|
CHÂN DUNG “LĂNH TỤ ANH MINH”
LTS – Đính kèm
bài này là một điện thư ngày
21/12/05: “Merry
Christmas & Happy New Year. Đính kèm là một tiểu sử mới nhất, và có
lẽ đầy đủ nhất, về Ngô Đ́nh Diệm sau chuyến làm việc của tôi tại thư
viện TT Nixon [Oct 04] và một số tài liệu ở Việt Nam [05].
Houston bỗng dưng lạnh quá trời. Lại được tin hai người bạn học cũ
mới từ trần. Anh em ḿnh rồi cũng từng người, từng người “vèo trong
lá rụng đầy sân; công danh phù thế có ngần ấy thôi.” Nhưng cũng phải
“tận kỳ lực” thôi. Cứ viết lại và phổ biến những sự thực sử học cho
mọi người biết. Đọc hay không, suy nghĩ ǵ, là việc của thiên hạ,
vượt ngoài tầm tay ḿnh. Chúc các bạn ai vui. Thân qúi. Chính Đạo.”
Đồng
thời với điện thư của Chính Đạo là một điện thư của Phan Nhật Nam
thông báo tiếng sáo của Nguyễn đ́nh Nghĩa cũng vừa ĺa bỏ trần gian
trở về Thiên Thai hạc nội mây ngàn. Bao giờ th́ nước Việt hôm nay
lại sản xuất được một tài hoa Nguyễn Đ́nh Nghĩa thứ hai? Kính mừng
anh linh Nguyễn Đ́nh
Nghĩa
và hai bằng hữu của Chính Đạo đă “trang trắng vỗ tay” chuyển nghiệp
và thành kính phân ưu cùng thân quyến của những người vừa ra đi và
với Chính Đạo cùng Phan Nhật Nam.
BBT
Chuyển Luân thông báo, kết toán số độc giả ghé thăm trang nhà Chuyển
Luân tháng 12/2005, hai bài được bạn đọc chiếu cố nhất là bài Cuộc
Truất Phế Bảo Đại của Chính Đạo và bài Kịp Chuyến Đ̣ của Tâm Đàn.
Cung hỉ!
Trên
hành tŕnh Giải Hoặc chúng tôi đă gặp được một bạn đồng hành quư
báu. Sự thật mất ḷng, có thể có người buồn Chính Đạo. Gió thổi mưa
bay, mặc gió mưa, người bộ hành vẫn tiến bước với sử mệnh ôm ấp. Đọc
điện thư dẫn thượng, hy vọng những người đó hẳn sẽ hiểu Chính Đạo và
sử mệnh mà Chính Đạo ôm ấp. Như hiểu một Kẻ Sĩ tri thiên mệnh.
Đời
là một cuộc chơi, vạn bất đắc dĩ có để lại ǵ th́ đó phải là những
“của tin”. Lịch sử Việt Nam trăm năm qua, và nhất là từ hơn 50 năm
qua, thật có nhiều điều đáng nói. Trong kho tàng sử học Việt Nam
hiện đại, một trong những tiếng nói hiếm hoi, chân thực và can đảm
đó là của Chính Đạo Vũ Ngự Chiêu.
Sơ Lược Tiểu Sử
JEAN BAPTISTE NGÔ Đ̀NH
DIỆM (1897-1963):
THỜI KỲ CHƯA NẮM QUYỀN,
1897-1954
Chính Đạo
Ngày
25/4/1961, Tướng Edward G.
Lansdale–người
được coi như hiểu biết rất rơ Việt Nam Cộng Ḥa [VNCH]–viết báo cáo
lên Thứ trưởng Quốc pḥng Roswell L. Gilpatric, Chủ tịch Ủy Ban Đặc
Nhiệm Việt Nam (Presidential Task Force on Vietnam), về “No Din
Zee’em” (Ngô Đ́nh Diệm) như sau:
Ông ta
lùn, mập tṛn. . . Nhiều người không chú ư đến cặp mắt đen hay liếc
trộm [snapping] của ông ta mà chỉ chú ư đến cặp gị vừa đủ chạm mặt
đất khi ngồi. Tuy nhiên, ông ta không cảm thấy ngượng ngùng về
chuyện lùn, và có vẻ rất tự nhiên chung quanh những người Mỹ cao
lớn. . . .
Ông ta tỏ vẻ ăn uống ngon
lành (và thường có sở thích ăn ngon). Nụ cười của ông ta có vẻ e dè
và bất thường. . . . Diệm sinh ngày 3/1/1901. . . Năm 25 tuổi
[1926], Diệm đă được cử làm quan đầu tỉnh. Nhưng sau “sáu tháng làm
Thượng thư” Diệm từ chức, trở thành “người hùng thực sự của người
Việt.” Từ đó, anh em Diệm “âm thầm chống cả Pháp lẫn Cộng Sản.” Diệm
là một người độc thân 60 tuổi, “đă cắt bỏ mối t́nh với người yêu đầu
đời để dâng hiến cho tổ quốc.”( 1)
Thực
ra, Lansdale dường không muốn viết rơ, hoặc không biết nhiều về Tổng
thống Diệm cũng như họ Ngô. Hầu hết chi tiết về hộ tịch Diệm hay
thành tích chống Pháp của Diệm và gia đ́nh Ngô Đ́nh Khả, đều thiếu
chính xác.
Tập
tiểu sử Ngô Đ́nh Diệm do cơ quan an ninh Mỹ biên soạn ngày
18/4/1957, nhân dịp Diệm sắp qua thăm Mỹ cũng không đầy đủ, dù có
những nhận xét khá chính xác về con người đang được đánh bóng lên
thành “người của phép lạ”:
Ngô
Đ́nh Diệm là một người lùn, mập, vóc dáng không có ǵ hấp dẫn, trông
có vẻ trẻ hơn tuổi thực. Thường thường ông ta chỉ hành động sau khi
suy nghĩ chậm răi và thận trọng, dù ông ta có khả năng hành động
nhanh, quyết liệt nếu t́nh thế đ̣i hỏi....
Ông ta
là người sống bằng nội tâm [introverted], cô đơn. Dù ông ta ấm áp
khi thấy có người hiểu ḿnh, ông ta thường dè dặt và xấu hổ trước
người lạ, nhất là đàn bà, mà sự hiện diện thường khiến ông ta thiếu
thoải mái. Tuy nhiên, ông ta là người có ư niệm ḿnh được giao phó
một sứ mệnh thiêng liêng. Ông ta nói rằng từ tuổi 14 đă có ư nghĩ
một ngày sẽ lănh đạo dân chúng của ông ta, và với sự định kiến
[singlemindness] cuồng tín, ông ta chuẩn bị để sẵn sàng gánh trách
nhiệm. Trong khi được nể phục v́ quyết tâm này, ông ta bị chỉ trích
v́ ḷng tự tôn [egoism] và sự ràng buộc vô giới hạn với ḷng
trung thành cá nhân trong chính phủ, một khuynh hướng khiến ông ta
mất đi sự hợp tác của những người có khả năng đă v́ lư do nào đó bị
ông ta không ưa. Ông ta có thể vừa cứng đầu vừa tàn ác khi theo đuổi
và thực thi những chính sách mà ông ta đă quyết định, và khi cơn
giận dữ nổi lên ngay cả các phần tử trong gia đ́nh cũng phải sợ hăi.
Một tín đồ Ki-tô Vatican ngoan đạo, ông ta sống độc thân và đời tư
kỷ luật, đạm bạc. Sự lương thiện và phẩm hạnh của ông ta khó chối
căi và ông ta can đảm cao độ, dù cuộc mưu sát mới đây [đầu năm 1957
tại Ban Mê Thuột] khiến ông ta bắt đầu lo lắng đến sự an nguy bản
thân hơn trước đây. (2)
Các
học giả thế giới cũng chẳng bận tâm đến việc tu chỉnh lại tiểu sử
người cầm đầu phe thua cuộc. Khối thông tin về Ngô Đ́nh Diệm trong
thập niên 1950-1960 tiếp tục được lưu truyền–theo kiểu Bernard B.
Fall, một học giả gốc Pháp viết khá nhiều về Việt Nam và chết tại
Việt Nam, như Ngô Đ́nh Khả là “Thượng thư Bộ Lễ” sau khi từ chức đă
cắt mọi liên lạc “với những kẻ xâm lăng đáng ghét,” “ủng hộ Phan Bội
Châu,” và truyền xuống cho các con như Khôi và Diệm một tinh thần
quốc gia nồng nhiệt;” hay lời nhận xét vơ đoán, “Sự kiện Bảo Đại là
người kế thừa của các hoàng đế yếu ớt trong việc chống lại Pháp cũng
có thể gây ra sự khinh thường ông ta trong
Diệm”
[The fact that Bao Dai was the descendant of emperors who had been
weak in their resistance to the French may also account for Diem’s
contempt for him]. Thực ra, từ thời Đồng Khánh (1885-1889), các vua
nhà Nguyễn do Khâm sứ và Toàn quyền Pháp
lập nên, và chỉ c̣n công dụng của “một ṿng hoa,” để hợp thức hóa
chế độ “Bảo hộ”. Quan lại th́ được tuyển từ giới trung gian bản xứ
mà đa số là giáo dân Ki-tô hay cựu bồi bếp, thông ngôn của viên
chức, sĩ quan Pháp. Thành phần “tân trào” này hiểu rất rơ vị thế
“chậu kiểng” của các vua Nguyễn. Ngoài ra, Ngô Đ́nh Khả liên hệ thân
thiết với Thành Thái (1889-1907), và từng nuôi tham vọng biến Thành
Thái thành một vua Ki-tô giáo đầu tiên. Sự khinh thường pḥng Khải
Định (1916-1925) và Bảo Đại (1926-1945) là điều dễ hiểu. Ngoài ra,
Diệm không ưa Bảo Đại v́ đă hai lần kư Dụ đầy Diệm ra Quảng B́nh.
