|
VẬN NƯỚC ĐẾN HỒI...
Mào đầu của Giới Tử: TCN nói là làm, và kết quả là
bài BANG GIAO VỚI
VATICAN ?? BANG GIAO NHƯ THẾ NÀO ??
dưới đây. Từ ngày anh em quen biết
nhau, tôi chưa bao giờ thoáng cảm nhận một chút ǵ bi quan trong tư
tưởng của TCN. Với tôi, và chắc chắn là với đại đa số những người
đọc TCN, TCN là một Triệu Tử Long, thản nhiên đi vào chiến trận,
không hận thù, không tham vọng. TCN là một biểu tượng trong sáng
của chủ trương Giải Hoặc mà anh em theo đuổi. Ng̣i bút hay cái
keyboard computer của TCN giống như cây trường thương trên tay Triệu
Tử Long. Thấy đúng nói đúng, thấy sai nói sai, không đánh lén, không
xỏ xiên, không lá mặt lá trái.
Với những người đọc TCN, nếu có
ai không thích, không hợp với đức tin, thành kiến, u minh của ḿnh
th́ không chấp nhận, dĩ nhiên. Nhưng tôi chưa hề thấy ai công khai
đối đáp với TCN và chứng minh cho thấy TCN sai chỗ nào, vặn vẹo, xỏ
xiên chỗ nào. Cho nên, trên đường tháo chạy, những kẻ đó đă ngoái
lui nói một câu cho đỡ nhục: Đồ tay sai VC! Đồ chỉ điểm cho CS! Làm
như thể là chỉ có VC mới biết nói phải, nói đúng, nói như đinh đóng
cột, nói không căi được.
TCN chỉ bỏ mấy ngày để hoàn
thành bài
BANG GIAO VỚI VATICAN ?? BANG GIAO
NHƯ THẾ NÀO ??
như một đại cáo thế này cũng đủ biết TCN lo lắng đến
mức nào. Và đó không phải chỉ là niềm riêng của TCN. Đó mới là điều
đáng nói. Cũng với tâm thức đó Giới Tử đă yêu cầu cho đăng lại
BANG GIAO VỚI VATICAN?
TẠI SAO KHÔNG!
tiếp sau bài của TCN như một sự bổ túc lẫn nhau.
BANG GIAO VỚI VATICAN ??
BANG GIAO NHƯ THẾ NÀO ??
Trần Chung Ngọc
Vài Lời Nói Đầu
Đầu tháng 7 vừa qua, do lời mời của
Vatican, một phái đoàn từ Việt Nam đă đến Vatican tham quan để biết
rơ hơn những hoạt động mà Vatican đă tŕnh diễn và đưa ra những lời
hứa hẹn ngọt ngào để khuyến dụ phái đoàn, hi vọng đi đến việc thiết
lập quan hệ ngoại giao b́nh thường giữa hai “quốc gia”. Và cuối
tháng 11, 2005, Hồng Y Crescenzio Sepe, Bộ Trưởng Bộ Truyền Giáo của
Vatican, hậu thân của những ṭa án xử dị giáo khi xưa, đă đặt chân
lên đất nước mà khi xưa người Ca-Tô Giáo La Mă đă tích cực hỗ trợ
thực dân Pháp để đưa nước nhà vào cảnh nô lệ trong 80 năm. Bộ
Trưởng Sepe đến để phong chức lại cho 57 linh mục đă từng là linh
mục, và thăm “Thánh Địa La Vang”, một thánh địa ăn cướp của Chùa Lá
Vằng như sử sách đă ghi rơ, với mục đích đẩy mạnh sự sùng bái và
cuồng tín của các tín đồ Ca-Tô Việt Nam, số tín đồ này nổi tiếng là
mê muội và cuồng tín nhất trên thế giới ngày nay, ở trong nước cũng
như ở hải ngoại.
Như vậy, vấn đề thiết lập quan hệ
ngoại giao b́nh thường giữa Việt Nam và Vatican có lẽ không c̣n bao
lâu nữa sẽ đi tới. Tuy nhiên, có hai vấn đề cần được đặt ra. Nhà
Nước cần phải biết rơ ḿnh bang giao với ai, một quốc gia thế tục
như mọi quốc gia khác, hay một tôn giáo? Như vậy, điều cần thiết là
Vatican cần khẳng định với Việt Nam: Vatican là một quốc gia thế tục
hay là một tôn giáo? Nếu là một quốc gia như mọi quốc gia thế tục
khác th́ việc bang giao với Vatican là chuyện tất nhiên, cũng như
Việt Nam đă bang giao với nhiều quốc gia khác. Nếu chỉ là một tôn
giáo thuần túy lo việc tâm linh của tín đồ của một tôn giáo trong vô
số tôn giáo trên thế gian, thí dụ như Hồi giáo, Do Thái giáo v..v..
, th́ không có lư do ǵ để Việt Nam phải bang giao với một tôn giáo,
nhất là tôn giáo này đă đưa đến Việt Nam nhiều hệ lụy và c̣n đang
nắm giữ đầu óc của 5-7% dân số người Việt. Nếu Vatican vừa là một
quốc gia thế tục vừa là một tôn giáo th́ có lẽ Việt Nam cũng cần
phải bang giao với Vatican trong tinh thần ngoại giao quốc tế giữa
các quốc gia và nhất là về vấn đề tôn giáo, Việt Nam có nhiều điều
cần phải giải quyết với Vatican.
Nhà Nước cần giải quyết dứt khoát
với Vatican những vấn đề lịch sử khi Ca-Tô Giáo đến Việt Nam, nhất
là trong thời kỳ Pháp chiếm Việt Nam làm thuộc địa và sau đó; vấn đề
những đất đai và tài sản mà Ca-Tô Giáo đă dựa vào thế lực của thực
dân Pháp và của chế độ Ca-Tô Ngô Đ́nh Diệm trong 9 năm ở miền Nam để
cướp đoạt của Việt Nam; những hệ lụy mà Vatican đă mang đến Việt
Nam; những giáo lư và Kinh Thánh của Ca-Tô Giáo Rô Ma trong truyền
thống văn hóa của dân tộc Việt Nam v..v…, và nhất là vấn đề tôn
trọng chủ quyền Việt Nam trong mọi h́nh thức hoạt động xă hội cũng
như tôn giáo ở Việt Nam. Đây là những vấn đề quan trọng cần phải
giải quyết một khi cuộc bang giao đă h́nh thành. Và ngày nay, nếu
muốn, Nhà Nước có thể có đầy đủ tài liệu về những vấn đề này để đặt
trên bàn đối thoại thương thuyết với Vatican.
Như vậy, bang giao với Vatican
không thành vấn đề, nhưng Việt Nam cần phải “biết ḿnh, biết
người”. Việt Nam cần phải biết rơ chính ḿnh và quan trọng hơn nữa
là cần phải biết rơ Vatican. Hi vọng người dân trong nước, nhất là
khối Phật Giáo, có thể tích cực giúp Nhà Nước trong vấn đề biết rơ
truyền thống văn hóa Việt Nam. Biết rơ Vatican trong chính sách
đối ngoại là vấn đề then chốt có ảnh hưởng đến tương lai của cả dân
tộc, của “dân vạn đại”, chứ không chỉ ảnh hưởng đến một Đảng, một
tôn giáo, hay một chế độ “quan nhất thời”. Cũng v́ vậy mà Nhà Nước
cần sự góp ư của người dân, những người dân không thuộc thế lực phi
dân tộc và tất nhiên phản dân tộc. Hi vọng bài viết này có thể góp
được một phần, dù nhỏ nhoi, trong chính sách đối ngoại của Nhà Nước
đối với Vatican, qua một số thông tin về bản chất, chủ trương của
Vatican, và nhất là thực lực của Vatican trên thế giới ngày nay.
Sơ Lược Về Thực Chất Ca-Tô Giáo
La Mă Ngày Nay
Trước khi nói về thực chất Ca-Tô
Giáo La Mă, tôi xin viết vài nét về Việt Nam. Có thể nói Việt Nam
là một nước Phật Giáo v́ đa số người dân theo Phật Giáo, cũng như
nước Mỹ vẫn tự coi là một nước Ki-tô Giáo (Christian country), v́ đa
số dân Mỹ (khoảng gần 80%) theo Ki-tô Giáo. Xin đừng dựa vào những
con số thống kê của ngoại quốc về số tín đồ Phật Giáo. Người Việt
theo Phật Giáo không nhất thiết phải Quy Y Tam Bảo, không nhất thiết
phải đi Chùa, không nhất thiết phải răm rắp tuân theo những lời phán
của các “Trưởng Tử Như Lai”, nhưng thường là trong nhà bao giờ cũng
có bàn thờ Phật và bàn thờ Tổ Tiên. Tuy là một nước Phật Giáo,
nhưng ư thức tôn giáo của Việt Nam là một ư thức chiết trung, nghĩa
là dung ḥa mọi tín ngưỡng. Do đó tinh thần Tam Giáo (Thích, Nho,
Lăo) Đồng Nguyên đă là một vết son đậm trong lịch sử tôn giáo của
Việt Nam. Truyền thống văn hóa cao cả này của Việt Nam hoàn toàn
đối ngược với những tôn giáo độc thần như Ki-Tô-Giáo, Do Thái Giáo,
và Hồi Giáo, những tôn giáo cho rằng con người chỉ có quyền được thờ
thần của họ, dù rằng thần của họ chỉ là một sản phẩm tưởng tượng của
người dân miền Trung Đông trong thời kỳ bán khai mà ngày nay đă
không c̣n chỗ đứng trong những xă hội văn minh tân tiến. Những bằng
chứng khoa học ngày nay đă chứng tỏ rơ ràng như vậy hơn bao giờ hết.
