|
NGÀY KỴ THẦY
Hoàng
Nguyên Nhuận
Thầy Thiện Minh chuyển nghiệp ngày 17/10/1978 nhằm ngày 16 tháng
Chín năm Mậu Ngọ.
Ngày Hiệp Kỵ Hàng Năm
Bao nhiêu năm qua, anh chị em chúng tôi vẫn âm thầm nhớ ngày đó và
thường lấy ngày giỗ Thầy làm ngày hiệp kỵ những anh chị em từng lận
đận một thời với nhau. Đây là một vài trao đổi của chúng tôi với
nhau nhân mùa kỵ Thầy năm 2005.
22/10/05 - Anh ơi,
Hôm thứ Ba ngày 16 tháng 9 âm lịch vừa qua, tất cả anh em sinh viên
Phật tử c̣n ở Sài G̣n đă tụ tập về Chùa VL của Thầy NM để cùng Thầy
làm lễ cầu siêu. Buổi lễ bắt đầu lúc 10 giờ, Thầy NM nhân danh trụ
tŕ và ban tổ chức phát biểu mở đầu, nêu công đức của Thầy từ hồi ở
trong Ủy Ban Liên Phái năm 1963, rồi Tổng Vụ Trưởng Thanh Niên, và
cố vấn của Viện Hóa Đạo. Thầy NM nói về Thầy một cách cung kính, gọi
Thầy là ‘bổn sư chúng tôi’. Thầy nói khoảng 10 phút, không thấy có
điều ǵ thất lễ, sau đó là lễ cúng. Phần cúng có ba thời kinh khác
nhau. Trước hết là cúng Phật, sau đó là cúng Thầy, có đọc sớ cầu
siêu, rồi qua bàn thờ anh em ḿnh sau cùng. Cũng có sớ cầu siêu cho
tất cả anh chị em do NTC quỳ dâng sớ, từ Thầy Bùi tường Huân đến anh
Văn đ́nh Hy, chị Tịnh Nhơn, đến Phan đ́nh Bính, Phan chánh Đông,
Vĩnh Kha, Vĩnh Tùng, Bảo Cương, v.v... NTC cũng ghi thêm Trần duy
Thọ mới mất cách đây hai năm, và hai đệ tử của Marx là Nguyễn Thiết
và Lê minh Trường. Những anh em ḿnh có mặt đông đủ hôm đó gồm anh
chị HD, DVN, X, PĐ, TL, C, và một vị cư sĩ trước là Thầy Tâm Ḥa ở
Tổng Vụ Thanh Niên, cùng với nhiều anh em khác trong Đoàn SVPT-SG.
Lễ cúng Thầy cũng như anh chị em rất tươm tất. Sau lễ cúng, Thầy NM
phát biểu cám ơn mọi người đến dự lễ và đề nghị từ nay hằng năm lấy
ngày 16 tháng 9, ngày kỵ Thầy làm ngày hiệp kỵ cầu siêu cho tất cả
anh chị em của ḿnh tại Chùa VL. Kết thúc là cơm chay do Chùa nấu
cho môn đồ pháp quyến và có liên hệ với Thầy và anh em ḿnh. Đặc
biệt, NP có đến lúc 9 giờ, chỉ gặp NTC và lên chánh điện thắp hương
trên bàn vong của anh em ḿnh rồi đi, không ở lại dự lễ v́... bận
[hay tránh mặt?]. Nhưng có đến như thế là rất quư rồi. PDN không
thấy đến, h́nh như đi Đà Nẵng đúng ngày hôm đó... Kính chúc anh chị
sức khỏe, an vui. Thân mến, TL.
Tái bút: Thầy NM đang xây lăng cho Thầy ngoài Huế, tại Chùa Thuyền
Tôn, đă tiêu tốn khoảng..., nay đang ngưng lại v́ có tin ông Vơ văn
Ái phong cho Thầy làm Thánh tử đạo, Thầy NM sợ chính quyền dị nghị
nên tạm ngưng...Hết.
Và sau đây là hồi âm của Hoàng tôi.
TL và Anh Chị Em thân thương,
Cám ơn ACE và Thầy NM đă chu đáo lo kỵ Thầy và những ACE đă chuyển
nghiệp. Kỳ rồi về SG, hôm đến Chùa Thầy NM thắp hương cho Thầy và
ACE đă khuất, tôi không nhớ đă soát lại tên các bài vị có Quách Thị
Trang, Nhất Chi Mai và mấy SVHS Phú Thọ bị Hố Nai lên SG làm loạn
giết chết hồi 1964 không? [Anh chị HD hẳn c̣n nhớ rơ vụ này] Nếu
chưa th́ nhờ C liên lạc với thân nhân xin để tên vào được không? Xây
lăng cho Thầy ở Huế? Kỳ rồi về Huế, Thầy Hải Ấn [đệ tử Thầy Thiện
Siêu] có đưa tôi đi thắp hương cho Thầy nơi bảo tháp của Thầy ở
Thuyền Tôn mà. Đă có tháp sao lại c̣n xây mộ? Nơi bảo tháp ấy có một
bài thơ bằng chữ Hán bút tự của Thầy Thiện Siêu. Chỉ có chữ Hán thôi.