(3)
Đáng
buồn hơn nữa, lịch sử Việt Nam, dưới mắt nhiều học giả thế giới, chỉ
là một thứ câu chuyện thêm thắt vào
[anecdotes] chính
sách và sự can thiệp của các cường quốc như Mỹ, Nga, Trung Hoa,
Pháp, Bri-tên, Nhật, v.. v... Người Việt cũng có lư do riêng để
không muốn thấy có một tiểu sử chính xác về Ngô Đ́nh Diệm, từ chính
trị, tôn giáo, tới ư thức hệ. Nên chẳng ngạc nhiên khi khối văn
chương hiện hữu về họ Ngô hay Đệ nhất Việt Nam Cộng Ḥa tràn ngập
những
lời “cung
văn” hoặc “đào mộ,” bất chấp sự thực.
Bài
viết này nhằm điền vào khoảng trống nói trên. Tư liệu chúng tôi sử
dụng cơ bản là tập tiểu sử chính phủ Diệm do cơ quan an ninh Pháp
thành lập vào tháng 7/1954, hiện vẫn c̣n chưa giải mật. Ngoài ra,
c̣n nhiều tư liệu văn khố Pháp, Mỹ, Nga, Trung Hoa, cùng các tài
liệu nguyên bản khác.
I. SƠ LƯỢC GIA THẾ:
Ngô Đ́nh Diệm,
ngoài tên “thánh” Jean-Baptiste [Gioan Bao-xi-ta], c̣n có bí danh
Nguyễn Bá Chinh. Theo an ninh Pháp, Diệm sinh ngày 27/7/1897 tại Đại
Phong [Phuong] hay Đại Phong Lộc, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng B́nh.(4)
Cha là Ngô Đ́nh
Khả (1856-1914), “mẹ” là Phạm Thị Thân. Khả là một tín đồ Ki-tô tân
ṭng, xuất thân thông ngôn cho quan chức Pháp trong thời kỳ Cần
vương chống Pháp, sau đổi qua ngạch quan lại Việt, lên tới Đề đốc
Kinh thành (1905-1907).(
5)
Anh em Ngô Đ́nh Diệm
khá đông, gồm sáu trai, hai gái. Khôi, con vợ lớn, là anh cả. Diệm,
theo lời đồn, đứng hàng em của Khôi, Thục, và anh Ngô Thị Hiệp (bà
Cả Lễ, cHồng là Nguyễn Văn Ấm, sinh ra cố Hồng y Nguyễn Văn Thuận),
dù tuổi “chính thức” Diệm lớn hơn Thục hơn hai tháng. Dưới Diệm có
Nhu, Cẩn, Luyện, cùng một người em gái khác. V́ Khả chết khi Diệm
c̣n nhỏ (17 tuổi khai sinh), Khôi quyền huynh thế phụ. Khôi chết,
Thục có ảnh hưởng nhất trên Diệm, với cương vị một Giám mục.
Cha đỡ đầu là
Nguyễn Hữu Bài (1863-1935), nhạc phụ Khôi, một thủ hạ cũ của Khả,
cũng một Thượng thư uy quyền và đầy mưu mô tại Huế từ 1907 tới 1933.
Theo tài liệu Pháp, Bài đă nuôi dưỡng Diệm từ nhỏ. Bài cũng có ư
định chọn Diệm làm con rể, nhưng v́ lư do nào đó không thành. Con
gái Bài sau đi tu ḍng kín Carmel.(
6)
Sau ngày lên cầm
quyền, Diệm đổi ngày sinh thành 3/1/1901. Chẳng hiểu tại sao có việc
“thay đổi” hộ tịch trên. Việc thay tên, đổi họ và ngày sinh tháng đẻ
là việc thường xảy ra ở Việt Nam. Trước hết, vào cuối thế kỷ XIX,
đầu thế kỷ XX, việc khai hộ tịch không được kiểm soát chặt chẽ. Viên
chức xă ấp tại thôn quê không đặt nặng sự chính xác về ngày sinh của
trẻ em. Cha mẹ nhiều khi khai rút tuổi con cái v́ mục đích nào đó,
như đi học hay khai sưu thuế. Hơn nữa, việc đổi từ ngày nhật (dương)
lịch qua nguyệt (âm) lịch rất phức tạp, đôi khi cha mẹ dùng ngày
tháng sinh nguyệt lịch làm ngày tháng nhật lịch, rồi dùng năm nhật
lịch tương đương trong khai sinh. Thông thường, cha mẹ hay khai rút
tuổi các con. Nhưng rất hiếm trường hợp cha mẹ khai con ḿnh tăng
thêm ba bốn tuổi, ngoại trừ có biệt lệ nào đó. Phải chăng Diệm rơi
vào trường hợp đặc biệt này, v́ nếu sinh năm 1901, Diệm không thể
nào được tập ấm chức Cửu phẩm và làm việc tại Tân Thư
Viện Huế năm 1917, khi mới 16 tuổi.(
7)
Theo Luyện, em
út trong gia đ́nh họ Ngô, Diệm đă khai tăng bốn tuổi (tức từ 16 lên
20 tuổi) để có thể vào trường Hậu Bổ. Điều này khó tin, v́ măi tới
năm 1918-1919, Diệm mới học trường Hậu bổ.(
8)
Luyện cũng là
nhân chứng không đáng tin cậy. Thí dụ như khi được hỏi về vai tṛ
chính trị của Luyện, Luyện nói được lệnh “đứng ngoài chính trị.”
Thực tế, từ thập niên 1940, Luyện đă hoạt động với các tổ chức thân
Nhật, và năm 1953-1954 trở thành đặc sứ của Diệm với Bảo Đại, trước
khi nắm chức Đại sứ tại London. Luyện cũng tung ra những tin đồn về
giao t́nh giữa Luyện và Bảo Đại, mà theo Bảo Đại không hề có.(
9) Và, như đă lược nhắc, Diệm
được tập ấm chức Cửu phẩm, làm việc tại Tân Thư Viện Huế từ năm
1917, trước khi vào trường Hậu Bổ.
Một kư giả ngoại
quốc, Robert Sharplen, ghi rằng theo Diệm, khoảng năm 1915-1916,
Diệm đă man khai
[falsified]
hộ tịch để dự thi bằng tương đương
tốt nghiệp trung học.(
10) Chi tiết này có vài chi
tiết không sát sự thực. Măi tới giữa thập niên 1920, mới có những
cuộc thi lấy bằng Tú Tài I và II chương tŕnh Pháp-Nam. Bằng cấp mà
Diệm thi tương đương chỉ là Cao đẳng tiểu học (Diplôme), gần tương
đương với bằng Trung học phổ thông đệ nhất cấp. Tài liệu thành văn
cũng chứng minh Diệm đă vào quan trường từ năm 1916 hoặc 1917, với
chức cửu phẩm tập ấm tại Tân Thư viện, mà không phải sau khi đă đậu
đầu trường Luật Hà Nội năm 1921 như Diệm khoa trương hay Sharplen
ghi. Thực tế, Diệm vào trường Hậu bổ từ niên khóa 1918-1919, và chỉ
học tại Hà Nội một niên khóa 1920-1921.
Một động lực
trong việc sửa đổi hộ tịch từ năm 1897 xuống 1901 có lẽ là để hợp
thức hóa vai “em” của Diệm với Giám Mục Thục–Thục sinh ngày
6/10/1897 tại Phước Quả, Thừa Thiên, thua Diệm hơn hai tháng.
Nhưng cũng có thể, và điều này cần được tra cứu thêm, Diệm không man
khai hộ tịch, mà rất đơn giản là không cùng mẹ (Phạm Thị Thân) với
anh chị em khác. Có lẽ v́ muốn che đậy bí ẩn này, tiểu sử Khôi và
Thục trong tập Vua chúa và người quí phái Đông Dương [Souverains et
Notabilités] năm 1943 không ghi ngày sinh.(
11)
Tài liệu văn khố
Pháp cũng ghi Diệm sinh tại Đại Phong Lộc, Lệ Thủy, Quảng B́nh, mà
không phải Phước Quả, Thừa Thiên, giống như Thục, Nhu, Cẩn, Luyện,
v.. v... Địa danh “Đại Phong Lộc” từng được khai là nơi sinh của
Khôi, anh cả trong gia đ́nh, con Khả và người vợ lớn đă chết sớm,
trước khi Khả lấy bà kế thất tên Thân.(
12)
Rất ít chi tiết
về học vấn Diệm được công bố. Có tin Diệm tự học ở nhà, rồi vào
trường Pellerin ở Huế, và tốt nghiệp Diplôme. Diệm biết cả chữ Nho [Hán
Việt]. Lại có tin Diệm học ở chủng viện, năm 1915, định đi tu, nhưng
sau đó bỏ dở nửa chừng.(
13) Bởi thế, nhiều tài liệu cho
rằng Diệm thuộc loại “religious fanatic” [cuồng đạo] hay “a devout
Catholic” [ngoan đạo].