Là một nước Phật Giáo, Việt Nam
không nên quên rằng, Giáo Hoàng Bê-nê-đít-to XVI hiện thời, trước là
Hồng Y Joseph Ratzinger, người đă được thiên hạ tặng cho nhiều biệt
danh không lấy ǵ làm vinh dự cho lắm: Hồng Y thiết giáp
(Panzerkardinal), kẻ ép buộc (tín đồ phải tuân theo
luật đă lỗi thời) của Vatican (The Vatican’s Enforcer),
the God’s Rottweiler (Rottweiler là một giống chó giữ nhà
rất hung tợn), Người canh chừng bảo vệ giáo lư chính thống
(The Watchdog of orthodoxy) và Đại Phán Quan (The
Grand Inquisitor), đă từng lên tiếng phê b́nh Phật Giáo một cách
“rất có đạo đức Ca-Tô”, nếu không muốn nói là “rất có giáo dục
Ca-Tô”, là “A Sort Of Spiritual Auto-Eroticism”. Giáo
dục Ca-Tô cũng đă được phản ánh qua lời phê phán của vị giáo hoàng
tiền nhiệm, John Paul II, coi các nhà truyền giáo Tin Lành như là
các con “chó sói đói mồi, đến gây bất ḥa, chia rẽ, và cướp đi
tín đồ của ông ta.” [Không hiểu những giáo sĩ thừa sai Ca-Tô đến
Việt Nam gây bất ḥa chia rẽ trong dân tộc Việt Nam th́ là những con
ǵ?].
Việt Nam cũng không nên quên là gần
đây, để khích động sự cuồng tín của tín đồ và tái tạo sách lược
chống Cộng của Giáo hội Ca-Tô trong thế kỷ trước, Bê-nê-đít-to XVI
đă mạnh mẽ lên tiếng lên án chủ thuyết quốc xă cũng như chủ thuyết
Cộng sản vô thần. [Xin đọc bản tin của VietCatholic ngày
19/5/2005: “Linh Mục Đặng Thế Dũng: Đức Giáo Hoàng Benedictô
XVI mạnh mẽ kết án chủ thuyết quốc xă và chủ thuyết cộng sản vô
thần.”] Chúng ta hăy thử t́m hiểu xem những lời lên án mạnh
mẽ này có giá trị ǵ trước thế giới, trong bối cảnh lịch sử thế giới
và lịch sử của Ca-Tô Giáo La Mă. Từ đây chúng ta sẽ đi vào thực
chất thế lực của Ca-Tô Giáo La Mă trên thế giới ngày nay.
Trước hết là về lời lên án của
Bê-nê-đít-to XVI về chủ thuyết quốc xă. Xét theo những tài liệu
lịch sử th́ việc Giáo hoàng lên án chủ thuyết quốc xă Đức hiển nhiên
là một hành động bất lương và vô liêm sỉ của vị chủ chăn Ca-Tô Giáo
La Mă v́ chính Bê-nê-đít-to XVI, khi 14 tuổi đă từng gia nhập đoàn
Thiếu Niên Tiền Phong của Hitler (Hitler’s Youth), cho nên báo chí
Mỹ và Tây Phương đă đặt thêm cho ông ta một danh hiệu: Nazi Pope,
tương đương với danh hiệu Hitler’s Pope đă được đặt cho
Giáo hoàng Pius XII. Một trang nhà Ư, Indymedia Italia,
đă đăng h́nh Giáo hoàng Bê-nê-đít-to XVI trong bộ quân phục Nazi
[1]. Theo tài liệu trên Internet th́ đoàn Thiếu Niên của Hitler
đă đóng một vai tṛ chính trong sự nổi giậy của đảng Nazi [2]. Qua
tuyên truyền và áp lực của cùng lứa tuổi, Hitler đă có thể tuyển mộ
được 8 triệu trẻ em Đức, gồm một số chỉ mới có 12 tuổi, để tham dự
trong “nỗ lực chiến tranh”[3]. Sau khi huấn luyện, mỗi đứa trẻ được
chính thức nhận vào đoàn qua nghi lễ phát cho một con dao găm trên
có khắc hai chữ Máu và Danh Dự [4]. Chủ trương của Hitler, như
Hitler thường nói, là đào tạo một lớp trẻ bạo hành năng động, vượt
trội, gan dạ, tàn bạo[5].
Ngoài ra, lịch sử cũng đă chứng
minh là Giáo hội Ca-Tô La Mă đă tích cực ủng hộ và liên kết với các
chế độ Phát Xít Đức, Ư, Tây Ban Nha, và Croatia trong Đệ Nhị Thế
Chiến. Thành tích ô nhục của Vatican ủng hộ những tên độc tài khát
máu phát xít như Hitler, Mussolini, Franco, Pavelic v..v.. đă quá rơ
ràng qua hàng ngàn tài liệu đă được phanh phui và qua một số sách đă
xuất bản. Chúng ta có thể đọc Hitler’s Pope
Viking/Penguin, 1999, của John Cornwell; The Catholic Church
and Nazi Germany, Da Capo Press, 2000, của Guenter Lewy;
The Vatican’s Holocaust, Ozark Books, London, 1972, và
The Vatican in World Politics, Copyright 1949 by Gaer
Associations, Inc., của Avro Manhattan; Genocide in Satellite
Croatia: 1941-1945, The American Institute for Balkan
Affairs, Chicago, 1961, của Edmond Paris; Unholy
Trinity, St. Martin’s Press, 1991, của Mark Aarons và John
Loftus; The Catholic Church in World Politics,
Princeton University Press, New Jersey, 1987, của Eric O. Hanson;
The Politics of the Vatican, Frederick A. Praeger,
Publishers, New York, 1968 và The Pope’s Divisions: The Roman
Catholic Church Today, Holt, Rinehart and Winston, New York,
1981, của Peter Nichols; và vô số tài liệu trên Internet để biết rơ
hơn về sự ủng hộ và liên kết của Giáo hội Ca-Tô La Mă với các chế độ
phát xít.
Do đó, mười ngàn lời lên án quốc xă
hay phát xít của The Nazi Pope cũng không thể tẩy xóa
được những vết nhơ của Giáo hội Ca-Tô trong những liên hệ với Phát
Xít. Mười ngàn lời lên án Cộng Sản Vô Thần của The God’s
Rottweiler cũng không thể xóa bỏ được ảnh hưởng của Cộng Sản
trong vấn đề làm Ca-Tô Giáo suy sụp trên thế giới. Như vậy, thực
chất những lời lên án chủ thuyết quốc xă và chủ thuyết Cộng sản vô
thần của Bê-nê-đít-to XVI là hoàn toàn vô giá trị, chỉ có tính cách
ngụy quân tử và khuyến khích tín đồ Ca-Tô Việt Nam hăy tích cực
chống Cộng.
