đơn
giản: phát hiện ung thư sớm sẽ có cơ hội điều trị kịp thời; và điều
trị sớm cũng có nghĩa là xác suất cứu sống bệnh nhân tăng lên. Tính
từ thập niên 70s (khi các chương tŕnh này được phát động đầu tiên)
cho đến nay, chỉ riêng Mĩ, có hơn 30 triệu phụ nữ đă tham gia vào
các chương tŕnh thử nghiệm ung thư vú, và hơn 20 triệu đàn ông đă
đi thử nghiệm ung thư tuyến tiền liệt. Tại một số nước như Mĩ và Úc,
truy t́m ung thư trở thành một dịch vụ thương mại. Hàng ngàn trung
tâm thử nghiệm ung thư với những trang thiết bị tinh vi ra đời.
Chẩn đoán ung
thư và sai sót
Làm sao biết một
bệnh nhân thật sự bị ung thư? Hiện nay phương pháp chuẩn xác nhất
để chẩn đoán ung thư là sinh thiết (biopsy). Sinh thiết thực chất
là một phương pháp thử nghiệm: cắt một mô nhỏ trong cơ thể và để nó
dưới kính hiển vi để xem có ung thư hay không. Do đó, sinh thiết là
một cuộc phẫu thuật nhỏ, và cũng như bất cứ cuộc phẫu thuật nào, nó
cũng để lại cho người bệnh nỗi đau đớn, và có thể dẫn đến những biến
chứng phức tạp tiếp theo. Do đó, sinh thiết không phải là loại thử
nghiệm bác sĩ muốn tiến hành cho tất cả bệnh nhân, nhất là những
bệnh nhân không có triệu chứng.
Thay v́ làm sinh
thiết, trong vài thập niên gần đây các nhà khoa học đă phát triển
những phương pháp chẩn đoán không xâm phạm lớn đến người bệnh. Có
thể tạm gọi đây là những phương pháp gián tiếp. Để rà soát ung thư
vú, phương pháp phổ biến nhất là quang tuyến X (c̣n gọi là
mammography). Để phát hiện ung thư cổ tử cung, các bác sĩ sử
dụng phương pháp thử nghiệm pap smear. Về ung thư tuyến tiền
liệt trong đàn ông, phương pháp thử máu đo độ PSA là một phương pháp
chuẩn. Đối với ung thư phổi, quang tuyến X được ứng dụng phổ biến
nhất.
Trong một thế giới lí tưởng, các phương pháp thử nghiệm phải chính
xác tuyệt đối: nếu bệnh nhân bị ung thư th́ thử nghiệm cho ra kết
quả dương tính (c̣n gọi là dương tính thật); nếu bệnh nhân
không bị ung thư th́ thử nghiệm cho ra kết quả âm tính (c̣n gọi là
dương tính thật). Nhưng trong thực tế không có phương pháp
thử nghiệm hay chẩn đoán nào đạt được tỉ lệ dương tính thật và âm
tính thật 100% cả.
V́ tính gián
tiếp của các phương pháp này, chúng đều có một độ sai sót nhất định.
Có hai loại sai sót mà giới y tế quan tâm nhiều nhất: đó là dương
tính giả (false positive) và âm tính giả (false
negative). Dương tính giả là trường hợp một người bệnh có kết quả
thử nghiệm dương tính, nhưng trong thực sự qua sinh thiết người đó
không bị ung thư. Ngược lại, âm tính giả là trường hợp một người
bệnh có kết quả thử nghiệm âm tính, nhưng trong thực tế người đó bị
ung thư. Trong chẩn đoán ung thư vú bằng X quang, tỉ lệ dương tính
giả và âm tính giả có thể dao động giữa 5% và 10%. Với ung thư
tuyến tiền liệt, hai tỉ lệ này có thể lên đến con số 20%.
Đối với người
bệnh, một chẩn đoán ung thư cũng đồng nghĩa với một bản án tử h́nh.
Do đó, nếu kết quả là dương tính giả hay âm tính giả có thể gây ra
tác hại tâm lí rất lớn cho người bệnh. Đă có nhiều người tự tử v́
những sai sót này. Thành ra, một trong những nỗ lực nghiên cứu của
y học là phát triển các phương pháp chẩn đoán mới chính xác hơn.