(14)
II. “BÁT CƠM” BẢO
HỘ PHÁP:
Trong nỗ lực
biến hóa Ngô Đ́nh Diệm thành một “lănh tụ anh minh,” “cứu tinh của
những người Việt chống Cộng,” đủ sức đương đầu với Hồ Chí Minh–kiểu
“ăn Ngô th́ no, ăn HCM th́ đói”–cơ quan tuyên truyền Mỹ và Nam Việt
Nam tô chuốt cho Diệm những bảng hiệu như “yêu nước, chống Pháp,”
v.. v... “Yêu nước” là một nhận xét khó lượng định, v́ chỉ có mỗi cá
nhân mới tự biết rơ ḿnh yêu nước hay không. Có nhiều cách
biểu lộ ḷng yêu nước, nên khó thể sử dụng một hệ thống lượng giá cố
định. Tấm huy chương nào cũng có mặt trái của nó. “Chống Pháp” th́
dễ lượng định hơn. Tinh thần chống Pháp của Diệm, hay họ Ngô, chỉ là
những triển biến vào khoảng cuối đời, và động lực không hẳn do ḷng
yêu nước thuần túy, mà nặng về tôn giáo cùng quyền lợi bản thân và
ḍng họ. Thực ra, Diệm xuất thân từ một gia đ́nh trung gian bản xứ
Ki-tô, hai đời phục vụ Bảo hộ Pháp rất tận tụy. Khả, cha Diệm, từng
lên tới chức chánh thông ngôn ṭa Khâm sứ Huế dưới thời Pierre
Rheinart des Essarts, rồi chuyển sang làm thương biện Viện Cơ Mật.
Ngày 10/4/1892 Khả dịch công văn của triều Huế xin Toàn quyền Jean
de Lanessan đừng gửi ra Huế những người như Petrus [Key], Nguyễn
Trọng Tạo, Lê Duy Hinh, hay Diệp Văn Cương, v.. v... Khả cũng tham
dự chiến dịch đánh phá phong trào kháng Pháp tại Hà Tĩnh-Quảng B́nh
của Ngự sử Phan Đ́nh Phùng (1847-1895) trong hai năm 1895-1896, và
được đặc cách lên Thái thường tự khanh (Chánh tam phẩm) năm 1896,
sau khi hài cốt Ngự sử Phùng bị đốt thành tro, ném xuống sông Lam
“theo [lối trừng phạt] truyền thống.”(
15)
Sau một thời
gian làm Phó Giám đốc trường Quốc Học Huế, đặc trách nhà cửa, lương
bổng và hành chính, Khả được chức Đề đốc kinh thành, lo bảo vệ và
kiểm soát Thành Thái (1889-1907), cầm đầu một toán thân binh cạo
răng trắng, hớt tóc ngắn, mang súng trường, nhưng nhiệm vụ chính yếu–nếu
tin được báo cáo của Hiến binh Pháp–chỉ để giúp vua lùng sục và bắt
cóc gái đẹp quanh kinh thành. Sau khi bị ép về hưu, Khả được hàm
Thượng thư.(
16)
Khôi, anh cả họ Ngô,
bắt đầu “tham chánh” năm 1910, sau khi tốt nghiệp trường Hậu bổ.
Khoảng 6 năm đầu, Khôi làm tại văn pḥng Bộ Công do cha vợ làm
Thượng thư. Sau ngày tiếp tay cho Khải Định (1916-1925) lên ngôi,
Bài được thăng Thượng thư Bộ Lại, và Khôi bắt đầu đi ngồi huyện, phủ,
rồi lên tới Bố chính, Tuần vũ, Tổng đốc khá nhanh.
Diệm th́ năm 1916-1917
được tập ấm chức Cửu phẩm, làm việc tại Tân thư viện Huế (tức Musée
Khải Định sau này), nơi đặt trụ sở Hội Bạn của Cố đô Huế, và có bài
đăng báo Bulletin des Amis de Vieux Hué [Đô thành hiếu cổ]. Năm
1918-1919, Diệm vào trường Hậu bổ Huế. Người đỡ đầu có lẽ là Nguyễn
Đ́nh Ḥe, một phụ tá cũ của Khả trong chiến dịch truy giết Ngự sử
Phùng, lúc đó đang làm Giám đốc trường (năm 1921 giữ chức Tổng thư
kư Viện Cơ Mật). Thời gian này, triều đ́nh đă bỏ lối thi Hương và
thi Hội cũ, và trường Hậu bổ mở thêm phân khoa “pháp chính” [hành
chính và luật] của Đại học Hà Nội. Học viên học tại Huế hai năm đầu,
và năm thứ ba phải ra Hà Nội. Có lẽ Diệm được chuyển qua chương
tŕnh này.
Tốt nghiệp, nhờ
sự nâng đỡ của Thượng thư Bài, năm 1922 Diệm được bổ nhậm ngay. Năm
1929 [1926?], Diệm lên tới chức đầu tỉnh, Quản đạo Ninh Thuận (Phan
Rang), rồi Tuần Vũ B́nh Thuận (Phan Thiết). Được cấp trên đặc biệt
chú ư v́ thanh liêm và tinh thần diệt Cộng cao. Một nhân chứng ghi
nhận rằng Diệm, khi làm quản đạo Ninh Thuận, ngoài những ngón tra
tấn quen thuộc như tra điện, ḱm kẹp, c̣n bắt tù nhân Cộng Sản vuốt
lạt tre, hay dùng đèn cầy [nến] đốt hậu môn để lấy khẩu cung. Ít
nhất 7 trong số 500 tù nhân Cộng Sản bị tra tấn đến chết.(
17)
Tài liệu Bộ
Ngoại Giao Mỹ ghi Diệm tốt nghiệp thủ khoa năm 1921; khi làm quan
đầu tỉnh ở Quảng Trị năm 1930-1931, Diệm dùng những “thủ đoạn nghiêm
khắc” để đàn áp những người nổi dậy do Cộng Sản lănh đạo, v́ thế tạo
mối thù hận trong giới tả phái.
(18)
Có lẽ v́ thế, theo
Giám Mục Thục, Cộng Sản đă thuê một sát thủ ra tận Phan Rang mưu sát
Diệm, nhưng Diệm chỉ bị thương. Lá thư riêng gửi Toàn quyền Jean
Decoux ngày 21/8/1944 tóm lược rơ ràng nhất công lao và ḷng trung
thành với Bảo hộ Pháp của họ Ngô, cũng như cá nhân Diệm:
Các anh em tôi cũng liên tục dâng
hiến mạng sống họ cho nước Pháp trong dịp Cộng Sản nổi loạn. Diệm,
em tôi, đă ngă xuống v́ những viên đạn súng lục của một người Tàu
Chợ Lớn, được gửi tới Phan Rang, nơi Diệm hăng say ngăn chặn sự xâm
nhập của các cán bộ Cộng Sản từ Nam Kỳ [Mes frères, eux mêmes ont
exposé leur vie continuellement pour la France lors de la révolte
communiste. Mon cadet Diệm a failli tomber sous les coups de
révolver d’un chinois de Cholon, envoyé à cet effet à Phan Rang, où
Diệm défendait énergétiquement l’entrée de l’Annam aux émissaires
communistes envoyées de la Cochinchine]. (19)
Tóm lại, từ Ngô
Đ́nh Khả xuống Khôi, rồi Diệm, tinh thần phục vụ và ḷng trung thành
với Pháp khá vững chắc. Khôi từng nhờ Nhu nói với Tổng Giám Đốc Cảnh
Sát Paul Arnoux ngày 18/8/1944 tại Huế rằng Khôi “xin thề trên thập
tự giá“ rằng lúc nào cũng coi Bảo hộ Pháp như “bát cơm” [bol de riz]
của họ Ngô. Khôi cũng thường nói với Diệm rằng sở dĩ người Pháp
[Khâm sứ Emille Grandjean] không ưa v́ “[họ Ngô] quá toàn vẹn,” và
“Phạm Quỳnh (1892-1945) th́ khôn khéo, nên được cả Pháp lẫn Nhật
quảng cáo tài năng.”(
20)
Dấu mốc quan
trọng trong sự nghiệp “yêu nước, chống Pháp” của Diệm, là cuộc “đảo
chính cung đ́nh” ngày 2/5/1933. Ngày này, Toàn quyền Pierre Pasquier
(12/1928-1/1934) và Quyền Khâm sứ Léon Thibaudeau (2/1933-7/1934)
đột ngột bắt Tổng lư Bài và toàn bộ nội các về hưu. Theo báo Tiếng
Dân, tin trên chấn động dư luận Huế. Bẽ bàng nhất cho Bài là ngay
chính Bài cùng các Thượng thư không hề được báo trước. Và, khi
Thibaudeau tuyên bố danh sách nội các mới, có Trần Thanh Đạt thông
dịch qua tiếng Việt, một số người vẫn chưa kịp về đến kinh đô.(
21)
Nguyên Pasquier,
với sự thỏa thuận của Albert Sarraut, quyết thực hiện một cuộc “đại
cải cách” ở An Nam, đánh bóng uy tín vua Nguyễn để làm giảm bớt và
điều-kiện-hóa các phong trào quốc gia mới–như cuộc khởi nghĩa của
Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1930, và nhất là sự du nhập và phát triển
của phong trào Cộng Sản từ giữa thập niên 1920, bùng nổ thành những
cuộc bạo động, khủng bố tại các đồn điền miền Nam, cùng phong trào
Sô Viết Nghệ Tĩnh trong hai năm 1930-1931. Pasquier và Thibaudeau
đoạn tuyệt với nhóm hợp tác cựu trào (Nguyễn Hữu Bài, Ki-tô giáo).