Để cho vấn đề được rơ ràng, sau đây
là vài tài liệu điển h́nh về mối quan hệ của Giáo hội Ca-Tô La Mă
với Chủ Thuyết Phát Xít mà Giáo hoàng Bê-nê-đít-to XVI “mạnh mẽ
lên án” gần đây. Chúng ta hăy đọc vài đoạn trong cuốn The
Vatican in World Politics của Avro Manhattan:
Ngày 21 tháng 2, 1923, Hồng Y
Vannutelli, đứng đầu tập đoàn Hồng Y, đă tỏ ḷng thành kính đối với
Mussolini (nhà độc tài
phát xít Ư) trước quần chúng về “ḷng nồng nhiệt dấn thân cho
quốc gia và rằng Mussolini đă được Thiên Chúa chọn để cứu nước Ư và
khôi phục tài sản quốc gia” [6]
Ngày 20 tháng 12, 1926, chính
giáo hoàng đă tuyên bố trước “mọi quốc gia” là “Mussolini là người
được Thiên Chúa gửi đến”
[7] Nói tóm lại, Giáo hội Ca-Tô c̣n hơn là hợp tác với chủ thuyết
phát xít trong các trường học, trại huấn luyện, và trong những viện
đào tạo đoàn Thiếu Niên Phát Xít, nơi đây những đứa trẻ phải cám ơn
“The Duce = Mussolini” trước mỗi bữa ăn.” Sau đây là những lời điển
h́nh, được viết ra, và được giáo hội chấp thuận và khuyến khích:
“Duce (Mussolini), Xin cám ơn Ngài về những ǵ Ngà́ đă cho chúng tôi
để chúng tôi lớn lên khỏe mạnh. Ô Thiên Chúa! Xin Người hăy bảo vệ
ông ta để ông ta có thể tồn tại lâu dài v́ nước Ư Phát Xít” [8]
Chủ thuyết Phát xít và Giáo Hội
(Ca-Tô) bắt tay nhau cùng làm trong mọi khía cạnh của cuộc sống, đặc
biệt là cuộc sống của giới trẻ, chúng được nhồi nhét bằng những điều
dạy dỗ của tôn giáo và chủ thuyết phát xít. Để minh họa, chỉ cần
nói rằng trong những sách giáo khoa trong các trường tiểu học, một
phần ba là những chủ đề về tôn giáo – sách bổn, những bài cầu nguyện
v.. v.. – trong khi hai phần ba c̣n lại là để ca tụng chủ thuyết
Phát xít và chiến
tranh [9]
Có thể nào có một sự liên kết
chặt chẽ giữa giáo hội và quốc gia hơn là giữa Vatican và chế độ
Phát xít không? [10]
Nhưng không phải chỉ có những tài
liệu thành văn về sự hợp tác của Ca-Tô Giáo La Mă với các chế độ
Phát xít trong những cuốn sách nêu trên, mà những kho tài liệu như
US Holocaust Museum,
Holocaust Encyclopedia,
c̣n lưu trữ nhiều h́nh ảnh về sự hợp tác của Ca Tô Giáo với Phát
Xít. Trong bài The Pictures Tell the Tale: The Vatican and
Nazism in Germany and Croatia của Jared Israel, Editor,
Emperor's Clothes, 22 April 2005, trên Internet chúng ta có thể đọc
vài đoạn như sau có kèm theo một số h́nh chụp mà nội dung đă
chứng minh rơ ràng sự hợp tác giữa Vatican và Quốc Xă:
Những bằng chứng chứng tỏ rằng (The
evidence shows that):
*a) Hệ thống quyền lực của Giáo
hội Ca-Tô – đặc biệt là Eugenio Pacelli, trước và sau khi trở
thành Giáo hoàng Pius XII – đă giúp đỡ Nazis. Thật vậy, Pacelli đă
giữ một vai tṛ then chốt trong việc tạo nên Hitler, tên độc tài của
nước Đức. [11]
*b) Giáo hội Ca-Tô đă tích
cực trong những phong trào Nazi ngoài nước Đức, đặc biệt
trong vùng Baltic [Yugoslavia] nơi đây Giáo hội giúp quốc
gia bù nh́n Nazi Croatia trong việc cai trị. [Các linh mục ḍng
Phan-Xi-Cô ở Croatia đă dự phần trong việc tàn sát gồm cắt cổ, thiêu
sống hơn 700000 (7 trăm ngàn) dân Chính Thống Serbs và cưỡng bách
nhiều người Serbs phải cải đạo vào Ca-Tô Giáo La Mă] Sau cuộc
chiến [Đệ Nhị Thế Chiến] Vatican đă chứa dấu những tội phạm
chiến tranh Nazi. [The Catholic Church was active in Nazi
movements outside Germany especially in the Baltic region and in the
Balkans, where it helped run the Nazi puppet State of Croatia. After
the war, the Vatican sheltered Nazi war criminals.] Điều này đă
được viết rơ với đầy đủ chi tiết và h́nh ảnh trong những cuốn The
Vatican’s Holocaust của Avro Manhattan và Genocide in
Satellite Croatia: 1941-1945 của Edmond Paris. [Xin đọc
thêm bài Bối cảnh của chiến dịch ngoại giao qua thực trạng khủng
hoảng pháp lư và tài chánh của Vatican của Thường Đức
trên Trang Nhà Giao Điểm]
*c) Sự kiện là Nazis đă dùng
biểu tượng của Ki-tô, hoạt động sát cánh với những giáo hội Ki-tô và
dựa sự tấn công người Do Thái một phần trên những văn bản Ki-Tô mà
người Âu Châu đă quen thuộc. Vatican không phản đối việc dùng những
văn bản này. [12]
Về những h́nh ảnh c̣n lưu trữ trong
Holocaust Museum,
Holocaust Encyclopedia,
chúng ta có thể thấy vài tấm điển h́nh [13]:
-) Hitler rời nhà
thờ Marine ở Wilhelmshaven sau lễ [14] (Điều này chứng tỏ Hitler
là một tín đồ Ca-Tô và chưa bao giờ bị Ṭa Thánh tuyệt thông.)
-) Hitler cầu nguyện
trong một cuộc biểu t́nh ở Vienna [15]
-) Một Hồng Y
cùng diễn hành với đoàn quân Nazi Đức [16].
-) Những linh mục
duỗi thẳng tay phải lên (hô Heil Hitler) trong một cuộc
biểu t́nh ở sân vận động Berlin-Neukolln, tháng 8, 1933 [17].
-) Nhà độc tài Ante
Pavelic của tổ chức Ustashi ở Croatia cùng với các linh mục ḍng
Phan-Xi-Cô. Ḍng Phan-Xi-Cô rất tích cực trong công cuộc diệt chủng
người Serbs, Do Thái và Gypsies [18].
-) Cưỡng bách dân
Serbs cải đạo vào Ca-Tô Giáo [19]. Trong h́nh có một đám
đông dân Serbs đang ngồi chờ để các linh mục cải đạo. Những người
Ki Tô Chính Thống Serbs từ chối cải đạo th́ bị chém giết trong các
làng của họ, hoặc trong trại tử thần Jasenovac, hoặc ném xuống vực
núi.[20]
Sự tàn sát hơn 700000 dân Serbs bởi
chế độ Ca-Tô Ustashe ở Croatia đă được Avro Manhattan viết rơ trong
cuốn The Vatican’s Holocaust, Ozark Books,
Springfield, MO., 1986, dày hơn 200 trang, với rất nhiều h́nh ảnh về
những tội ác của Ustashe với các linh mục ḍng Phan-Xi-Cô trong đó.
Những tội ác của chế độ Ca-Tô Ustashe thật quá dă man, khủng khiếp
ngoài sức tưởng tượng của con người. Chúng ta không thể tưởng tượng
là những con cái Chúa, được Chúa dạy phải thương yêu người lân cận
như chính ḿnh lại có thể độc ác đến mức như vậy. Sau đây là một số
lời ghi dưới những h́nh ảnh dùng làm tài liệu trong cuốn The
Vatican’s Holocaust của Avro Manhattan về sự liên hệ của
Vatican với chế độ Ca-Tô Ustashe và những tội ác của chế độ này ở
Croatia:
-
Trang 21:
H́nh Tổng Giám Mục Stepinac, đại diện của Ṭa Thánh bên cạnh
Quân Đội của chế độ Ustashe, đứng đầu hội đồng giám mục Croatian
và Ủy Ban thi hành chính sách cưỡng bức cải đạo [21]
-
Trang 23:
Ngày 28 tháng 4, 1941, Stepinac
ban lệnh cho giới linh mục ở Croatia ủng hộ quốc gia mới Ustashe, và
cảm tạ thiên chúa toàn năng v́ đă thiết lập được chế độ độc tài
Ustashe [22]
-
Trang 26:
H́nh Tổng Giám Mục Stepinac chụp chung với Tướng Roata, chỉ huy lực
lượng phát-xít chiếm đóng Nam Tư, Tướng Slavko Kvaternik, Chỉ Huy
quân đội Ustashe, và vị Tổng Chỉ Huy lực lượng Đức chiếm đóng Nam Tư
[23]
-
Trang 27:
H́nh Ante Pavelic, người lập lên quốc gia Ca-Tô Croatia và thi hành
chính sách khủng bố, chính trị cực đoan, và cuồng tín tôn giáo.
Được sự bao che của Giáo Hoàng Pius XII, người đă giúp hắn ta tài
chánh qua đường lối ngoại giao để hắn thực hiện mục tiêu.
Khi chế độ Ustashe sụp đổ, Pavelic trốn trong Vatican rồi giả
dạng làm một linh mục, chuồn sang Á Căn Đ́nh [24]
-
Trang 34:
H́nh bản sao tài liệu gốc về luật của Bộ Tư Pháp và Tôn Giáo
Croatia, bắt buộc mọi viên chức chính phủ theo Chính Thống phải cải
đạo sang Ca-Tô. Từ chối sẽ bị cất chức ngay, tài sản bị tịch
thu, hoặc bị bắt giữ. Thường là bị cả ba.[25] [Chính quyền Ngô Đ́nh
Diệm ở Nam Việt Nam đă áp dụng phần nào chính sách dùng người này.]
-
Trang 35:
H́nh một cuộc hành quyết tập thể ở Brode bởi Ustashe, đầu năm 1941,
dưới sự chứng kiến của binh sĩ Nazi [26].
-
Trang 38:
H́nh một người Serb bị ném sống xuống hố chôn tập thể ở tại tập
trung Jasenovac. Trong thời dưới quyền của một linh mục ḍng
Franciscan, Linh mục Filipovic, những sự khủng khiếp trong trại này
th́ tương đương với trại tập trung Dachau (của Nazi). [27]
-
Trang 39:
H́nh thây những đứa trẻ chết đói trong trại Jasenovac dưới quyền
của linh mục Filipovic. Theo sự cố vấn của Linh mục D.