Tôi có xin phép Thầy Hải Ấn dịch ra tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng
Anh rồi khắc vào một tấm bảng đồng hoặc đá gắn vào bên cạnh. Thầy
Hải Ấn đă thuận cho phép, và tôi có nhờ TK+ĐX+XQ lưu ư chuyện này...
Không biết ACE, nhất là C và Thầy NM, nghĩ sao? Lần tới, nếu H về,
và H rất thân với C, nhờ H tiếp tay chuyện này được không?
Thăm nhau thường an lạc,
23/10/05
Người Tù Của Ba Chế Độ Đă Chuyển Nghiệp
Kỵ Thầy hằng năm là dịp để chúng tôi suy nghĩ nhiều hơn
về cuộc đời Thầy, về những ước nguyện và hoạt động của Thầy, hậu quả
của những hoạt động đó đối với PG và đất nước.
Trong dịp nầy một lần trước đây, Hoàng tôi có ghi lại
vài ư tưởng qua bài Xếp Bút Nghiên Xuống Đường Giải Nghiệp.
Năm năm qua rồi kể từ những ḍng chữ đó, và 27 năm qua kể từ ngày
Thầy chuyển nghiệp. Bao nhiêu nước chảy qua cầu...
Thầy bị bắt ngày 13/4/1978, hơn một năm sau khi Hoàng
rời trại giam Phan đăng Lưu. Lư do chính thức để bắt nhốt Thầy là
Thầy phạm tội cư trú bất hợp pháp trong Chùa Già Lam. Lê Duẩn
và Vơ văn Kiệt xứng đáng là người đă viết lại lịch sử nhân loại,
viết lại lịch sử tôn giáo và lịch sử quốc gia bằng án lệnh quái dị
ấy! V́ gia đ́nh đang hoảng hốt trước tin Thầy bị bắt và lo là
tôi có thể bị bắt lại nên đă “kềm kẹp” tôi tối đa, Hoàng tôi đă xót
xa loay hoay chạy vạy để rồi cuối cùng đành ngậm ngùi với tin Thầy
chuyển nghiệp. Cái chết của Thầy càng khiến gia đ́nh tôi gia tăng áp
lực cho tôi phải trốn ra nước ngoài.
Lúc mới ra khỏi tù, tôi lên thăm Thầy lúc đó đang trú ngụ Chùa Già
Lam bên Gia Định với ôn Trí Thủ. Thầy dặn nghỉ ngơi một lúc rồi Thầy
nhờ chút việc. Tuần sau đến hầu Thầy, Thầy ngơ ư muốn có một tài
liệu nói về tiến tŕnh hiện đại hóa PGVN, phong trào đấu tranh của
PG năm 1963, về hoàn cảnh hiện tại của PG, về ước vọng của PG đối
với đất nước, về tương lai của PG trong ḷng dân tộc và nhân loại.
Tôi đă vâng lời.
Trong lúc chuẩn bị vượt biên, nhiều lần tôi xin Thầy đi
với chúng tôi. Mười lần như một, Thầy chỉ im lặng cười. Thầy không
nói những câu làm tôi năn ḷng hay cảm thấy tội lỗi khi bỏ nước ra
đi, nhưng Thầy cũng không khuyến khích tôi đến xứ người phải làm
những điều mà cho đến nay tôi không hề ân hận đă không làm.
Bao nhiêu năm gần Thầy, chưa bao giờ chúng tôi thắc mắc
về những điều Thầy dạy bảo hay quyết định. Ngay cả lúc theo Thầy đi
vào đường thập tử nhất sinh như năm 1963, 1964, 1966 và 1969. Gian
nan, khốn khó, học hành dở dang, nghề nghiệp gián đoạn, bị đánh đập
hành hạ, bị trù dập, c̣ bót, ṭa án, nhà tù, quân ngũ, đào ngũ, trốn
lánh... chưa bao giờ chúng tôi ân hận đă theo Thầy. Bởi lư, Thầy
thường là kẻ lănh đủ gian nguy khổ nhục, nếu không trước th́ cũng
đồng thời với chúng tôi.