Chó chẩn đoán
ung thư
Mới đây các nhà
nghiên cứu đă đề xuất một phương pháp chẩn đoán táo bạo và mới: dùng
chó để chẩn đoán ung thư! Chẳng những đề xuất, các nhà khoa học c̣n
tiến hành một thử nghiệm để xem độ chính xác của việc chẩn đoán ung
thư bằng chó là bao nhiêu (1). Để có kết quả này, họ đă làm một thử
nghiệm hay và độc đáo, theo qui tŕnh sau đây:
-
Trước hết, các nhà nghiên cứu liên
lạc một trung tâm chuyên huấn luyện chó cho người mù, và chọn
được 5 con chó tuổi từ 7 đến 18 tháng. Đây là loại chó giống
Labrador và Bồ Đào Nha.
-
Trong giai đoạn thứ hai, các nhà
nghiên cứu bắt đầu huấn luyện chó cách ngửi hơi thở. Mẫu hơi
thở của bệnh nhân ung thư hay người không bị ung thư được thu
thập và chứa trong một ống tube. Nếu chó ngửi đúng ung thư th́
được thưởng một xuất ăn, và ngồi xuống trước mẫu; c̣n nếu không
phải ung thư th́ chó được huấn luyện là bỏ đi (nhưng cũng có
phần thưởng một xuất ăn). Trong giai đoạn này họ sử dụng mẫu
hơi thở của 27 bệnh nhân ung thư phổi, 25 bệnh nhân ung thư vú,
và 66 người không bị ung thư.
-
Giai đoạn thứ ba, các nhà nghiên
cứu bèn thu thập các mẫu hơi thở của 28 bệnh nhân ung thư phổi,
6 bệnh nhân ung thư vú và 17 người không bị ung thư. Họ cho 5
con chó ngửi các mẫu này, và từ đó xác định tỉ lệ dương tính
thật và âm tính thật.
Kết quả của công
tŕnh nghiên cứu này có thể tóm tắt trong bản thống kê dưới đây.
Đối với ung thư vú, tỉ lệ dương tính thật là 98% và âm tính thật là
88%. Nói cách khác tỉ lệ dương tính giả (người không bị ung thư mà
chó cho là bị ung thư) chỉ 2% và âm tính giả (bệnh nhân thật sự bị
ung thư mà chó cho là không bị) là 12%. Đối với ung thư phổi, th́
kết quả cho thấy độ chính cao hơn trường hợp ung thư vú: tỉ lệ dương
tính giả và âm tính giả chỉ 1%!
Tóm tắt tỉ lệ
dương tính thật và âm tính thật trong việc chẩn đoán ung thư vú và
ung thư phổi bằng chó
|
|
Xác suất dương tính thật (true
positive, sensitivity) |
Âm tính thật (true negative,
specificity) |
|
Chẩn đoán ung thư vú
|
|
Giai đoạn I |
99/102 = 97% |
45/51 = 88% |
|
Giai đoạn II |
37/38 = 97% |
19/22 = 86% |
|
Giai đoạn III |
70/71 = 99% |
27/31 = 87% |
|
Giai đoạn IV |
54/55 = 98% |
19/21 = 91% |
|
Tất cả |
260/266 = 98% |
110/125 = 88% |
|
Chẩn đoán ung thư phổi |
|
Giai đoạn I |
137/137 = 100% |
81/83 = 98% |
|
Giai đoạn II |
168/172 = 98% |
135/135 = 100% |
|
Giai đoạn III |
275/277 = 99% |
160/162 = 99% |
|
Giai đoạn IV |
128 / 132 = 97% |
180/188 = 96% |
|
Tất cả |
708 / 718 = 99% |
564/568 = 99% |
Nguồn: McCulloch M, et al. Diagnostic
accuracy of canine scent detection in early- and late-stage lung and
breast cancer. Intergative Cancer Therapies 2006;
5(1):1-10.
Phải nói
ngay rằng các kết quả trên đây thật là đáng khích lệ. So với các
máy móc đắt tiền như quang tuyến X, mammography, chó chẩn đoán ung
thư phổi và ung thư vú c̣n chính xác hơn.