Juric, Linh mục Filipovic đă để cho trên 2000 (2 ngàn) trẻ em Chính
Thống chết đói dưới sự cai quản của ông ta [28].
-
Trang 46:
H́nh Ustashe cắt cổ một trong số nạn nhân Serb theo Chính Thống.
Hăy để ư có một Ustashi khác cầm cái bát hứng máu để cho máu khỏi
bắn ra làm nhơ quân phục. Tội ác tàn bạo này – một trong nhiều tội
ác khác – xảy ra gần Cajnice, năm 1943 [29].
-
Trang 50, 51, và 53:
H́nh những người Serbs bị Ustashi treo cổ tập thể.
-
Trang 67, 68, và 69:
H́nh các linh mục làm lễ cải đạo đám đông dân Serbs. Avro Manhattan
viết: Các linh mục Công Giáo không ngần ngại thủ tiêu những
người chống lại lệnh cải đạo. Linh mục Dragutin Kamber, một linh
mục ḍng Tên, ra lệnh giết 300 người Serbs Orthodox ở Doboj. Linh
mục Branimir Zupanic, ra lệnh giết hơn 400 người trong một làng:
Ragolje. Linh mục Srecko Peric, hô hào giết người tập thể như sau:
‘Hăy giết hết dân Serbs. Và khi giết xong hăy tới đây, vào nhà
thờ, Ta sẽ nghe lời xưng tội và tha tội cho cho các con” V́ những
lời này mà trên 5600 dân Serbs Orthodox bị giết ở quận Livno.
[30]
Trên đây chỉ là một phần những h́nh
ảnh điển h́nh trong 7 chương đầu của cuốn The Vatican’s
Holocaust, gồm tất cả 24 chương. Trong cuốn sách c̣n có rất
nhiều h́nh ảnh khác về sự liên hệ của Vatican với chế độ Ustashe và
về những tội ác của những người Ca-Tô Croatia, gồm cả các giám
mục và linh mục, những h́nh ảnh rùng rợn không thể tưởng tượng
được. Đặc biệt là Avro Manhattan viết chương 23 với đầu đề:
VIETNAM: THE CROATIA OF ASIA. So sánh chế độ Ngô Đ́nh Diệm ở Nam
Việt Nam với chế độ Ustashe ở Croatia là một sự so sánh quá mức.
Nhưng tác giả chỉ muốn nói lên một điều là bất cứ ở đâu mà Ca-Tô
Giáo lên cầm quyền th́ ở đó sẽ xảy ra chuyện kỳ thị tôn giáo và
cưỡng bách cải đạo. Chính quyền Ngô Đ́nh Diệm không đến nỗi tàn bạo
như chế độ Ustashi, nhưng trong 9 năm dưới triều Công Giáo Ngô Đ́nh
Diệm, không phải là không có chuyện ép buộc cải đạo, giết người
ngoại đạo, vu khống là Việt Cộng để chiếm đoạt tài sản, và các tổng
giám mục, giám mục, linh mục Công Giáo tự tung tự tác, tác oai tác
quái, cướp đất của dân, độc quyền kinh tế v..v...
Trước những bằng chứng lịch sử bằng
văn và bằng h́nh ảnh rơ ràng như trên mà ngày nay Giáo hoàng
Bê-nê-đít-to XVI lại lên án chủ thuyết quốc xă th́ những lời lên án
đó có giá trị ǵ. Ông ta không thể không biết đến những liên hệ của
Giáo Hội Ca-Tô với những chế độ Phát xít Đức, Ư, và những lời lên án
của ông đă quật ngược lại Giáo hội Ca-Tô La Mă, chứng tỏ đó chỉ là
một hành động vô liêm sỉ và đạo đức giả, đưa bộ mặt thánh thiện giả
tạo của chính ông và giáo hội mà ông đứng đầu. Nhưng những hành
động vô liêm sỉ và đạo đức giả như vậy chỉ có thể lừa bịp được đám
tín đồ ngu ngơ như Linh Mục Đặng Thế Dũng chứ không thể lừa bịp được
ai khác.
Thật ra, sự vô liêm sỉ và đạo đức
giả của Bê-nê-đít-to XVI trong việc lên án quốc xă chỉ là đi theo
vết chân của Giáo hoàng Pius XII, Hitler’s Pope. Chúng ta biết rằng
John Cornwell đă xuất bản cuốn Hitler’s Pope: The Secret
History of Pius XII năm 1999 dựa theo những hồ sơ mật của
Vatican mà ông được phép tham khảo, và những nguồn tài liệu của Đức
về những hoạt động của Pius XII ở Đức trong những thập niên 1920,
1930 kể cả những cuộc thương thuyết của ông ta với Hitler trong năm
1933 [31]. Với hàng ngàn tài liệu tham khảo, John Cornwell đă thấy
những ǵ? Chúng ta hăy nghe ông mô tả trong một đoạn ngắn.:
“Những bằng chứng nổ tung như
bom. Lần đầu tiên chúng chứng tỏ Pacelli (tức giáo hoàng
Pius XII) là người chống Do Thái có môn bài, qua chính
những lời nói của ông ta. Chúng phanh phui ra rằng ông ta đă
giúp Hitler lên nắm quyền lực và cùng lúc phá ngầm khả năng
chống đối của Ca-Tô ở Đức. Chúng chứng tỏ ông ta đă phủ nhận và tầm
thường hóa Holocaust, tuy rằng ông ta đă có những hiểu biết đáng tin
cậy về mức độ của Holocaust. Và, tệ hơn nữa, ông ta là một tên
đạo đức giả, v́ sau chiến tranh ông ta đă vơ vào ḿnh công lao thái
quá là trong quá khứ ông ta đă nói thẳng ra để chống sự bạo hành của
Nazi.” [32]
Đạo đức của các vị chủ chăn Ca-Tô
thường là như vậy, cho nên ngày nay chúng ta không nên lấy làm lạ
khi thấy giáo hoàng Bê-nê-đít-to XVI, nguyên là một phần tử trong
đoàn Thiếu Niên Tiền Phong của Hitler, lên án quốc xă.
Bây giờ đến vấn đề Bê-nê-đít-to XVI
lên án Cộng Sản Vô Thần. Có lẽ v́ suốt đời sống trong cái “bóng tối
dày đặc của ư thức hệ La Mă” (Dr. Barnado: In the thick darkness of
Romanism) cho nên Giáo hoàng Bê-nê-đít-to XVI không hề được học
rằng, giữa thế kỷ 18, nhà Đại Văn Hào Pháp Voltaire đă nhận định:
“vô thần là thói xấu của một số ít những người thông minh”
(Atheism is the vice of a few intelligent people) để đối chiếu với
số đông những người “hữu thần” ngu dốt tin nhảm tin nhí vào một thần
trong thời đó ở Âu Châu, tuyệt đại đa số là tín đồ Ki-Tô Giáo.
Nhưng có vẻ như đám người ngu dốt
này, qua sự bành trướng của Ca-Tô Giáo, không chỉ giới hạn ở Âu
Châu, không tiến bộ được chút nào trải qua đă vài thế kỷ, cho nên
chúng ta vẫn thấy họ dùng những từ như “Cộng sản vô thần” tràn ngập
trên Internet, hầu hết từ phía những người Ca-Tô Việt Nam, hàm ư “vô
thần” là một cái ǵ xấu xa, v́ không chịu tin nhảm tin nhí vào thần
của họ. Thật là tội nghiệp cho họ. Họ có biết đâu “vô thần” là
biểu hiện của tự hào, của danh dự, của sự tiến bộ trí thức, và “vô
thần” đă có trong suốt gịng lịch sử của nhân loại, trong khi Cộng
Sản mới chỉ thành h́nh vào đầu thế kỷ 20. Tại sao họ lại ngu đần và
mù quáng đến độ ngày nay c̣n dùng đến chiêu bài “Cộng sản vô thần”
như vậy? V́ họ đă bị những tôn giáo độc thần làm tê liệt đầu óc,
khiến cho họ suốt đời phải bám víu vào một vị thần tưởng tượng do
tôn giáo đó bày đặt ra, như bám víu vào một cặp nạng để lê lết trên
trường đời.
Họ là những người mù nhưng lại muốn
dẫn đường cho những kẻ sáng. Họ là những người què quặt nhưng lại
muốn phát cho những người lành lặn mỗi người một cặp nạng. Họ được
dạy vô thần là chống thần của họ, cho nên với bất cứ giá nào, họ
phải chống những người “vô thần” để duy tŕ sự mù quáng và những cặp
nạng của họ. Họ không thể hiểu được rằng, đối với những người vô
thần th́ thần của Ki-Tô Giáo cũng như lông rùa, sừng thỏ, không thể
có, không thể hiện hữu, cho nên chống cái không có, không hiện hữu,
là một chuyện phi lư, không có mấy ai có đầu óc đi làm chuyện phi lư
đó. Đọc danh sách những người “vô thần” chúng ta thấy hầu hết đều
là những danh nhân trí thức trên thế giới, trong khi đọc danh sách
những giáo hoàng Ca-Tô, những người “hữu thần” nặng kư nhất, chúng
ta thấy không thiếu ǵ những kẻ ngu dốt, ác độc, giết người, loạn
luân, phạm đủ mọi thứ tội ác thế gian. Vậy “vô thần” hơn hay là
“hữu thần” hơn. Những cuộc thánh chiến tôn giáo, những ṭa án xử
dị giáo, những cuộc tra tấn nơi h́nh ngục, những cuộc thiêu sống con
người, những cuộc săn lùng phù thủy, những cuộc chiếm đất diệt chủng
của Ki-Tô Giáo, hai cuộc thế chiến vào thế kỷ 20 v..v.., là do “vô
thần” hay “hữu thần” gây ra? Bê-nê-đít-to XVI có biết đến lịch sử
đẫm máu của chính giáo hội Ca-Tô La Mă không? Vậy lấy tư cách ǵ để
mà lên tiếng kết án chủ thuyết Cộng Sản vô thần? Nhưng mà tại sao?