Thầy là người tù của cả ba chế độ. Đệ I CH của Ngô đ́nh Diệm, Đệ II
CH của Nguyễn văn Thiệu và CHXHCNVN thời Lê Duẩn lănh đạo. Trong chế
độ thứ ba này, h́nh như có không ít người từng với Thầy ở trong Ủy
Ban Hành Chánh Trung Bộ là tổ chức trực tiếp đứng ra nhận ấn kiếm
thoái vị của Bảo Đại.
Thầy đă chuyển nghiệp trong tay Vơ văn Kiệt-Lê Duẩn.
Đó là một sự thực lịch sử, cả về lịch sử PG lẫn lịch sử VN hiện
đại. Nh́n đời như biển khổ, Thầy và anh chị em chúng tôi phải cám
ơn những người đă giúp Thầy thoát nợ đời. Nhưng theo công lư thường
t́nh cũng như lư nhân quả, họ không thể phủ nhận trách nhiệm về cái
chết của Thầy trước tiên.
Năm 1966, trong lúc Phật tử đứng lên yêu cầu Nguyễn văn Thiệu-Nguyễn
cao Kỳ dân chủ hóa đất nước, Thầy đă bị ám sát bằng lựu đạn ngay tại
cổng chính Trung Tâm Thanh Niên Phật Tử Quảng Đức đường Công Lư Sài
G̣n. Lúc b́nh phục trở về, có người hỏi Thầy có hận thù những kẻ ám
hại Thầy không? Câu trả lời của Thầy là điều ai cũng có thể đoán
được. Phật dạy lấy đức báo oán, chớ không lấy oán báo oán. Nếu Thầy
biết kẻ nào hại Thầy, gặp họ Thầy sẽ lạy họ ba lạy để cám ơn. Hoàng
tôi nghĩ rằng nếu tôi hỏi Thầy có hận thù những kẻ đă tạo cơ duyên
cho Thầy chuyển nghiệp trong tù không, Thầy hẳn cũng trả lời như
thế. Đó là điều kẹt cho anh chị em chúng tôi, trần tục, sơ cơ, sân
hận, chúng tôi cảm được tâm đạo của Thầy, nhưng không chắc đủ kiên
tâm theo dấu chân của Thầy từng bước một trên đường tu tập.
Hoàng tôi đă trăn trở nhiều khi viết những ḍng chữ này, và cảm thấy
trước tiên phải sám hối với Thầy. Nhưng tôi nghĩ làm sáng tỏ cái
chết của Thầy sẽ làm cho Phật tử gần với chính quyền hơn và đó là
điều lợi, dù muộn màng, cho cả chính quyền lẫn PG.
Phục Hồi Danh Dự
Có nhiều người đặt vấn đề phục hồi danh dự cho Thầy. Nhưng
ngũ uẩn giai không, một người, nhất là người đó lại là nhà tu, th́
cần ǵ chuyện danh sắc?! Lại nữa, nếu v́ chấp kiến mà nói chuyện
danh dự thường t́nh đi nữa th́ ‘danh dự’ đó nơi Thầy có mất đâu mà
phải phục hồi?! Trái lại, cái chết của Thầy làm sáng tỏ hơn ‘danh
dự’ của một Phật tử, một nhà tu, một lănh tụ PG th́ có.
Cái chết đó đă làm sáng tỏ hơn những sai lạc lịch sử mà chính quyền
đương nhiệm đang bất đắc dĩ thừa hưởng, cũng như làm sáng tỏ hơn nhu
cầu tự giác và ḥa hợp ḥa giải mà chính quyền đương hành đang từng
bước thực thi.
Cho nên, nếu cần làm sáng tỏ cái chết của Thầy th́ đó chính là v́
danh dự của chính quyền đương nhiệm, những người đang thừa hưởng
thành quả tích cực cũng như tiêu cực từ quá khứ ḿnh không chủ định,
của Vơ văn Kiệt-Lê Duẩn thời đất nước đang chập choạng trong cơn say
chiến thắng mơ màng chạy theo Stalin, Mao trạch Đông để “tiến nhanh
tiến mạnh tiến vững chắc” về một ngày mai chỉ tồn tại trong dự
tưởng. Không nhận ḿnh sai th́ làm sao thấy ḿnh đúng. Thiện chí sửa
sai của chính quyền từ khi đổi mới là điều không thể phủ nhận.
Những Câu Hỏi Quanh Một Cái Chết
Vấn đề chính không phải là Thầy đă chết như thế nào? Thầy
chết bệnh hay bị giết? tự tử hay tai nạn bất ngờ?...điều đó không
quan trọng. Hoàng tôi không bi kịch hóa cái chết của Thầy để làm lư
do tuyên truyền chống đối. Bởi làm như vậy th́ cũng chỉ là cách lợi
dụng cái chết của Thầy để buôn bán hận thù. Và nuôi dưỡng hay bán
buôn thù hận là điều mà suốt đời Thầy chống lại và dạy cho anh chị
em chúng tôi phải chống lại.
