|
Đôi điều bàn thêm về đại đọc
đẳng cấp quốc tế
Nguyễn Văn Tuấn
Từ chuyến viếng thăm
Mĩ của Thủ tướng Phan Văn Khải vào cuối tháng Sáu vừa qua, ư tưởng
thành lập một đại học đẳng cấp quốc tế (1) cho Việt Nam đang được
nhiều người thảo luận (2-4). Phần lớn những ư kiến xoay quanh vấn
đề nhân sự: muốn có một trường đại học đẳng cấp quốc tế, cần phải có
những giáo sư đẳng cấp quốc tế. Điều này hoàn toàn đúng, nhưng tất
nhiên là chưa đủ, bởi v́ có giáo sư tài giỏi mà không có phương tiện
nghiên cứu hiện đại hay không có sinh viên giỏi hay không có ngân
sách dồi dào, th́ trường đại học chỉ tồn tại như bao nhiêu trường
đại học khác. Ở đây, tôi muốn bàn thêm những
vấn đề xoay quanh các tiêu chuẩn mà tôi đă nêu ra trước đây (5).
Thứ nhất là chất
lượng giáo dục. “Thành phẩm” của đại học là sinh viên tốt
nghiệp và nghiên cứu khoa học. Do đó, nói đến chất lượng giáo dục
là nói đến chất lượng của sinh viên tốt nghiệp. Chất lượng ở đây
phải hiểu theo nghĩa thông thường là đào tạo nhân tài, những người
có khả năng lănh đạo và cống hiến cho sự phát triển kinh tế và khoa
học. Trong thời đại toàn cầu hóa như hiện nay, đơn thuần đào tạo ra
những chuyên gia chưa đủ, mà phải đào tạo những chuyên gia tầm cỡ
quốc tế, tức là có khả năng thích ứng và theo đuổi sự nghiệp trong
bất cứ quốc gia nào trên thế giới.
Điều này dẫn đến một
tiêu chuẩn đo lường chất lượng giáo dục là con số sinh viên tốt
nghiệp đạt được những thành tích cao trong hoạt động kinh tế và
nghiên cứu khoa học kĩ thuật. Một số cơ quan chuyên thẩm định chất
lượng giáo dục đặt ra cái chuẩn khá cao như tính số cựu sinh viên
được bổ nhiệm khách quan vào các chức vụ cao cấp trong guồng máy
kinh tế, hay số cựu sinh viên chiếm giải Nobel hay huân chương
Fields (trong toán học) hay các giải thưởng tương tự. Sở dĩ các đại
học như Harvard, Yale, Stanford, Cambridge, Oxford, Tokyo, v.v… có
tiếng là “world class university” (đại học đẳng cấp quốc tế) là v́
sinh viên tốt nghiệp từ các trường này thường đóng vai tṛ “đầu tàu”
(lănh đạo chính trị, khoa học, kinh tế) của nước họ và trên thế giới.
Đại học không chỉ đơn
thuần là một cơ sở chuyển giao tri thức giữa thầy và tṛ, mà c̣n là
sáng tạo tri thức mới. Sáng tạo không chỉ xuất phát từ thầy, mà c̣n
phải từ tṛ. Do đó, một trường đại học đẳng cấp quốc tế phải có
cách dạy và học mới nhấn mạnh đến việc phát triển tiềm năng của sinh
viên sao cho họ có thể phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề một
cách độc lập. Sinh viên phải được khuyến khích có đầu óc t́m ṭi,
học hỏi, tự tin và sáng tạo, không máy móc đi theo những lối suy
nghĩ cũ, tôn trọng sự thật, và nhất là hợp tác làm việc với những
người không cùng chuyên môn.
Thứ hai là chất
lượng giáo sư. Đă có nhiều người nói đến nhu cầu tuyển dụng
những giáo sư giỏi cho trường đại học đẳng cấp quốc tế, nhưng chưa
có ai cụ thể đề cập đến thế nào là giáo sư giỏi, hay giáo sư đẳng
cấp quốc tế. Theo tôi, một giáo sư giỏi là một nhà khoa học có
uy tín cao và trong lĩnh vực chuyên môn được công nhận trên
trường quốc tế. Uy tín ở đây thường được đo lường bằng những công
tŕnh nghiên cứu khoa học có ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực
chuyên môn.
Ảnh hưởng được đánh
giá bằng số lần trích dẫn bởi các nhà khoa học khác, hay bằng hệ số
ảnh hưởng (impact factor) của tập san mà nhà khoa học công bố. Một
giáo sư đẳng cấp quốc tế phải có ít nhất là 100 bài báo khoa học, và
20% trong số này được trích dẫn hơn 50 lần, hay 50% số này được công
bố trên các tập san với hệ số ảnh hưởng cao hơn 5.