Giáo hoàng lên án chủ thuyết Cộng
Sản Vô Thần là điều tất nhiên v́ Ca-Tô Giáo vốn không đội trời chung
với Cộng Sản, một ư thức hệ đối nghịch với ư thức hệ Ca-Tô và đă đưa
Ca-Tô Giáo vào một bước ngoặt lịch sử trên con đường suy thoái. Hiện
tượng suy thoái của Ca-Tô Giáo La Mă trên khắp thế giới, nhất là ở
Tây Phương, cái nôi của Ca-Tô Giáo trước đây, đă là điều hiển nhiên
đối với những người để tâm t́m hiểu. V́ vậy, Ca-Tô Giáo đang có nỗ
lực cải đạo Á Châu, một lục địa đông dân và tài nguyên phong phú,
nơi đây đám đông quần chúng c̣n nghèo và không có cơ hội học hỏi t́m
hiểu để mở mang trí tuệ, để có cùng tŕnh độ hiểu biết và suy luận
về tôn giáo như đa số người dân Tây Phương, cho nên dễ bị mê hoặc
bởi những mồi vật chất nhỏ nhoi và bởi những điều mê tín hoang đường
đă không c̣n chỗ đứng ở Tây Phương. Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan
v..v.. là những miền đất tốt để cho Ca-Tô Giáo thực hiện âm mưu mang
đồ phế thải ở Âu Mỹ tới trồng cấy đàng sau chiêu bài cải đạo Á
Châu, với hi vọng có thể xóa bỏ nền văn hóa Đông Phương, biến con
người thành những đàn chiên, tuyệt đối tuân phục Vatican như những
tín đồ trong thời Trung Cổ trước đây.
Những điều trên không phải là những
suy đoán vu vơ mà đă là những sự kiện mà chính Giáo hoàng
Bê-nê-đít-to XVI cũng phải thú nhận gần đây. Theo những tin tức
trên báo chí trên thế giới và cả trên tờ thông tin chính thức của
Vatican, tờ L’Osservatore Romano, vào những ngày 27, 28 tháng 7,
2005, th́ Giáo hoàng Bê-nê-đít-to XVI đă lên tiếng phàn nàn như sau:
- “Những tôn giáo
chủ đạo Tây Phương có vẻ đang chết dần v́ các xă hội càng ngày càng
trở nên thế tục và không c̣n cần đến Thiên Chúa nữa” [33].
- “Trong khi đức
tin ở các nước đang phát triển đang lên th́ ở Tây Phương lại khác,
một thế giới chán ngấy với chính nền văn hóa của ḿnh [Thật
ra Tây Phương chán ngấy nền văn hóa Ki Tô Giáo chứ không phải là nền
văn hóa Tây Phương, Giáo hoàng Bê-nê-đít-to XVI đă nhập nhằng đánh
đồng nền văn hóa Tây Phương, một nền văn hóa thiên về suy lư sáng
tạo, với nền văn hóa Ki-Tô Giáo, một nền văn hóa thiên về một đức
tin mù quáng. TCN] nơi đây không c̣n bằng chứng về một sự cần
đến Thiên Chúa, và ngay cả sự cần đến đấng Ki-Tô lại c̣n ít hơn nữa
” [34]
- “Trong một số
quốc gia tiến bộ có khi chỉ có 5% giáo dân đi xem lễ ngày Chủ Nhật”
[35]
- “Bê-nê-đít-to
cũng tỏ ra rầu rĩ về vấn đề những tín đồ Ca-Tô ly dị đă tái hôn mà
không cần đến phép hủy hôn của Giáo hội. Ông ta khẳng định lại là
những người này không thể được hưởng bí tích ăn bánh thánh nhưng
nhấn mạnh là họ nên nghĩ rằng họ vẫn c̣n ở trong giáo hội.”
[36]
- Bê-nê-đít-to nói:
Sự “vui mừng” về số lượng các linh mục gia tăng trong các nước đang
phát triển th́ kèm theo một “sự cay đắng hiển nhiên” v́ một số các
linh mục tương lai chỉ theo đuổi một đời sống tốt đẹp hơn. [Đồng
nghĩa với “theo đạo có gạo mà ăn”] Trở thành linh mục, là họ trở
thành như một ông tù trưởng, đương nhiên được hưởng sự ưu đăi và có
một lối sống khác. [37] (Điều này thật đúng v́ thống kê cho
biết đa số chủng sinh vào nghề linh mục ở Mỹ hiện nay là gốc Mễ và
gốc Mít, chẳng phải là v́ “ơn kêu gọi” của Thiên Chúa mà v́ ông
Washington trên những tấm giấy xanh gọi. Báo Chicago Tribune
ngày 11 tháng 12, 2005 đăng mẩu tin: “Vào thời điểm mà có ít
tín đồ Ca-Tô Mỹ biểu lộ sự thích thú vào nghề linh mục, những người
Mỹ gốc Việt là một sự bất thường. Họ là khối thiểu số lớn thứ nh́
trong các trường ḍng, chỉ hơi ít hơn những người Mễ, trong đó có
một số người già, như Trinh Quang Le, đă 51 tuổi” [38] .
TCN). Lẽ dĩ nhiên những người Mỹ gốc Việt này xuất thân từ những
gia đ́nh có truyền thống Bùi Chu - Phát Diệm – Hố Nai – Gia Kiệm và
những chuyên viên “bảy nghề”.
Những lo ngại của Bê-nê-đít-to XVI
không phải là vô căn cứ v́ t́nh h́nh Ca-Tô Giáo ở Âu Châu đang suy
thoái một cách thê thảm. Ngày nay Vatican chỉ c̣n dựa trên đám tín
đồ thấp kém, hơn 70% thuộc thế giới thứ ba và một vài ốc đảo ngu dốt
ở Á Đông, nơi đây tổng số tín đồ chỉ chiếm nhiều nhất là 2% dân số Á
Đông. Đây chính là thực lực thực sự của Ca-Tô Giáo La Mă. Nhưng bộ
máy tuyên truyền của Vatican với sự phụ họa của đám con chiên nô lệ
vẫn cố sức đưa ra những h́nh ảnh hào nhoáng không thực về thực lực
của Vatican.
Thật vậy, t́nh trạng suy thoái của
Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo La Mă nói riêng, ở phương trời Âu
Mỹ là một t́nh trạng đă rơ rệt, không ai có thể phủ nhận. Một vài
tài liệu với vài con số thống kê sau đây có thể cho chúng ta thấy rơ
hiện tượng này. Trong cuốn Những Nhà Đi Truyền Giáo (Missionaries)
của Julian Pettifer và Richard Bradley, cuốn sách dựa trên một
chương tŕnh TV 6 kỳ của đài BBC, nội dung nghiên cứu về lịch sử
truyền giáo của Ki Tô Giáo nói chung trên thế giới, chúng ta có thể
đọc được vài sự kiện như sau:
Trang 242: Âu châu đă trở
thành “một mối bối rối, lúng túng cho Ki Tô Giáo”, một lục địa mà
nhà thần học Đức Kierkegaard đă gọi là lục địa của những “người
ngoại giáo đă được rửa tội”. Nói ngắn gọn, Âu châu, trong nhiều thế
kỷ là cái nôi của chương tŕnh truyền giáo Ki Tô đi khắp nơi, nay
chính nó lại đă trở thành nơi cần phải được truyền giáo.. Một số
người nói rằng đây là một lục địa “hậu-Ki-Tô”.
Theo Floyd McClung (một nhà
truyền giáo Ki Tô) th́: Người ta e rằng nếu Âu châu cứ tiếp tục
quay lưng lại Thượng đế th́ sẽ có ngày Thượng đế sẽ quay lưng lại Âu
Châu. [Nếu có một Thượng đế].
Những nhà truyền giáo ngày nay
tin rằng Âu Châu hiện ở trong nguy cơ bị lún sâu trong làn sóng thủy
triều của chủ nghĩa thế tục. Họ cực lực phủ nhận đó là định mệnh
tối hậu không thể tránh được của các quốc gia theo Ki Tô Giáo. [39]
Trang 244: Ở
Anh Quốc: T́nh trạng vô Thượng đế ở Anh được coi như là một sự
truyền nhiễm trong giới lao động ở đô thị. Tuy rằng có những
biệt lệ đáng kể, giới trung lưu vẫn c̣n là những người, nếu không
phải là sợ Thượng đế th́ ít nhất cũng là những kẻ tiếp tục đi lễ nhà
thờ... H́nh ảnh này đă hoàn toàn thay đổi. Sự truyền nhiễm đă tràn
vào giới trung lưu sống ở ngoại thành, và ngay cả mạch sống của
giáo hội, những giáo xứ ở miền quê, cũng đă bị nhiễm độc.