Nhóm này chủ trương đồng hóa và thống trị theo kế sách của Giám mục
Paul Puginier và Louis Caspar–nhằm Ki-tô hóa các vua quan rồi khiến
toàn thể dân Việt sẽ phải theo đạo, và vĩnh viễn trở thành “bạn của
nước Pháp.” Từ thập niên 1890, nhóm hợp tác cựu trào trở thành một
thứ kiêu binh của cái mà Phạm Quỳnh cũng như Bảo Đại gọi là “một văn
pḥng phụ thuộc nho nhỏ của Ṭa Khâm,” tức triều đ́nh Huế, lúc nào
cũng mang công lao của khối giáo dân bản xứ trong việc thiết lập chế
độ Bảo hộ ra làm áp lực. Ngựa mới của Pasquier là phe tân trào (tiêu
biểu bằng Phạm Quỳnh, Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Thái
Bạt, Lê Dư, v.. v...). Phe này chủ trương hợp tác tinh thành, hay
Pháp-Việt đề huề. Quan chức Pháp đă chọn phe tân trào, v́ chủ trương
hợp tác có nhiều triển vọng thành công trước sự lớn mạnh của các
phong trào quốc gia mới–mà cao điểm là cuộc nổi dậy của Việt Nam
Quốc Dân Đảng năm 1930–và nhất là sự du nhập chủ nghĩa Cộng Sản do
Liên Xô Nga bảo trợ, mối Hồng họa nguy hiểm nhất cho các cường quốc
thực dân Tây phương. Trong khi đó, nhóm Phạm Quỳnh chấp nhận “tôn
quân cũng là yêu nước,” tạm ngưng lại đ̣i hỏi thể chế cộng ḥa.(
22)
Để làm giảm sự
bi phẫn của nhóm cựu trào, Pasquier và Thibaudeau đặc cách Diệm–con
nuôi của Bài [son fils putatif], cũng một trong hai Tuần vũ thanh
liêm, chống Cộng nhiệt t́nh nhất–lên làm Thượng thư Bộ Lại. “Ngôi
sao” thứ hai của Pasquier là Bùi Bằng Đoàn (1890-1955), đặc cách từ
Tuần phủ lên chức Thượng thư Bộ H́nh. Ngày 6/5/1933, năm tân Thượng
thư mới có mặt đầy đủ tại Huế nhân dịp gắn huy chương cho Bài và 4
người khác. Ngày 17/5, Thibaudeau chủ tọa phiên họp Hội đồng Nội các
đầu tiên. Mười ngày sau, 27/5, tân Nội các nhóm họp dưới sự chủ tọa
của Bảo Đại và Pasquier.
(23)
Một số mật báo
viên ghi, và ngay chính Diệm man khai (ngày 24/12/1947 với Tổng lănh
sự Mỹ tại Hong Kong là George D. Hopper) rằng “Giệm” được làm “quan
đầu triều Bảo Đại.”(
24) Thực ra, từ tháng 5/1933,
Bộ Lại mất đi ảnh hưởng của những năm Bài được kiêm nhiệm chức Tổng
lư [Chủ tịch Viện Cơ Mật], và chỉ ngang với các Bộ khác. Người có uy
thế nhất là Phạm Quỳnh, Thượng thư Giáo dục kiêm Ngự tiền Tổng lư
của Bảo Đại. Quỳnh không những chỉ chuyển lệnh của Toàn quyền và
Khâm sứ Pháp cho Bảo Đại, mà c̣n đồng thời dịch, và thiết kế việc
thực thi các lệnh trên, cùng báo cáo kết quả lên Khâm sứ.
Thibaudeau c̣n
cử Diệm làm Tổng Thư kư Ủy ban Cải Cách, và yêu cầu Diệm làm tờ
tŕnh về kế hoạch canh tân Bộ Lại. Diệm, có lẽ do ảnh hưởng của Bài,
đưa ra 2 điều kiện: Phải thống nhất Bắc và Trung Kỳ; tái bổ nhiệm
một Tổng Trú sứ (Résident Général) cho Trung và Bắc Kỳ như đă qui
định trong Hoà ước 6/6/1884; và, cho Viện Dân biểu quyền thảo luận.
Đề nghị này giống hệt kế hoạch của Bài: Muốn cải cách, việc đầu tiên
phải hủy bỏ chức Thống sứ Hà Nội và Khâm sứ Huế (tức tái sát nhập
Bắc Kỳ vào An Nam), sau đó cho An Nam ngân sách riêng. Nói cách
khác, phải trở lại với Hiệp ước 6/6/1884–đ̣i hỏi mà Bài đă gieo
xuống đầu óc thơ dại của Duy Tân từ năm 1915-1916, đưa đến việc vua
bị truất phế rồi đầy qua Réunion cùng cựu hoàng Thành Thái (Bửu Lân)
vào cuối năm 1916. Pasquier, dĩ nhiên, không chấp thuận.(
25)
Ngày 9/7/1933,
Diệm ra Quảng Trị ở với cha nuôi ít ngày. Trở lại Huế, ngày 12/7,
Diệm nạp cho Thibaudeau một bản sao đơn từ chức đă tŕnh lên Bảo
Đại. Lư do Diệm nêu ra là cơ cấu tổ chức hiện tại không phù hợp với
Hiệp ước 6/6/1884–Hiệp ước này qui định Pháp chỉ giữ một chế độ bảo
hộ kiểm soát (protectorat de contrôle) mà không phải bảo hộ trực
tiếp (protectorat direct). Thibaudeau gọi Bảo Đại từ Đà Lạt về Huế
giải quyết. Bảo Đại bảo thẳng Diệm rằng không thể viện dẫn lư do
chính trị để từ chức, v́ đó là hành động phản nghịch. Diệm đành viết
lại đơn từ chức khác ngày 18/7, nêu lư do muốn dành th́ giờ cho việc
tu hành. Lần này, Diệm được toại ư. Ngày 22/7, Thibaudeau đổi Thái
Văn Toản qua thay Diệm nắm bộ Lại, và đưa Tôn Thất Quảng, Tổng đốc
Thanh Hóa, mới lập công lớn trong việc đàn áp đẫm máu tại các tỉnh
Bắc An Nam, lên nắm Bộ Công và Nghi Lễ thay Toản.(
26)
Ngay sau ngày
Bài bị cách chức, vài tờ báo Nam Kỳ công khai đả kích Pasquier. Theo
một mật báo viên (Luật sư Lê Văn Kim), những bài đả kích trên từ Huế
chuyển vào Sài G̣n. Tháng 12/1933, Diệm c̣n vào Sài G̣n gặp Nguyễn
Phan Long, Lê Văn Kim, Jacques Lê Văn Đức v.. v... bàn thảo kế hoạch
trả thù Pasquier và Thibaudeau. Tiếp đó, tờ La Tribune indochinoise
[Diễn đàn Đông Dương] và tờ La Lanterne [ Đèn Lồng] ở Paris mở chiến
dịch đ̣i thay Pasquier bằng cựu Toàn quyền Alexandre Varenne
(7/1925-11/1927) và đưa cựu Khâm sứ Yves Châtel (6/1931-2/1933) trở
lại Huế. Biết được tin này, Pasquier truất hết chức tước của Bài,
Diệm và Pierre Nguyễn Đệ, Bí thư riêng của Bảo Đại, thuộc một gia
đ́nh trung gian bản xứ Ki-tô nổi danh khác ở miền Bắc (Án sát Nguyễn
Liên). Diệm c̣n bị trục xuất khỏi Huế, chỉ định cư trú tại Quảng
B́nh. (27)
May mắn cho
Diệm, ngày 15/1/1934, Pasquier chết v́ tai nạn máy bay trên không
phận Paris. Năm sau, Bài chết tại Quảng Trị. Toàn quyền Eugene René
Robin (7/1934-1/1937) và Khâm sứ Maurice Graffeuil (7/1934-5/1936,
4/1937-8/1941) phục hồi tước vị hàm [honoraire]
cho Bài, Diệm và Đệ. Diệm
được về Huế dạy trường Providence [Thiên hựu] do Linh mục Thục, “anh
trai” Diệm, làm Giám học.(
28)
III. HỢP TÁC VỚI
NHẬT:
Thế chiến thứ
hai (1939-1945) và việc Nhật xâm chiếm Đông Dương từ hai năm
1940-1941 khiến Diệm và họ Ngô, do tham vọng và ư muốn phục thù
Pháp, đi t́m một bát cơm hay thiên mệnh ngoại cường khác. Họ Ngô bí
mật yểm trợ Hoàng thân Cường Để (1882-1951) và từ năm 1942, công
khai hợp tác với Hiến binh Nhật (Kempeitai). Huân, con trai lớn của
Khôi, làm thông ngôn cho Nhật. Trong khi đó, Ngô Đ́nh Nhu
(1910-1963) che chở cho hai con Cường Để, Tráng Đinh và Tráng Liệt,
tại văn khố Ṭa Khâm sứ Huế. Những người thân Diệm cũng làm việc tại
ṭa Lănh sự Nhật từ năm 1942. Đầu năm 1943, Y sĩ Trương Kế An, thủ
lănh Liên Đoàn Ái Quốc Việt Nam, gặp Diệm ở Hà Nội. Pierre Đệ, anh
rể hụt của Nhu, cũng có mặt.(
29)
Trong khi đó, Khôi cho
Diệm dùng dinh thự Tổng đốc Nam-Ngăi của ḿnh để tiếp xúc với những
cá nhân thân Nhật. Khôi c̣n che chở cho tín đồ Cao Đài (đang bị nghi
ngờ thân Nhật, ủng hộ Cường Để) trong vùng cai trị. Mật thám Pháp
cũng t́m thấy trong nhà một người cháu họ của Khôi ở Quảng Nam, Ngô
Đ́nh Dậu (?), tài liệu liên quan đến Việt Nam Phục Quốc Hội của
Cường Để. V́ việc này, Khâm sứ Grandjean (6/1941-8/1944) chẳng những
không HCMi âm thư chúc mừng của Khôi, mà trong buổi gặp mặt trên đèo
Hải Vân, c̣n bắt Khôi về hưu không được hàm Thượng thư. Tháng
1/1944, Grandjean cho lệnh Bảo Đại bí mật trục xuất Diệm khỏi Huế,
chỉ định cư trú ở Quảng B́nh.