Ngoài ra, khi nói đến
“được công nhận trên trường quốc tế” có nghĩa là vị giáo sư đó được
mời giảng dạy tại các trường đại học khác, được mời làm chủ tọa
(chair) các hội nghị chuyên môn hay được mời làm phát biểu viên
chính (keynote speaker) trong các hội nghị chuyên ngành, được bổ
nhiệm vào ban biên tập của các tập san khoa học quốc tế, được mời
b́nh duyệt các dự án nghiên cứu khoa học, v.v…
Nh́n qua
các tiêu chuẩn chung cho một giáo sư đẳng cấp quốc tế như tôi vừa đề
cập đến trên đây, có thể nói con số giáo sư cỡ đẳng cấp quốc tế ở
nước ta không nhiều. Ngay cả trong giới khoa bảng Việt kiều, con số
cũng chẳng là bao (dù nhiều người cứ tưởng ḿnh là giáo sư đại học
Mĩ là “đẳng cấp quốc tế”!). Do đó, một trường đại học đẳng cấp quốc
tế ở Việt Nam cần phải tuyển dụng giáo sư từ nước ngoài (tất nhiên
kể cả tận dụng từ nguồn Việt kiều). Điều này dẫn đến vấn đề lương
bổng. Hiện nay, lương
bổng của một giáo sư ở Mĩ hay Úc thường khoảng 100.000 đô-la trở lên,
một phó giáo sư khoảng 80.000 đến 110.000 đô-la, và giảng sư cũng
khoảng 65.000 đến 85.000 đô-la. Đó là mức lương khá cao đối với một
nước c̣n đang phát triển kinh tế như ở nước ta. Do đó, ngân sách
của một đại học đẳng cấp quốc tế phải dồi dào, và phải có sự tham
gia đóng góp tích cực của doanh nghiệp tư nhân.
Thứ ba là năng suất
và chất lượng nghiên cứu khoa học. Đại học, như nói trên,
không chỉ là một cơ sở chuyển giao tri thức cho sinh viên, mà quan
trọng hơn c̣n là một “nhà máy” sản xuất ra tri thức mới qua nghiên
cứu khoa học. Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, bằng sáng chế
(patents) các bài báo khoa học (scientific papers) đóng một vai tṛ
rất quan trọng. Bằng sáng chế sẽ được bàn trong một bài sau, ở đây
tôi chỉ nói đến bài báo khoa học. Bài báo khoa học không chỉ là một
bản báo cáo về một công tŕnh nghiên cứu, mà c̣n là một đóng góp cho
kho tàng tri thức của thế giới. Khoa học tiến bộ cũng nhờ một phần
lớn vào thông tin từ những bài báo khoa học, bởi v́ qua chúng mà các
nhà khoa học có dịp trao đổi, chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm lẫn
nhau. Chính v́ thế mà các cơ quan thẩm định và phân cấp đại học
trên thế giới thường dựa vào con số bài báo khoa học để đánh giá
chất lượng của một trường đại học.
Trên thế giới ngày
nay, có khoảng 10,000 tập san khoa học, và con số vẫn tăng mỗi năm.
Nhưng chỉ 50% trong số này được công nhận và đưa vào danh bạ tập san
khoa học (indexed journals). Chất lượng của các tập san này cũng
không tương đồng nhau. Một số tập san như Science,
Nature, Cell, hay Physical Reviews chỉ công bố những bài
báo khoa học mà ban biên tập cho rằng thể hiện những cống hiến cơ
bản, những phát hiện quan trọng, hay những phương pháp mới có tiềm
năng ứng dụng rộng răi trong cộng đồng khoa học. Các tập san này
chỉ công bố khoảng 1% những bài báo họ nhận được hàng năm. Trong y
học, các tập san hàng đầu như New England Journal of Medicine,
Lancet, và JAMA từ chối khoảng 95% các bài báo gửi đến,
và chỉ công bố những bài báo quan trọng trong y khoa.
Do đó, chất lượng
nghiên cứu khoa học thường được đo lường bằng số công tŕnh nghiên
cứu được công bố trên các tập san hàng đầu trên. Thật vậy, các cơ
quan thẩm định chất lượng giáo dục đại học thường dựa vào con số bài
báo khoa học trên các tập san danh tiếng như Science, Nature,
Cell, PNAS, Lancet, New England Journal of Medicine, v.v…, hay
các tập san số 1 trong chuyên ngành, hay các tập san có hệ số ảnh
hưởng cao hơn 5, để xếp hạng nghiên cứu khoa học của trường, bởi v́
có bài báo đăng trên các tập san này phải là những công tŕnh nghiên
cứu chất lượng cao. Ở Thái Lan có trường đại học Mahidol được xem
là đại học hàng đầu trong nước v́ gần 70% các bài báo y khoa và khoa
học của Thái Lan xuất phát từ đó, nhưng chưa có một bài báo y học
nào được đăng trên các tập san khoa học với hệ số ảnh hưởng cao hơn
10!
Thư tư và vấn đề
thời gian và trọng điểm. Cần phải nhận thức rằng không phải một
sớm một chiều chúng ta sẽ xây dựng được một đại học đẳng cấp quốc tế,
một đại học mà nói đến tên, người ta có thể đánh giá ngang cỡ với
các đại học danh tiếng khác ở Tây phương. Các đại học danh tiếng
như Harvard, Yale, Stanford, Oxford, Cambridge, v.v… phải trải qua
hàng trăm năm để đạt được vị thế như ngày nay. Ngay cả các đại học
mới và danh tiếng “khiêm tốn” hơn như University of Tokyo,
Australian National University, National Singapore University, v.v…
cũng phải phấn đấu qua nhiều thập niên để được xếp hạng trong danh
sách các đại học đẳng cấp quốc tế.