Trong cuộc kiểm tra về ngày chủ nhật năm 1851, vào khoảng 40% dân
chúng đi lễ nhà thờ. Một thế kỷ sau, 1951, số người đi lễ nhà thờ
ngày chủ nhật vào khoảng gần 10%.
Các nhà thống kê tranh căi
nhau về số tín đồ Ki Tô thuần thành ở Anh thấp như thế nào. Một
số người cho rằng số người thường xuyên đi lễ nhà thờ chỉ là 4%.
Tới năm 1986, 1/5 số 2870 nhà thờ Tin Lành ở Luân Đôn chỉ có cộng
đồng tín đồ dưới 25 tín đồ; 3/4 có dưới 100 tín đồ.. Nhà thờ
trên khắp nước Anh bị bỏ hoang vắng. Đặc biệt là ở Luân Đôn, sự
biến cải nhà thờ thành một cơ sở khác là một dịch vụ kiếm lời lớn.
Những đèn nhấp nháy để nhảy Disco soi sáng những khung cửa kính
màu của một nhà thờ chính ở Luân Đôn, nhà thờ này đuọc đặt tên
lại là Hộp Đêm Ánh Sáng; ở Barnsbury, Bromley-by-Bow, Ealing và
Highgate, những nhà phát triển địa ốc đă biến những nhà thờ từ
thời Victoria thành những căn nhà ở cho thuê; ở Wales, giáo phái
Trưởng Lăo Tin Lành (Bresbyterian) biến cải 300 nhà thờ thành những
nhà ở cho những cặp vợ chồng trẻ đang trong cảnh khó khăn để mua
được một căn nhà đầu tiên. Ở nhiều nơi khác, nhà thờ được dùng
làm kho bán hạ giá bàn ghế tủ giường thảm, và làm tiệm ăn.
Tuy nhiên sự quan tâm về t́nh
trạng suy sụp tâm linh ở Anh chẳng có nghĩa lư ǵ khi so sánh với
Pháp. Theo nhà truyền giáo (Tin Lành) Mỹ David Barnes, mặc dù Pháp
có một nền văn hóa phong phú, dân Pháp cũng “không biết đến
Thượng đế như là những thổ dân thiếu văn minh ở trong những lục địa
tối tăm nhất trên thế giới.” Trong số 54 triệu dân, chỉ có
0.22% theo Tin Lành. Tuy rằng 94% dân chúng được rửa tội theo
Ca-Tô giáo, chỉ có 2% là thường đi lễ nhà nhờ ngày chủ nhật. Dù
rằng Pháp chịu ảnh huỏng rất lớn của Ca-Tô giáo, Hội Truyền Giáo Đến
Các Nơi Chưa Biết Đến Phúc Âm tuyên bố Pháp là miền đất phải được
truyền giáo.[40]
Ở Mỹ, t́nh trạng Ki Tô Giáo nói
chung, Ca-Tô Giáo Rô-ma nói riêng, cũng không sáng sủa ǵ hơn. Đức
tin Ca-tô càng ngày càng suy giảm, linh mục và giáo dân bỏ đạo hàng
loạt, các “bí tích” trở thành mất ư nghĩa, do đó giáo dân không chịu
đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật. Trong nhà thờ ngày chủ nhật chúng ta
thấy phần lớn là những bộ mặt già nua và những giáo dân Mít, Mễ, và
gốc Phi Châu. 60% tín đồ của hệ phái Tin Lành lớn nhất United
Methodist trên 50 tuổi. Một số nhà thờ, Ca-tô cũng như Tin Lành,
được rao bán để người mua muốn sử dụng làm ǵ th́ làm, có nhiều
trường hợp nhà thờ nay biến thành chùa. Nhiều trường học Ca-tô ở
các địa phương đóng cửa v́ không có học tṛ và không đủ tài chánh để
tiếp tục hoạt động. Nhưng các giáo xứ vẫn có tiền bồi thường,
thường là lên đến hàng triệu đô-la, cho các nạn nhân của các linh
mục can tội loạn dâm.
Năm 1990, linh mục David Rice ḍng
Đô-Mi-Nic xuất bản cuốn Lời Nguyện Tan Vỡ: Linh Mục Bỏ Đạo
(Shattered Vows: Priests Who Leave), đưa ra kết quả nghiên cứu của
ông sau khi đi khắp nơi tổng cộng 38 ngàn dặm (khoảng 60 ngàn cây
số) để phỏng vấn và t́m hiểu đời sống của các linh mục bỏ đạo:
Một trăm ngàn ( 100000 ) linh mục
Ca-tô Rô-ma đă bỏ đạo trong 20 năm qua – cứ mỗi 2 giờ đồng hồ lại
có hơn một linh mục ra đi. Hầu như phân nửa số linh mục Mỹ sẽ
bỏ đạo – thường là để lập gia đ́nh – chưa tới 25 năm sau khi được
tấn phong. Vatican không nói tới cuộc di dân này, nhưng đó chính
là cuộc khủng khoảng nghiêm trọng nhất mà giáo hội phải đối diện, kể
từ khi có cuộc Cải Cách tin Lành.[41]
John Cornwell, một tín đồ Ca Tô và
cũng là một chuyên gia về Ca Tô Giáo và Vatican, tác giả 2 cuốn sách
nổi tiếng về Vatican: A Thief in the Night và Hitler’s
Pope, đă viết thêm một tác phẩm về Ca Tô giáo nhan đề Từ Bỏ
Đức Tin: Giáo Hoàng, Giáo Dân, và Số Phận của Ca Tô Giáo
(Breaking Faith: The Pope, The People, and The Fate of Catholicism),
xuất bản năm 2001, trong đó chương đầu viết về Một Thời Đại Đen
Tối Của Ca Tô Giáo (A Catholic Dark Age). Trong chương
này, tác giả John Cornwell đưa ra t́nh trạng suy thoái trầm trọng
của Ca Tô giáo ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Anh, Mỹ, và
Pháp. Số tín đồ mang con đi làm lễ rửa tội giảm sút, v́ ngày
nay người ta nhận thức được rằng chẳng làm ǵ có tội ở đâu mà phải
đi rửa; đám cưới tổ chức không cần đến linh mục, v́ hôn phối
có thể hợp thức hóa ngoài nhà thờ và bí tích hôn phối đă mất hết
ư nghĩa; giới trẻ không buồn đến nhà thờ, v́ chẳng thấy ǵ hấp
dẫn trong những lời giảng đi ngược thời gian của các linh mục;
số từ bỏ đức tin gia tăng, v́ người ta không c̣n chịu chấp nhận
một đức tin mù quáng; từ 1958 đến nay, số vào nghề linh mục
giảm đi 2/3 v..v.. [Vatican vớt vát được một phần bằng cách
tuyển mộ được một số linh mục Mít và Mễ] T́nh trạng ở Châu Âu, trước
đây là cái nôi của Ca Tô giáo, thật là thê thảm. Ở Tây Âu
(Western Europe), từ 30 đến 50% các giáo xứ không có linh mục.
Ở Ư, 90% theo Ca Tô giáo nhưng chỉ có 25% đi lễ nhà thờ ngày chủ
nhật, giảm 10% kể từ đầu thập niên 1980, số người vào học trường
Ḍng giảm một nửa. Ở Ái Nhĩ Lan (Ireland), xứ Ca Tô, số người
cảm thấy ḿnh được ơn kêu gọi tụt xuống từ 750 năm 1970 c̣n 91 năm
1999, số linh mục được tấn phong từ 259 xuống 43 trong cùng
thời gian. Trong một hội nghị đặc biệt vào năm 1999, các
giám mục Âu Châu tuyên bố rằng các dân tộc trong toàn lục địa Âu
Châu đă quyết định sống “như là Thiên Chúa không hề hiện hữu”
[42] Ở Nam Mỹ, t́nh trạng cũng không khá hơn. 7000 tín đồ mới có
một linh mục. Chỉ có 15% giáo dân đi xem lễ ngày chủ nhật. Theo
một hội nghị quốc gia của các giám mục Ba Tây th́ mỗi năm có
khoảng sáu trăm ngàn tín đồ bỏ đạo [43].
Âu Châu và nhiều nơi khác trên
thế giới đă trở thành “vô thần”. Đây là một hiện tượng bất khả đảo
ngược v́ nó phù hợp với sự tiến bộ trí thức của nhân loại nằm trong
luật Tiến Hóa của vũ trụ.