Anh em Diệm trút
mọi hờn oán lên Phạm Quỳnh, đương kim Tổng lư [Tể tướng] triều đ́nh.
Nhưng các viên chức Pháp quyết định không ngả theo phe nào, theo
đúng chủ trương chia để trị. Theo an ninh Pháp, “những phần tử trong
họ Ngô, đặc biệt là Khôi, nuôi dưỡng ḷng hận thù ngày một sâu đậm
đối với Phạm Quỳnh người đă thụ hưởng nhiều lợi lộc nhất trong “cuộc
đảo chính ngày 2/5/1933.” Từ một nhà báo, Quỳnh đă trở thành Thượng
thư Bộ Quốc Dân Giáo Dục, rồi thăng lên chức Tổng lư khá nhanh, nắm
giữ tước cao nhất của hệ thống quan lại (Tứ trụ triều đ́nh) năm
1944. Từ từ theo sự thăng tiến về danh vọng của Phạm Quỳnh, hận thù
giữa họ Ngô với Phạm Quỳnh càng gia tăng . . . ..”
(30)
Mùa Hè 1944, Mật
thám Pháp khám phá ra tổ chức Đại Việt Phục Hưng của Diệm, gồm
khoảng 50 đảng viên tích cực, kể cả một số giáo sĩ, nằm ngay trong
đội lính khố xanh
(Garde
indochinoise), cảnh sát,
công chức, v.. v... Một trong những lănh tụ là Trần Văn Lư, Tuần vũ
Hà Tĩnh. Pháp bèn cho lệnh khám xét tư thất Diệm, nhưng Diệm đă sớm
tẩu thoát. Ngày 12/7, Trung úy Kuga Michio của Hiến binh Nhật bí mật
đưa Diệm vào Đà Nẵng, rồi đáp phi cơ vào Sài G̣n. Trong thời gian ở
miền Nam, Diệm lui tới với Matsushita [Tùng Hạ] Mitsuhiro, Chủ công
ty Dainan Koosi [Đại Nam hay Dainan Konsi], trưởng lưới t́nh báo dân
sự của Nhật, cũng người tự nhận là bạn thân của Cường Để.(
31)
Một tháng sau,
ngày 12/8, Nguyễn Huy Tân, Cán sự Công chính ở Quảng Ngăi, một cán
bộ của Diệm, khai rằng Nhật đă chọn Diệm làm Thủ tướng, trong một
chế độ quân chủ lập hiến mà người làm vua không nhất thiết phải là
Cường Để. Hai ngày sau, 14/8, Paul Arnoux, Giám đốc Cảnh Sát, được
lệnh bí mật khai thác Nhu và Khôi ngay tại Huế. Ngày 18/8, Arnoux
báo cáo rằng Nhu nh́n nhận việc làm tội lỗi của Diệm, nhưng Khôi
không dính líu, xin “thề trên thập tự giá” là chỉ muốn duy tŕ “bát
cơm” Pháp. Ngày 20/8, v́ t́nh h́nh Âu Châu đang rối loạn, phe “Pháp
tự do” của Charles de Gaulle đang tiến vào Paris, Decoux đồng ư với
đề nghị của Arnoux là chỉ trừng trị những cán bộ hạng trung, tránh
khiêu khích Nhật.
(32)
Trong khi đó,
như đă lược nhắc, ngày 21/8, Ngô Đ́nh Thục–đă được thụ phong chức
Giám mục Vĩnh Long từ năm 1938–viết thư xin Decoux nghĩ đến công lao
hăn mă của cha ḿnh với chính phủ Pháp trong việc “đánh dẹp phản
loạn” (tức những phong trào Văn Thân và Cần Vương kháng Pháp) khi
xét xử Khôi và Diệm. Anh em họ Ngô, Thục nhấn mạnh, cũng đă nhiều
lần dâng hiến thân tâm cho Bảo hộ Pháp, bất kể mạng sống..(
33)
Cuối năm 1944,
đầu năm 1945, Diệm tá túc trong bệnh viện Chợ Quán, được trưng dụng
làm trụ sở quân sự của Nhật, sau này đổi tên thành bệnh viện bài lao
Hồng Bàng. Tại đây, Diệm cùng Y sĩ Nguyễn Xuân Chữ, Y sĩ Lê Toàn, Kỹ
sư Vũ Văn An, Kư giả Vũ Đ́nh Dy (1906-1945) thành lập Ủy Ban Kiến
Quốc, pḥ trợ Cường Để. Theo tài liệu truyền khẩu Nhật, cuối năm
1944, khi chuẩn bị kế hoạch Mago để lật đổ chế độ thân Vichy Decoux,
Hiến binh Nhật đă dự trù Diệm sẽ trở thành Thủ tướng. Tuy nhiên,
t́nh h́nh ngày một đổi thay mau chóng. Tướng Tsuchihashi Yuitsu, Tư
lệnh Quân đoàn 38–lực lượng trách nhiệm pḥng thủ Đông Dương chống
kế hoạch đổ quân Đồng Minh–dồn mọi nỗ lực cho mục tiêu quân sự hơn
chính trị. Bởi thế Tsuchihashi giữ Bảo Đại làm vua một nước Việt Nam
“độc lập trong Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á,” không đồng ư cho
Cường Để về nước. Nhưng nước Việt Nam này trên thực tế chỉ bao gồm
12 tỉnh miền Trung, v́ Nam Kỳ cũng như Bắc Kỳ được trù liệu sẽ trở
thành hai trung tâm tử thủ chống lại sự đổ bộ của quân Đồợng Minh.
Giám đốc Kempeitai yêu cầu phe Diệm-Chữ tham gia chính phủ độc lập
tại Huế, nhưng cả hai đều từ chối.(
34)
Tháng 3/1945,
sau cuộc Hành quân Meigo (9-10/3/1945) loại bỏ Decoux, Bảo Đại hai
lần nhờ Nhật mời Diệm làm Thủ tướng, nhưng không có HCMi âm. Mùa Thu
1945, Giám mục Thục khai rằng sở dĩ Diệm không nhận lời v́ thấy chế
độ do Nhật lập nên khó tồn tại lâu dài; hơn nữa quanh Bảo Đại có
những thành phần tả phái và franc-macon [tam điểm]. Lời khai này khó
tin cậy, và mục đích có lẽ nhằm biện minh cho sự hợp tác với Nhật
của Diệm, một tội ác chiến tranh ở thời điểm này. Thục cũng không
biết đến, hoặc tảng lờ quyết định của Tsuchihashi hay lời tuyên bố
sẽ tống giam Cường Để vào Côn đảo nếu Hoàng thân về nước. Nhân viên
an ninh Pháp, năm 1954, ghi rằng Diệm từ chối lời mời lập chính phủ
v́ Nhật không chịu cho thống nhất ba miền Bắc, Trung, Nam. Cách nào
đi nữa, sau cùng, Bảo Đại được Nhật thông báo rằng họ không muốn
dùng Diệm.(
35)
Thay vào đó,
tháng 4/1945, Trần Trọng Kim (1883-1952) được đưa từ Krungthêp về
Huế làm Tổng lư nội các [Thủ tướng] “Đế quốc Việt Nam” (4-8/1945).(
36)
Trong khi đó, nhóm
Diệm-Chữ đă bị phân tán khắp ba miền. Y sĩ Chữ về lại Nam Định, rồi
Hà Nội, và cuối cùng trở thành Chủ tịch Ủy Ban Lănh Đạo Chính trị
miền Bắc, thay Khâm sai Phan Kế Toại từ chức vào giữa tháng 8/1945.