V́ thế, có thể nói một
trường đại học đẳng cấp quốc tế ở nước ta vẫn cần phải có ít nhất là
20 năm để có thể sánh vai với các trường danh tiếng trên thế giới.
Vấn đề đặt ra là chúng ta nên mô phỏng theo mô h́nh của các trường
đại học danh tiếng trên thế giới, hay là chúng ta t́m ra một hướng
đi riêng? Nếu bắt chước th́ cuối cùng một đại học đẳng cấp quốc tế
ở Việt Nam cũng chỉ là đại học “hạng hai”, măi măi đuổi theo các
trường khác.
Theo tôi chúng ta nên
chọn cho ḿnh một hướng đi riêng. Kinh nghiệm phát triển của các
trường đại học danh tiếng trên thế giới là họ thường tập trung vào
một lĩnh vực nghiên cứu mới, một lĩnh vực mới mà các trường khác
chưa quan tâm. Thật vậy, một đại học đẳng cấp quốc tế không phải ưu
tú trong tất cả mọi bộ môn khoa học. Đại học Harvard chưa bao giờ
đứng đầu trong các ngành kĩ thuật. Do đó một số đại học trên thế
giới tập trung vào việc xây dựng các phân khoa “mạnh” để trở thành
những trung tâm nghiên cứu hàng đầu, như Mă Lai tập trung vào công
nghệ thông tin và công nghệ cao su nhằm đáp ứng nhu cầu địa phương.
Do đó, tôi nghĩ một đại học đẳng cấp quốc tế Việt Nam phải chọn cho
ḿnh mộ trung điểm để tập trung phát triển. Có thể trọng điểm đó là
nghiên cứu sinh học phân tử trong nông nghiệp, hay công nghệ sinh
học, hay công nghệ thông tin. Chúng ta cần nhiều thảo luận về trọng
điểm để rút ngắn thời gian cho đại học Việt Nam sánh vai cùng thế
giới.
Đại học
được ra đời với sứ mệnh phục vụ xă hội, đáp ứng nhu cầu tri thức của
công chúng. Tri thức là một tài sản chung của con người mang tính
phi biên giới. Thành ra, trách nhiệm của một đại học đẳng cấp quốc
tế, dù cho ở Việt Nam hay ở một nơi nào khác trên thế giới, không
chỉ nhằm giải quyết các vấn đề địa phương, mà phải nhắm vào việc
phụng sự những vấn đề đa chiều hơn, rộng lớn hơn, và qua đó để góp
phần đưa giáo dục đại học thế giới lên một chiều cao mới.
Ghi thêm:
(1) Một số người không
thích cách gọi “đại học đẳng cấp quốc tế” và đề nghị cách gọi khác
như “đại học chất lượng cao” hay “đại học hàng đầu”. Trong giáo dục
đại học, không ai dùng từ đại học chất lượng cao (high-quality
university) hay đại học hàng đầu (premier university) cả, mà người
ta nói đến đại học đẳng cấp quốc tế (world class university).
Song, tôi cho rằng
tranh luận về cách gọi là không cần thiết và có thể làm lạc hướng
trọng tâm thảo luận. “Đẳng cấp quốc tế” chỉ là một cách gọi chung
chung, hàm ư đề cập đến chất lượng đào tạo cao, hay theo tiêu chuẩn
mà quốc tế công nhận. “Đẳng cấp quốc tế” là sản phẩm của giới
truyền thông. Thật vậy, trên thế giới không có một trường đại học
nào gắn liền với những danh từ như “đẳng cấp quốc tế”, “chất lượng
cao” hay “hàng đầu” cả, mà chỉ với cái tên. Và qua tên trường, công
chúng có thể biết đại học đó thuộc hàng đẳng cấp quốc tế hay địa
phương. Chẳng hạn như khi nói đến tên các đại học như Harvard,
Stanford, Yale, Berkeley, Oxford, Cambridge, v.v… người ta đều hiểu
đây là những đại học đẳng cấp quốc tế, với chất lượng đào tạo cao
hơn các “đại học địa phương” như California State University, Kent
State University, University of Canterbury, v.v…
(2) Xem bài viết “Muốn trường tốt phải có thầy hay” trên Tiền
Phong Online:
http://www.tienphongonline.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=26216&ChannelID=71.
(3) Xem bài viết “Tuyển chọn giáo sư cho một đại học chất lượng cao”
trên Tuổi Trẻ Online:
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=106806&ChannelID=13
(4) Xem trang web chuyên bàn về đề tài đại học đẳng
cấp quốc tế tại
http://vietnamnet.vn/dhqt/.
(5) Xem ư kiến của tôi về đại học đẳng cấp quốc tế
trên VietNamNet tại địa chỉ:
http://www.vnn.vn/60nam/2005/08/483729/
Bài đă đăng ở Thời báo Kinh tế TPHCM |
|