T́nh trạng Ki Tô Giáo suy thoái
ở Âu Châu là một nghịch lư, v́ Ki Tô Giáo vẫn tự nhận là một tôn
giáo văn minh tiến bộ nhất, và những xă hội Âu Mỹ hiển nhiên là
những xă hội văn minh tiến bộ nhất. Nghịch lư này cho chúng ta thấy
rơ thực chất của Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô giáo nói riêng. Nghịch
lư trên cũng đưa ra một sự thật: luận điệu của các thừa sai Ca-Tô
khi đến nước ta vào những thế kỷ 17- 19, nói là để văn minh hóa
những dân tộc mọi rợ, điều mà các tín đồ Ca-Tô Việt Nam, kể cả những
người được gọi là trí thức, vẫn tin là như vậy cho đến ngày nay (Xin
đọc Kinh Nhựt Khóa của Công Giáo: “Ông thánh Phan-xi-cô Xa-vi-e
là lịnh rao truyền tiếng đức Chúa Thánh Thần cho những dân mọi rợ.”,
hoặc cuốn “2000 Năm Một Thuở: Chứng Từ Của Một Số Người Công Giáo”
do nhóm Tin Nhà ở Pháp mời gọi một số trí thức Ca Tô viết và xuất
bản năm 2000, tác giả Nguyễn Tiến Cảnh, viết ở trang 44: "Ai cũng
biết hàng giáo sĩ công giáo là lớp người đi tiên phong về văn hóa,
mang văn minh tiến bộ đến các nơi tăm tối lạc hậu"), thật ra chỉ
là những luận điệu huênh hoang ngu đần cuồng tín, mang sự hoang
đường mê tín đến đầu độc đám dân chúng cùng đinh đần độn ở Việt Nam,
nơi đây các tôn giáo Á Đông thực sự đă vượt xa Ki Tô Giáo về mọi
phương diện, điều mà ngày nay thế giới Tây phương đang phải chấp
nhận. Thời gian qua, với sự tiến bộ trí thức không ngừng của nhân
loại, ngày nay bộ mặt thật của Ki Tô Giáo đă bị phơi bầy, và chính ở
trong những cái nôi của Ki Tô Giáo ở phương trời Âu Mỹ, Ki Tô Giáo
đang tuột dốc theo luật đào thải của con người văn minh tiến bộ.
Tại sao trong những xă hội Âu Mỹ
lại xảy ra hiện tượng giải trừ Ki Tô Giáo (de-Christianization) và
người dân lại đang từ từ bỏ Ki Tô Giáo? Chẳng có ǵ là khó hiểu, v́
như là một qui luật thế gian, sự tiến bộ trí thức của con người và
đời sống vật chất thoải mái trong những xă hội này tất nhiên phải
đưa đến t́nh trạng suy thoái của Ki Tô Giáo.
Thật vậy, nữ học giả Ca-tô Joane
H. Meehl, người mà sau khi đă thấy rơ chủ đích và những việc làm của
giáo hội Ca Tô từ thế kỷ 4 tới nay, đă viết trong cuốn "Người Tín
Đồ Ca Tô Tỉnh Ngộ" (The Recovering Catholic), trg. 288, như sau:
"Đạo Ca-Tô chỉ thịnh hành và
phát triển trong đám người nghèo và ngu dốt. Nó chỉ bị khắc phục
bằng giáo dục (mở mang dân trí) và đời sống kinh tế thoải mái"
[44]
Trừ lớp tín đồ thấp kém trong
Ca-Tô Giáo La Mă vẫn tin rằng ḿnh ở trong một “hội thánh”, “tông
truyền”, “thiên khải”, “duy nhất”, “thánh thiện” v..v.., những thuộc
tính tự nhận của giáo hội, thế giới Âu Mỹ tiến bộ ngày nay đă nhận
ra bộ mặt thật của Ca-Tô Giáo La Mă. Tài liệu về bộ mặt thật này,
kết quả nghiên cứu của các chuyên gia về tôn giáo ở trong cũng như ở
ngoài giáo hội, hiện nay có đầy dăy trong các thư viện và tiệm sách
lớn và trên Internet. Giáo hội đă mất đi quyền lực ngăn chận những
tác phẩm này như khi xưa giáo hội đă làm. Dân trí mở mang, sự thật
được phơi bày, và giới chăn chiên trong giáo hội chỉ c̣n có cách
khuyên các con chiên không nên đọc những tác phẩm mà họ quy kết là
“chống Ca-Tô” tuy rằng những tác phẩm này chỉ đưa ra những sự thật
lịch sử về Ca-Tô Giáo, những sự thật mà giới chăn chiên không bao
giờ muốn cho các con chiên của ḿnh biết đến.
Nhưng tiến hóa là một định luật
thiên nhiên, cho nên không có cách nào giáo hội có thể ngăn cản được
những bước tiến trí thức của nhân loại. Do đó sự tiến bộ trí thức
của nhân loại tất nhiên sẽ phải đưa đến sự suy thoái của Ki Tô Giáo
nói chung, Ca Tô Giáo nói riêng, bởi v́ căn bản tín ngưỡng Ki Tô
Giáo đă không c̣n chỗ đứng trước những công cuộc khảo cứu trí thức
về cuốn Thánh Kinh Ki Tô Giáo, về nhân vật Giê-su, về các tín điều
hay huyền thoại trong Ki Tô Giáo, và trước những thành quả của khoa
học ngày nay về nguồn gốc con người và vũ trụ.
Thật là đáng buồn, trong khi đạo
Ca-Tô suy thoái ở Tây Phương như vậy, th́ có lẽ v́ “cái khó nó bó
cái khôn”, nên một số người ở trong những hoàn cảnh khó khăn về kinh
tế ở Đông phương, và thiếu khả năng ở Tây Phương, lại lao đầu vào
ṿng nô lệ tôn giáo, chạy theo một sản phẩm hầu như đă bị phế thải ở
nơi chính nó đă sản xuất ra, nhưng vẫn hănh diện tự khoe rằng ḿnh
đă được “ơn kêu gọi” để che đậy động cơ vật chất đă khiến ḿnh bước
vào nghề linh mục. Chúng ta cũng biết Giáo hội Ca-Tô La Mă đang bị
khủng khoảng về nạn thiếu hụt linh mục nên đă bắt buộc phải hạ thấp
tiêu chuẩn tuyển chọn và đă chọn cả những người Tin Lành có vợ cải
đạo sang Ca-Tô Giáo và những người đă nhiều tuổi. Nhà Nước Việt Nam
nên nắm vững những sự kiện về Ca-Tô Giáo để có thể định ra một đường
hướng ngoại giao thích đáng với Vatican, tuyệt đối không nên để cho
Vatican có cơ hội mang đồ phế thải ở Âu Châu vào làm ô nhiễm đất
nước Việt Nam và có những thái độ trịch thượng coi thường chủ quyền
Việt Nam. Vatican ngày nay chỉ c̣n lớp sơn phết bên ngoài, che dấu
một khối mọt rỗng ở đàng sau, nhưng luôn luôn vẫn dùng lớp sơn phết
này với hậu thuẫn của đám tín đồ thấp kém cuồng tín để ḷe thiên hạ
và đẩy mạnh những mưu toan bành trướng của ḿnh nơi miền đất mới: Á
Châu.
Thực ra, kết hợp Vô Thần với Cộng
Sản là một thủ đoạn tuyên truyền xuyên tạc xảo quyệt mà Ki Tô Giáo
nói chung, đặc biệt là đạo Ca-Tô La Mă, dùng để gây hận thù tôn
giáo, mê hoặc đám tín đồ thấp kém mê tín và cuồng tín, trong sách
lược chống Cộng trước đây. Marx đă nhân danh vị thần theo định nghĩa
của Ki-Tô Giáo để bác bỏ vai tṛ của thần trong xă hội loài người.
Điều này đưa đến sự suy sụp về ư thức hệ của Ki-Tô Giáo kéo theo sự
suy sụp của nguồn lợi kinh tế mà Giáo hội có thể vơ vét được từ
những sự đóng góp của đám tín đồ cuồng tín, có đầu mà không có óc,
tin tưởng rằng ḿnh đă đóng tiền “để cho đức Thánh Cha làm việc
thiện”. Do đó, không lạ ǵ, Ca-Tô Giáo La Mă hận Cộng Sản đến thấu
xương, và chủ trương phải tiêu diệt người em Cộng Sản sinh sau, học
bài học từ Cựu Ước: khi xưa Cain đă từng giết tốt người em Abel.