Diệm về Vĩnh Long, tá túc trong giáo phận của Giám mục Thục. Cuối
tháng 7, đầu tháng 8/1945, có những vận động đón Cường Để HCMi hương
làm Cơ Mật viện trưởng cho Bảo Đại, nhưng Cường Để không về nước
được v́ chiến tranh chấm dứt đột ngột vào giữa tháng 8/1945.
IV. DIỆM & VIỆT
MINH:
Mặc dù sau này Ngô
Đ́nh Diệm thường tuyên bố tại Việt Nam chỉ nổi danh thua HCM Chí
Minh [the best known figure after Ho Chi Minh], khoảng thời gian từ
tháng 8/1945 tới đầu năm 1947 là giai đoạn bí mật nhất đời Diệm.
Như chúng ta đă
biết, ngày 19/8/1945, Việt Minh lên nắm chính quyền ở Hà Nội.( 37)
Ngày 25/8, Bảo Đại ra thông cáo thoái vị. Khôi và con trai trưởng là
Huân bị Việt Minh bắt, rồi thủ tiêu ở vùng Phong Điền, Thừa Thiên.(
38) Riêng Diệm và Thục đều có
tin bị Việt Minh bắt. Thục, thực ra được tự do sống ở vùng Vĩnh
Long, dưới sự che chở của viên chức Việt Minh. Tháng 10/1945, Thục
định ra Bắc, nhưng bị quân Bri-tên chặn bắt ở Biên Ḥa, rồi sau đó
âm thầm trở lại giáo phận Vĩnh Long. Phần Diệm, tông tích bất minh.
Ngày 7/5/1953,
trong buổi ăn trưa và thảo luận [lunch talks]
về t́nh h́nh Đông Dương tại
Tối Cao Pháp Viện Mỹ, Diệm tuyên bố từng bị HCM “cô lập” trong một
làng thiểu số năm 1946. Sau 6 tháng, HCM yêu cầu Diệm tham gia chính
phủ, nhưng Diệm trả lời rằng v́ biết HCM là CS, Diệm muốn được toàn
quyền và thông báo mọi tin tức. Những người ủng hộ Diệm đ̣i Diệm
phải được giao Bộ Nội Vụ và nắm ngành Cảnh Sát. HCM do dự ít tuần,
rồi cuối cùng từ chối. Gần một thập niên sau, ngày 16/1/1962, Diệm
vẫn lập lại chi tiết bị bắt giữ ở vùng thượng du Bắc Việt với các
viên chức Mỹ tại Sài G̣n. Diệm c̣n tuyên bố với một kư giả Bri-tên
rằng bị Việt Minh bắt vào tháng 9/1945, khi từ Sài G̣n ra Huế ngăn
Bảo Đại đừng theo HCM. Sau đó, bị giải lên thượng du gần biên giới
Hoa-Việt, suưt chết v́ bệnh sốt rét. Sáu tháng sau, HCM mang Diệm về
Hà Nội, thuyết phục Diệm theo ḿnh. Diệm không đồng ư, HCM bèn thả
Diệm. Sau này, Hoàng Tùng cho rằng tha Diệm là một sai lầm.(
39)
Việc Diệm bị
Việt Minh bắt được nhiều nguồn tin khác xác nhận. Hạ tuần tháng
11/1945, Giám mục Thục khai với Pháp rằng Khôi và Diệm đă bị Việt
Minh bắt và có thể đă bị xử bắn.(
40) Ngày 28/12/1945, Tổng Giám
mục Antonin Drapier cũng viết cho Trưởng đoàn Truyền giáo Hải ngoại
Pháp ở Sài G̣n, rằng Diệm đă bị Việt Minh bắt.(
41)
Một nguồn tin
khác nữa ghi vào khoảng tháng 6/1946, khi Diệm đến ở nhà Linh mục
Độ, chính xứ Tuy Hoà, cán bộ VM đă “khéo léo” mời được Diệm lên miền
Thượng (Mọi). Người gia nhân thoát chạy ra Phát Diệm, xin Giám mục
Lê Hữu Từ giúp, sợ bị giống như Khôi. Từ bèn cùng Linh mục Phạm
Quang Hàm và Dân biểu Ngô Tử Ha vào Bắc bộ phủ xin HCM tha Diệm.
Chính HCM cũng không biết việc này, và hứa sẽ can thiệp. Khoảng một
tháng sau, Diệm về tới Hà Nội, Vơ Nguyên Giáp cho gọi Nhu tới lĩnh
về.( 42)
Những chi tiết quanh
việc Diệm bị Việt Minh bắt có nhiều nghi vấn:
1. Xét về ngày tháng
Diệm bị bắt, có phần không ổn.
a. Tài liệu Bộ Ngoại
Giao Mỹ và Karnow dẫn lời Diệm là Diệm bị bắt vào tháng 9/1945, và
trả tự do vào khoảng tháng 3/1946.
b. Ngày tháng mà Từ
hoặc tác giả viết HCMi kư cho Từ ghi là Diệm bị bắt đúng vào giai
đoạn HCM đang ở Pháp, và măi tới ngày 22/10/1946 HCM mới về tới Hà
Nội. Vậy Từ can thiệp vào dịp nào? (Diệm cũng không hề nhắc đến việc
được Từ và Hạ can thiệp).
c. Ngay chính Diệm,
ngày 7/5/1953, chỉ nói mơ HCM đă bị “cô lập” tại một làng thiểu số
trong 6 tháng vào năm 1946.
2. Không ai rơ Diệm
được tha ngày nào, và cũng chẳng ai rơ hành tung Diệm từ lúc được tự
do tới khi xuất hiện ở Hà Nội vào đầu năm 1947 trong bộ đồ tu hành.
3. Theo thư gửi Decoux
đề ngày 21/8/1944, Thục nói Cộng Sản từng sai sát thủ người Hoa ra
Phan Rang mưu sát Diệm, nhưng Diệm chỉ bị thương. Nếu bắt được Diệm
năm 1945 hoặc 1946, ngay tại miền Trung, cách nào Cộng Sản tha Diệm?
Người ta chưa quên số phận những Tạ Thu Thâu, Vũ Đ́nh Dy, v.. v... ở
Quảng Ngăi; và nhiều cảnh “ṃ tôm” khác khắp ba miền.
4. Anh em Diệm rất
thành thạo thủ thuật tự đánh bóng (kiểu Diệm “làm Tể tướng cho Bảo
Đại,” Khả làm “thượng thư đầu triều Thành Thái,” hay “đầy vua không
Khả”). Thành tích “bị giam lỏng” tại miền thượng du năm 1946, hay
đ̣i HCM cho nắm Bộ Nội vụ có thể chỉ để tăng thêm vốn cho việc rao
bán lập trường chống Cộng hầu xin viện trợ Mỹ của Diệm. Hy vọng sẽ
có dấu vết việc bị “cô lập” này trong văn khố Đảng Cộng Sản Việt Nam
hay Pháp.
Cho tới khi có tài
liệu rơ ràng, có thể tin Diệm đă trốn trong nhà tu [Redemptoristes
hay Ḍng Cứu thế] ở Huế như tài liệu văn khố Pháp ghi nhận.
V. DIỆM & BẢO ĐẠI:
“THÀNH PHẦN THỨ BA”
Đầu năm 1947,
Diệm xuất hiện ở Hà Nội, ngụy trang như một tu sĩ. Được Pháp yêu cầu
lập chính phủ chống Cộng, Diệm đưa ra một kế hoạch không thể chấp
nhận được, tức thống nhất ba miền, có quân đội riêng và nhiều quyền
tự trị hơn. Diệm c̣n gặp Tổng lănh sự Mỹ Charles Reed tại Hà Nội.
Trong thời gian ở Hà Nội, ngụ tại tu viện ḍng Cứu Thế Canada ở Thái
Hà Ấp.( 43)
Ngày 11/4/1947, Diệm trở lại
Sài G̣n. Ngày 5/9/1947, lại trở ra Hà Nội.
A. “THÍ NGHIỆM” BẢO
ĐẠI:
Thời gian này,
“thí nghiệm” Bảo Đại bắt đầu thành h́nh. Thí nghiệm này nhằm ngụy
trang cuộc tái xâm lăng Việt Nam mà chính phủ Charles de Gaulle đă
phát động từ năm 1944-1945.(44)
Từ mùa Hè 1945,
sau khi Nhật lật đổ chính phủ thân Vichy của Decoux, Tướng de Gaulle
đă nỗ lực t́m một “chí sĩ quốc gia Việt Nam chân chính” để cầm cờ
dẫn Pháp trở lại Đông Dương. Ứng cử viên được nhiều người biết nhất
là Hoàng tử Vĩnh San (1900-1945), tức cựu hoàng Duy Tân (1907-1916),
đă bị truất phế và đầy qua Réunion năm 1916. Tai nạn phi cơ ngày
26/12/1945 khiến “lá bài bí mật” của phe de Gaulle “tan biến như một
giấc mơ đẹp.” Hai ngày sau, 28/12, Tổng Giám mục Drapier, Khâm sứ
Vatican, tŕnh lên Cao ủy/Linh mục Georges Thierry d’Argenlieu
(1945-1947) kế hoạch cho Bảo Đại lên ngôi như trước ngày 9/3/1945;
rồi lập Hoàng tử Bảo Long làm vua, Hoàng hậu Nam Phương nhiếp chính,
với Diệm làm Thủ tướng.(
45) D’Argenlieu không đồng ư,
và cũng không hài ḷng việc Drapier xen vào thế quyền.