Thật ra, ư
tưởng dùng chó trong việc phát hiện ung thư không phải mới. Khoảng
25 năm về trước, đă có hai bác sĩ người Anh tường thuật từ câu
chuyện của bệnh nhân rằng chó có thể ngửi các nốt ruồi và biết rằng
bệnh nhân đó bị ung thư hay không (2). Câu chuyện này được kiểm
chứng bằng một câu chuyện khác cũng cho thấy chó có thể ngửi ung thư
(3). Rồi đến năm 2001, các nhà nghiên cứu Anh làm một thử nghiệm sơ
khởi và thấy quả thật chó có thể phát hiện ung thư bàng quang qua
ngửi nước tiểu (3). Trong công tŕnh nghiên cứu sơ khởi này mức độ
thành công của chó khá cao, và các nhà nghiên cứu kết luận rằng chó
có thể huấn luyện để chẩn đoán ung thư.
Các nhà
nghiên cứu Mĩ đi thêm một bước, với một nghiên cứu qui mô hơn, cẩn
thận hơn và táo bạo hơn (1). Người viết bài này đă đọc kĩ phần
phương pháp và thiết kể của công tŕnh nghiên cứu của nhóm người Mĩ,
và thấy họ đă làm rất chặt chẽ, có qui cũ, tuyệt nhiên không thấy
một khiếm khuyết nào về mặt phương pháp. Tuy nhiên, tôi cho rằng
mẫu bệnh nhân dùng cho chẩn đoán ung thư vú c̣n quá nhỏ (chỉ 6 bệnh
nhân), cho nên có lẽ đó là lí do tại sao những ước tính về tỉ lệ âm
tính thật và dương tính thật chưa được ổn định lắm.
Tuy nhiên,
đối với ung thư phổi, kết quả nghiên cứu này cho thấy rơ ràng là chó
có thể chẩn đoán ung thư chính xác hơn máy X quang. Nhưng điều này
có ư nghĩa ǵ? Theo tôi, khám phá thú vị này cho thấy trong hơi thở
của bệnh nhân ung thư và người khỏe mạnh có một (hay nhiều) đặc tính
nào đó rất khác, mà chó có thể phân biệt được (nhưng con người th́
chưa phân biệt được). Như vậy, kết quả này đưa đường chỉ lối cho
giới nghiên cứu t́m cách phát triển một phương pháp nào đó, có thể
là hóa học, để phát hiện các đặc tính của hơi thở và qua đó chẩn
đoán ung thư.
Cho dù chó
có thể chẩn đoán chính xác hơn máy quang tuyến X, th́ việc quyết
định điều trị vẫn chưa thể dựa vào ... chó. Không phải v́ chúng ta
khinh khi con chó, mà v́ cũng như các máy móc khác, chẩn đoán ung
thư bằng chó chỉ là bước đầu, hay một tín hiệu để điều tra nghiên
cứu thêm bằng các phương tiện khác.
Vấn đề đặt
ra là kết quả này có đủ tính thuyết phục để dùng chó chẩn đoán thay
cho bác sĩ hay không? Không thể nào chỉ dựa vào một vài nghiên cứu
mà thay đổi thực hành lâm sàng. V́ thế, Trả lời câu hỏi này không
dễ và chắc chắn cần phải có thêm nghiên cứu để
đi đến một câu trả lời đáng tin cậy hơn. Trả lời câu hỏi này
cũng chính là một cơ hội cho các nhà khoa học Việt Nam.
Tài liệu tham khảo:
1. McCulloch M, et al. Diagnostic accuracy
of canine scent detection in early- and late-stage lung and breast
cancer. Intergative Cancer Therapies 2006; 5(1):1-10.
2. Williams H, Pembroke A. Sniffer dogs in
the melanoma. Lancet 1989; 1:734.
3. Church J, Williams H. Another sniffer dog
for the clinic? Lancet 2001; 358:930.
4. Willis CM, et al. Olfactory detection of
human bladder cancer by gogs: proof of principle study. BMJ
2004; 329:712-4. |