Cho nên, chính quyền Việt Nam không
nên mơ mộng tin vào những lời đường mật hứa hẹn của Vatican về bất
cứ vấn đề ǵ. Sách lược đối ngoại của Vatican luôn luôn là có lá
mặt lá trái, thả con săn sắt bắt con cá rô. Toán học Vatican chỉ
có dấu cộng dựa theo dấu thập ác chứ không có dấu trừ. Khi ở
thế yếu th́ Vatican nhũn như con chi chi, hợp tác với bất cứ thế
lực, chủ thuyết nào, bất kể là độc tài tàn bạo như thế nào, thí dụ
như Phát Xít Đức, Ư, Tây Ban Nha, Croatia v..v.., miễn là có thể duy
tŕ được quyền lợi và mưu đồ thống trị thế giới bằng đạo Ca-Tô của
Vatican. Khi ở thế mạnh th́ Vatican sẽ không khoan nhượng và không
ngần ngại dùng mọi thủ đoạn để tiêu diệt đối phương. Đối với
Vatican, Cộng Sản luôn luôn là kẻ thù truyền kiếp. Lời lên án Cộng
Sản Vô Thần của Bê-nê-đít-to XVI gần đây chỉ có mục đích hồi phục và
mở đầu cho một chiến dịch chống Cộng mới mà thôi. Bê-nê-đít-to XVI
lên án Cộng Sản Vô Thần nhưng thế giới chưa hề quên lịch sử Ca-Tô
Giáo La Mă là một lịch sử ô nhục đẫm máu nhất trên thế gian, với
hàng trăm triệu xác người vô tội, từ già tới trẻ, đè trên bờ vai của
Giáo hội Ca-Tô khiến cho Giáo hoàng John Paul II đă phải lên tiếng
đăi bôi xưng thú 7 núi tội lỗi của giáo hội đối với thế giới.
Do đó, tin rằng Vatican thật t́nh
muốn giúp Việt Nam, một nước Phật Giáo, hiện đảng Cộng Sản đang cầm
quyền, với những hứa hẹn bất cứ về vật chất hay về cái ǵ khác, th́
thật là ngây thơ hết chỗ nói. Vatican có tất cả những ṿi của một
con bạch tuộc (Octopus Dei) và có thể ôm chặt và nghiền nát cả một
quốc gia. Lịch sử Ca-Tô Giáo, hơn ǵ hết, đă chứng tỏ như vậy. Rất
có thể Giáo hội Ca Tô tại Việt Nam, tung hỏa mù về thế lực giả tạo
của Vatican, chịu khó bỏ tiền ra mua chuộc cán bộ nhà nước, cộng với
áp lực của Mỹ, sẽ áp dụng chính sách dùng “củ cà rốt và cây gậy” ở
Việt Nam, để Nhà Nước phải nhượng bộ ít điều liên quan đến quyền lực
của Vatican, tin rằng như vậy chứng tỏ là đă tiến bộ về vấn đề Tự Do
Tôn Giáo trước thế giới, thỏa măn yêu cầu của Mỹ, và do đó sẽ có lợi
cho Việt Nam. Thật đáng tiếc, Nhà Nước đă không đánh giá đúng mức
thực lực của Vatican trên thế giới cho nên đă có những nhượng bộ đối
với Vatican không cần thiết. Nhà Nước cần phải hiểu sách lược của
Vatican là “được đàng chân, lân đàng đầu” và như vậy Nhà Nước sẽ c̣n
phải tiếp tục nhượng bộ nhiều hơn nữa. Bài này hi vọng có thể giúp
Nhà Nước nhận ra thực chất của Vatican và ngưng những nhượng bộ khác
mà thực sự không cần thiết.
Vatican không ngừng t́m cách, nhất
là sách lược tạm thời “khom ḿnh để chinh phục” (stoop to
conquer), để tái diễn tấn tuồng Ba Lan ở Việt Nam. Sự ngoan ngoăn
của các tín đồ Ca-Tô Việt Nam đối với Chính Quyền Việt Nam hiện nay,
đồng thời đẩy mạnh bộ mặt thánh thiện từ thiện giáo dục xă hội để
tạo uy tín, len lỏi vào những cơ quan công quyền, mua chuộc nhân sự
v..v.. đều nằm trong sách lược này. Nhưng ở hải ngoại, Ca-Tô Giáo
và những tay sai không ngừng dùng mọi thủ đoạn, kể cả bịa đặt, xuyên
tạc lắt léo để chống Cộng và họ đă từng lên tiếng gợi ư van xin Giáo
Hoàng John Paul II: “Cha đă tiên phong góp phần giải phóng quê
hương Cha [Ba Lan], và tiếp đến sẽ là quê hương chúng con [Việt
Nam].” [Xin đọc cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng,
Thăng Tiến, 1995, trang 11]. Cái nguy hại của Ca-Tô Giáo không phải
là ở chỗ tin nhảm tin nhí vào một vị thần của Do Thái, mà là họ
không chấp nhận bất cứ một đạo nào khác ngoài đạo của họ, và khi có
quyền lực hay có cơ hội họ sẽ không ngần ngại dùng mọi thủ đoạn, bất
kể là vô đạo đức và tàn nhẫn như thế nào, để cưỡng bách người ngoại
đạo theo đạo của họ, phải tin theo những điều nhảm nhí của họ, phải
tuân theo những tiêu chuẩn mà họ cho là đạo đức, và nhất là, phải
tuân phục Vatican không điều kiện. Lịch sử Ca-Tô Giáo trên thế giới
đă chứng minh như vậy. Và những sự kiện lịch sử về một số chính
quyền Ca-Tô trong thế kỷ 20, Pavelic ở Croatia, Franco ở Tây Ban
Nha, Ngô Đ́nh Diệm ở Nam Việt Nam là những bằng chứng rơ ràng hơn ǵ
hết.
Có thể có độc giả cho rằng tôi đă
viết quá dài ḍng, ra ngoài chủ đề bang giao với Vatican. Không hẳn
vậy, tôi thấy thực sự cần thiết phải đóng góp phần nào, cung cấp
giúp cho Nhà Nước Việt Nam một số thông tin, và đây chưa thể gọi là
đủ đâu, về bộ mặt thật và thế lực thực sự của Ca-Tô Giáo La Mă để
Nhà Nước Việt Nam sửa soạn con đường đi đến bang giao với Vatican.
Con Đường Bang Giao
Vài nét đơn sơ về Vatican và đạo Ca
Tô La Mă ở trên hi vọng có thế giúp chính quyền Việt Nam phần nào
trong sách lược ngoại giao đối với Vatican. Như trên đă nói, việc
bang giao với Vatican không thành vấn đề, nhưng gồm có hai mặt: mặt
thế tục và mặt tôn giáo. Về mặt thế tục, Vatican như là một quốc
gia nhỏ với dân số ở Vatican vào khoảng một ngàn người, không mang
ǵ đến được cho Việt Nam. Vatican rất giầu về tiền bạc nhưng như
trên đă nói, toán học Vatican chỉ có dấu cộng chứ không có dấu trừ.
Bất cứ ở địa hạt nào, nếu không có lời, Vatican không bao giờ bỏ vốn
ra, nhất là cho không. Bởi vậy tài sản của Vatican ngày nay đă lên
tới trên ngàn tỷ đô-la. Thật vậy, Nino Lo Bello viết trong cuốn
Đế Quốc Vatican (The Vatican Empire), trang 153-154: “Đối
với người Ư, đặc biệt là những người sống ở Rome, Vatican nổi tiếng
là “rẻ tiền”, “thắt chặt hầu bao”, “keo kiệt”. Chẳng cần phải gợi
ư, người thường ở ngoài đường phố có thể nói với bạn : “Vatican thu
vào nhưng chẳng cho ai đồng nào” [45]. Cho nên, chúng ta phải
hiểu rằng, khi Vatican bỏ tiền ra là luôn luôn có mưu đồ đàng sau.
Vatican đă bỏ ra hàng trăm triệu đô-la vào Ba Lan để lật đổ Cộng Sản
ở Ba Lan. Khi cần, Vatican có thể “bóc lột tiền của kẻ nghèo để
trả kẻ giầu” (Rob Peter to pay Paul). Ḍng “Thừa sai Bác Ái”
của bà Teresa đă kiếm cho Giáo hội bao nhiêu triệu để trong các ngân
hàng là một thí dụ điển h́nh. Giáo hoàng tới thăm đâu, giáo hội địa
phương phải trang trải phí tổn cho chuyến “thăm giáo dân” của Ngài.
Mỹ đă tốn trên 2 triệu đô-la cho một chuyến thăm Mỹ của John Paul II
trước đây.
Tin vào sự viện trợ của Vatican hay
bất cứ hứa hẹn vật chất nào của Vatican là chỉ thấy cái lợi trước
mắt mà quên cái hại sau lưng. Chính sách của Vatican đă rơ rệt từ
muôn đời: bỏ ra một, lấy lại 10 hay nhiều hơn. Họ dùng bả vật chất
để chiêu dụ tín đồ, một khi tín đồ đă bị mê hoặc bởi một cái bánh vẽ
trên trời rồi th́ sẽ suốt đời t́nh nguyện đóng góp cho Giáo hội dù
có nghèo đến đâu, quy luật của giáo hội là phải đóng 10% lợi tức. Ở
Âu Châu trước đây, Giáo hội thu tiền của cả những người cùi, ăn mày,
gái điếm và người chết như Avro Manhattan đă viết trong cuốn The
Vatican Billions. Bất cứ ở đâu có chính quyền Ca-Tô là tài sản
quốc gia được vơ vét cho Vatican và cho giáo hội địa phương. Những
sự kiện lịch sử ở một số nước Phi Châu, Nam Mỹ và ở Nam Việt Nam
dưới chính quyền Ngô Đ́nh Diệm là những bằng chứng bất khả phủ bác.
Đổi Thánh Kinh lấy tài sản là sách lược cố hữu của Ca Tô Giáo La Mă.
Họ mang cuốn Kinh T |