Một số chính
khách, lănh tụ giáo phái Việt cũng xúc tiến thực hiện “giải pháp”
Bảo Đại từ cuối năm 1945, đầu năm 1946. Người đầu tiên đưa ra ư kiến
này là tân Giám Mục Lê Hữu Từ. Nhân dịp Bảo Đại về Phát Diệm dự lễ
tấn phong của Từ, Từ hỏi Bảo Đại có mưu tính ǵ chăng; nhưng Bảo Đại
không có phản ứng tích cực. Cựu Thủ tướng Trần Trọng Kim và đảng
viên trẻ Đại Việt, kể cả Đỗ Đ́nh Đạo v.. v..., cũng t́m thấy ở Bảo
Đại sự lănh đạo, hoặc ít nữa sự chính thống [legality hay
legitimacy] cần thiết, để chống HCM.(
46)
Việt Nam Quốc Dân Đảng
[VNQDĐ] và Trung Hoa Quốc Dân Đảng [THQDĐ] cũng ít nhiều tiếp tay
Bảo Đại rời Hà Nội vào trung tuần tháng 3/1946.
Măi tới sau cái chết
của Nguyễn Văn Thinh ngày 10/11/1946 và sự khủng hoảng của thí
nghiệm “Cộng Hoà Nam Kỳ tự trị”–nhất là sau cuộc tấn công của Việt
Minh tối 19/12/1946 trên khắp miền Bắc vĩ tuyến 16– vai tṛ Bảo Đại
mới sáng giá hơn. Nước Pháp lúc này đứng trước một ngă ba đường.
Một, tiếp tục thương thuyết với Việt Minh, hầu t́m một giải pháp
chính trị. Nẻo đường khác, là đoạn tuyệt với chính phủ “ương ngạnh”
[intransigence] của HCM, đi t́m một “chí sĩ quốc gia” chấp nhận thoả
hiệp với Pháp. Hầu hết các cấp lănh đạo Pháp–từ Bộ trưởng Pháp quốc
Hải ngoại Marius Moutet cho tới đặc sứ Philippe Leclerc de
Hautecloque (1902-1947)–đều nghĩ rằng đă đến lúc đoạn tuyệt với HCM.
Léon Pignon, Cố vấn Chính trị của d'Argenlieu, ủng hộ Bảo Đại nồng
nhiệt nhất.
Do Pignon tiến
cử, ngày 14/1/1947, d'Argenlieu mật báo về kế hoạch tái sử dụng Bảo
Đại.( 47)
Moutet không chấp thuận.( 48)
Thủ tướng Léon Blum (12/1946-1/1947) cũng không tán thành, nhưng
chuyển kế hoạch này cho người kế vị là Paul Ramadier (1947). Dẫu
vậy, d'Argenlieu vẫn gửi Cousseau qua Hong Kong để liên lạc với Bảo
Đại vào đầu năm 1947.
Sự thành h́nh của
chính phủ Ramadier ngày 21/1/1947, và quyết định thay d'Argenlieu
bằng Dân biểu Emile Bollaert ngày 5/3/1947 mang lại một không khí
mới. Viên chức Pháp nghĩ đến một chính phủ Liên bang Việt Nam, với
ba chính phủ địa phương tại ba kỳ, và một chính phủ trung ương tượng
trưng sự thống nhất lănh thổ. Vấn đề đặt ra là ai sẽ cầm đầu chính
phủ trung ương đó. HCM và Bảo Đại trở thành hai tâm điểm của các
cuộc thảo luận.
Một số chính khách
Pháp nghĩ rằng phải nối lại thương thuyết với HCM. Theo họ, dù HCM
và các thuộc hạ thân tín là Cộng Sản, đa số cấp lănh đạo Việt Minh
chỉ là những người yêu nước. Hơn nữa, HCM và các thuộc hạ có khả
năng nhất. Ngày 31/12/1946, trong phần trích dịch dư luận báo chí ở
Paris, L'Humanité đăng lại lời b́nh luận tiêu biểu của Le Parisien
Libéré [Người Paris Giải Phóng]:
“Sẽ là một sự
điên rồ khó tha thứ khi mưu toan đặt lên một chính phủ bù nh́n nào
đó sẵn sàng hợp tác với chúng ta, nhưng không có nền tảng dân chúng.
Một sự điên rồ mà trong tương lai sẽ rất đắt giá cho chúng ta.”
(Nguyên văn: Ce serait une impardonable folie que de susciter pour
pouvoir comme partenaire, un quelconque gouvernement fantoche prêt à
la collaboration avec nous, mais sans fondement populaire. Une folie
qui dans l'avenir nous couterait fort cher).
(49)
Một số khác chủ
trương loại HCM, thương thuyết với Bảo Đại. Theo họ, Bảo Đại có một
số người theo ở Trung Kỳ; và được sự ủng hộ hoặc chấp thuận của
nhiều nhân vật có uy tín tại Bắc cũng như Nam Kỳ.(
50)
Ngày 1/4/1947 tân Cao
Ủy Bollaert tới Sài G̣n với lệnh tái thiết lập những guồng máy cũ,
nhưng đừng để lộ ra là Pháp muốn tái lập nền quân chủ.
Thời gian này,
Bảo Đại sống ẩn dật tại Hong Kong. Rời Hà Nội qua Nam Kinh ngày
16/3/1946 trong phái đoàn thăm thân hữu Trung Hoa, nhưng đến ngày
về, Bảo Đại nhận được thư HCM khuyên nên du lịch thêm một thời gian.
Cựu hoàng bèn sang Hong Kong, sống với một vũ nữ, dưới một tên giả
trong khách sạn Saint Francis Hotel. Mùa Thu 1946, Bảo Đại tuyên bố
với kư giả Jacques Sallebert là với cựu hoàng, “chính trị đă chết.”
Bảo Đại cũng bày tỏ ḷng kính phục Chủ tịch HCM, và tiết lộ rằng sự
thoái vị của ḿnh là chiều theo ư dân.(
51)
Nhưng nhiều cá
nhân và lănh tụ các đảng phái chống Cộng vẫn t́m đến, lôi kéo Bảo
Đại khỏi cảnh huống “về hưu” non ở tuổi 33. Trong số này có Nguyễn
Tường Tam, Vũ Kim Thành, Trần Trọng Kim v.. v... Vào cuối năm 1946,
đầu năm 1947, số người ủng hộ Bảo Đại được tăng cường thêm Hộ pháp
của Cao Đài. Mới HCMi hương vào tháng 8/1946 sau gần 5 năm lưu đầy,
Phạm Công Tắc chủ trương hợp tác với Pháp để chống Cộng. Chính Tắc
và Trần Quang Vinh, Tư lệnh lực lượng vơ trang Cao Đài từ năm 1943,
đă yểm trợ Y sĩ Lê Văn Hoạch lên cầm đầu chính phủ Nam Kỳ tự trị sau
cái chết của Y sĩ Thinh ngày 10/11/1946, hầu loại bỏ Trần Văn Tỷ.
Cuộc tổng tấn công ngày 19/12/1946 của HCM giúp Tắc mạnh bạo hơn.
Ngày 1/1/1947, nhân dịp Bộ trưởng Moutet đang tham quan Đông Dương,
Tắc yêu cầu Moutet đưa Bảo Đại về nước; và hứa sẽ ủng hộ Bảo Đại.(
52)
Nhưng các chính phủ
tại Paris–với sự tham dự của Đảng Cộng Sản Pháp–chưa muốn đoạn tuyệt
với HCM. V́ nhiều lư do, viên chức Pháp khẳng định vẫn muốn thương
thuyết, nhưng đặt thêm một điều kiện căn bản–đó là thảo luận trên
thế mạnh, không để bạo lực chi phối, và sau khi đă văn HCMi trật tự.
Ngày 20/12/1946, khi ra trước Quốc Hội điều trần, và tuyên bố sẽ qua
Đông Dương tham quan, Moutet nhấn mạnh:
Nước Pháp muốn hoà
b́nh, tôn trọng những nguyên tắc đă tuyên bố, nhưng không chịu khuất
phục trước bạo lực. Chính sách của Pháp là bảo vệ quyền lợi nước
Pháp và làm cho những quyền lợi ấy được tôn trọng.( 53)
Dù chỉ là một b́nh
phong cho việc tái chiếm miền Bắc bằng vơ lực, hay phát xuất từ ḷng
chân thành, những điều kiện tiên quyết này mở ra một câu hỏi then
chốt–đó là thương thuyết với ai? Thêm vào đó, là giới hạn của những
nhượng bộ Pháp có thể chấp thuận.
Mặc dù bản tuyên cáo
ngày 24/3/1945 qui định “năm xứ Đông Dương” của chính phủ de Gaulle
đă bị các biến cố ở Việt Nam biến thành dĩ văng, đa số giới lănh đạo
Pháp vẫn nhấn mạnh ở điểm Đông Dương phải là một thành phần của Khối
Liên Hiệp Pháp [L’Union Francaise]; không thể thống nhất ba miền
Bắc, Trung, Nam v́ miền Nam là một thuộc địa, tức một phần lănh thổ
bất khả phân của Pháp như phần dẫn nhập của Hiến Pháp 1946 đă qui
định; và, chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa [VNDCCH] của HCM chỉ
là một trong những phe phái mà người Pháp có thể thương thuyết.
Ngày 23/12/1946, Dân
biểu André Mutter của hạt l'Aube–người từng yêu cầu bắt HCM tại
Paris sau khi hội nghị Fontainebleau đổ vỡ–tuyên bố không thể đàm
phán với chính phủ HCM được nữa v́ đó là “bọn phản bội” [traitres].
Mutter nhấn mạnh:
Chúng ta không thể coi
HCM Chí Minh như đại diện của một tiểu bang tự do [Etat libre]; đó
là một kẻ sát nhân [assassin].( 54)
Sau khi tham quan Đông
Dương về, tảng lờ những lời kêu gọi tái thương thuyết của HCM, ngày
18/3/1947, Moutet khẳng định không thể nói chuyện với HCM nữa, v́
HCM không những chỉ coi việc kư Hiệp ước như một phương tiện tranh
đấu; mà c̣n chủ trương bạo động.( 55)
Mặc dù vẫn c̣n những người như
Pierre Cot chưa dứt khoát–đề nghị đừng nên qui lỗi cho một phe
nào–phe cực hữu ngày thêm mạnh. Ngày 13/4/1947, Paul Reynaud tuyên
bố trước Quốc Hội Pháp:
HCM Chí Minh là một
tên tội phạm [un criminel] và không thể thương thuyết với hắn; hoặc
hắn đă bị điều khiển [manoeuvré] và tự chứng tỏ thiếu khả năng để
bắt chính quân đội của ḿnh tuân lệnh, vậy th́, đó là kẻ thiếu khả
năng và cũng chẳng nên thương thuyết với hắn nữa.( 56)
Hôm sau, 14/4, Dân
biểu Maurice Violette c̣n đi xa hơn, khẳng định: “Tinh thần quốc gia
ở Việt Nam là phương tiện; cứu cánh là thực dân
Liên Xô.”(
57)
Lời cáo buộc này
khiến phe Cộng Sản Pháp, kể cả Marcel Cachin, cực lực phản đối. Thủ
tướng Ramadier phải công nhận cho tới thời điểm đó, Liên Xô hoàn
toàn trung lập. Nhưng từ ngày này, dù công khai hay phía sau hậu
trường, các viên chức Pháp, v́ những lư do dễ hiểu, không ngừng tố
cáo nguồn gốc Quốc Tế Cộng Sản [QTCS] của HCM.(
58)
Phe cổ vơ cắt
đứt thương thuyết với HCM c̣n đưa ra thêm một lư do khác là từ ngày
19/12/1946, chưa ai gặp được HCM. Sự biến dạng này khiến không thể
không hoài nghi rằng HCM đă chết; và, những phần tử quá khích như Vơ
Nguyên Giáp cùng Hạ Bá Cang (Quận thọt) đang chi phối Tổng bộ Việt
Minh. Những văn thư kư tên HCM gửi cho Pháp trong những tháng cuối
năm 1946, đầu năm 1947–kể cả bản kiến nghị do Trần Ngọc Ranh trao
cho Pháp tại Paris vào tháng 2/1947–bị coi là đă giả mạo chữ kư
HCM.( 59)
Song song với chiến
dịch hạ uy tín HCM là việc tách rời HCM khỏi khối đại đa số người
Việt yêu nước. Ramadier, khi ra thuyết tŕnh trước Quốc Hội vào
tháng 2/1947, đă mở đầu cho khuynh hướng này. Tiếp đó, Moutet khẳng
định Hiệp ước sơ bộ 6/3/1946 đă được kư kết với một chính phủ liên
hiệp Việt Nam, mà không phải với cá nhân HCM.
B. SỨ MỆNH CAO ỦY
BOLLAERT:
Để đánh dấu sự thay
đổi chính sách của ḿnh, Ramadier quyết định thay d'Argenlieu v́
Linh mục/Cao ủy này bị chỉ trích c̣n nặng đầu óc thực dân; và v́
d'Argenlieu gặp khó khăn trong việc liên hệ với những người mà ông
ta phải làm việc chung. D’Argenlieu không chịu từ chức, muốn níu giữ
Đông Dương chờ ngày de Gaulle–mới đột ngột từ chức ngày
24/1/1946–trở lại chính quyền. Ramadier chẳng c̣n cách nào khác hơn
cách chức d’Argenlieu.
Bài diễn văn được coi
như bản tuyên bố chiến tranh lạnh của Tổng thống Harry Truman
(1945-1953) ngày 12/3/1947 và kế hoạch viện trợ tái thiết Tây Âu ít
tháng sau của Ngoại trưởng George C. Marshall–tức “Kế hoạch
Marshall”–khiến chính phủ Ramadier muốn loại bỏ HCM, “một cán bộ
QTCS.” Tuy nhiên, dự định của Paris nhằm biến hoá cuộc tái xâm lăng
Việt Nam thành một điểm nổ của cuộc chiến tranh lạnh Tư Bản-Cộng
Sản–hầu thiết lập chính nghĩa mới và xin viện trợ Mỹ–không đạt được
tốc độ mong muốn. Oat-shinh-tân, dù không muốn thấy “một chế độ tay
sai của Mat-scơ-va thống trị bán đảo Đông Dương,” và cũng không muốn
bị mang tiếng ủng hộ Pháp tái thiết lập chế độ thuộc địa kiểu tiền
chiến tại thuộc địa này, chỉ khuyên Pháp t́m một “chí sĩ quốc gia
chân chính” lên cầm đầu cuộc chiến chống Cộng. Bởi thế, suốt năm
1947, Bollaert gặp rất nhiều khó khăn trong việc t́m một giải pháp
cho Việt Nam. Dẫu vậy, Bollaert đặt xuống những nền tảng cho việc
thực thi thí nghiệm Bảo Đại. Giai đoạn đầu là những bước ngoại giao
để loại bỏ HCM.
Nguyên từ cuối
tháng 12/1946, đầu tháng 1/1947, HCM nhiều lần xin nối lại thương
thuyết. Ngày 20/2/1947, ít tuần trước ngày Đại Hội Các Quốc Gia Á
Châu tại New Dehli, Đài Việt Minh công bố lá thư của HCM gửi
Ramadier và Moutet, kêu gọi thương thuyết. Việt Minh cũng nhờ Hồng
Thập Tự Quốc Tế chuyển cho Lănh sự Bri-tên một thư nghị hoà, nhưng
viên chức Pháp ở Paris đều nói không nhận được. Măi tới ngày 26/3,
Bộ Ngoại giao Pháp mới nói với Đại sứ Mỹ Caffery là nhận được thư
này, nhưng không ai dám khẳng quyết HCM c̣n sống.(
60)
Cũng ngày này,
tân Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám khẳng định muốn “độc lập
trong Liên Hiệp Pháp.” Ngày 18/4/1947, Giám nhờ Hội Hồng Thập Tự
Quốc Tế chuyển cho Miguel de Pereyra, tân Ủy viên Cộng Hoà Bắc Việt,
một công hàm yêu cầu ngưng bắn tức khắc và nối lại thương thuyết.(
61) Hôm sau, 19/4, Giám lại
tuyên bố sẵn sàng điều đ́nh, nhưng v́ Pháp đ̣i Việt Minh phải nộp
50% khí giới, phóng thích tù binh Pháp, VM không chịu, v́ như thế là
đầu hàng.
Việt Minh c̣n cử
Thứ trưởng Ngoại Giao Phạm Ngọc Thạch tới Bangkok và các nước Đông
Nam Á để vận động. Thạch hai lần bí mật tiếp xúc Trung tá William
Law, Tùy viên Quân sự Mỹ ở Bangkok, trao cho Mỹ một số văn kiện,
nhưng không đạt kết quả nào.(
62)
Tháng 5/1947,
Bollaert cử Paul Mus, cố vấn kinh tế, liên lạc với Giám. Ngày 9/5,
Mus gặp Giám ở Cầu Đuống, rồi được dẫn đi gặp HCM tại tỉnh lỵ Thái
Nguyên. Tuy nhiên, khi nghe Mus đọc thuộc ḷng các điều kiện của
Bollaert–tức Việt Minh phải buông súng đầu hàng–HCM từ chối.(63)
Bollaert cũng xúc tiến
mạnh hơn việc thành lập các cơ cấu hành chính lâm thời tại vùng
chiếm đóng. Khởi đi từ Ủy Ban Chấp Chánh Lâm Thời [Comité
administratif provisoire] ở Huế (12/4/1947) và Hội đồng An Dân Bắc
Việt [Comité provisoire de gestion administrative et d'action
sociale] ở Hà Nội (19/5/1947), các ủy ban hay hội đồng hàng tỉnh,
hàng quận tiếp tục được thiết lập.
|