Điều đáng nói là Thầy chết trong tù.
Quyết định bắt nhốt Thầy hẳn phải là lệnh trung ương từ Hà Nội. Do
đó, câu hỏi đặt ra là thứ nhất, từ Miền Nam hay TP Hồ chí
Minh ai là kẻ đă tŕnh xin Hà Nội để bắt Thầy? Thứ hai, kẻ
xin lệnh nhốt Thầy đó đă dựa vào những báo cáo ǵ chứng tỏ Thầy nguy
hại cần phải nhốt? Thứ ba, ai làm báo cáo tiên khởi đó để khả
dĩ thuyết phục Vơ văn Kiệt phải tŕnh xin lệnh trung ương? Mười Anh
Đỗ trung Hiếu trưởng ban tôn giáo Thành Ủy, Vơ văn Kiệt Bí Thư Thành
Ủy kiêm chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân thành phố hẳn phải là người đủ tư
cách để trả lời những câu hỏi đó.
Trong tinh thần ‘hàn gắn, khoan dung, ḥa giải’ như Vơ văn Kiệt mấy
lúc sau này thường nói đến, Hoàng tôi hy vọng trách nhiệm về cái
chết của Thầy Thiện Minh sẽ được minh giải cách này hay cách khác,
mà người khởi sự dĩ nhiên phải là Vơ văn Kiệt. Lê Duẩn đă chuyển
nghiệp, cần nói cũng không nói được, Vơ văn Kiệt c̣n đó, chưa làm
được chuyện ấy trong lúc đương quyền, giờ cũng chưa phải là đă muộn.
Mặt khác, sau báo cáo và quyết định tŕnh xin Hà Nội bắt Thầy Thiện
Minh của Vơ văn Kiệt-Đỗ trung Hiếu hẳn c̣n có những bóng đen từng
quy tụ quanh Nguyễn văn Huyền, Trần văn Lắm, hay quanh những tờ Tin
Sáng, Đại Dân Tộc với Hồ Ngọc Nhuận, Ngô công Đức, Vơ Long Triều,
Nguyễn văn Ba, Lư quư Chung trước 1975 và núp sau lưng Vơ văn
Kiệt-Trần bạch Đằng để tiếp tục hoạt động sau năm 1975.
Thầy Thiện Minh đă bị tập đoàn và tàn dư của tập đoàn Ngô đ́nh Diệm
xem như là kẻ thù số một. Sau 1963, tàn dư này đă chạy theo rồi phản
Dương văn Minh để pḥ Nguyễn Khánh, phản Nguyễn Khánh để pḥ Nguyễn
cao Kỳ, bỏ rơi Nguyễn cao Kỳ để pḥ Nguyễn văn Thiệu tái lập một chế
độ Diệm-không-Diệm. Tướng Dương văn Minh từng tâm sự: “Chẳng qua sau
khi cách mạng 63 thành công, tôi và Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng v́
nhân hậu đă không giải giới và tống vào tù toàn bộ quân cán chính
Cần Lao Ngô đ́nh Diệm, mà hậu quả sau này đă tạo nhiều biến loạn, để
cuối cùng chúng vực dậy chế độ Cần Lao Diệm-Không-Diệm của Nguyễn
Văn Thiệu.”
Đến khi Mỹ quyết bỏ của chạy lấy người dẹp Thiệu và dùng Dương văn
Minh làm kẻ cầm cờ trắng đầu hàng th́ đám này lại cúi đầu nhận lệnh
kèm với những bông giấy của Hoàng đức Nhă, và những chỉ thị từ Ṭa
Đại Sứ Mỹ để tấn công bất cứ kẻ nào không chịu tham gia cái tṛ chơi
bỏ của chạy lấy người đó. Bộ ba Thiện Minh-Huyền Quang-Măn Giác là
mục tiêu tấn công của họ. Đọc lại Tin Sáng, Đại Dân Tộc trưóc 1975
th́ thấy rơ những đ̣n độc này.
Sau 30/4/1975, tàn dư này lại lợi dụng Vơ văn Kiệt-Trần bạch Đằng để
chui sâu trèo cao. Bộ mặt thật của nhóm này phần nào đă hiện ra trên
tờ Tuổi Trẻ Xuân 2001 do Lê văn Nuôi một đàn em của Hồ ngọc Nhuận
làm Tổng Biên Tập, trong âm mưu khai tử uy danh của Hồ chí Minh qua
cái gọi là điều tra dư luận sâu rộng với kết quả là chỉ có 39% dân
chúng phục tài Hồ chí Minh trong khi có đến 89% tôn sùng Bill Gates!
Đây cũng là những kẻ dựa vào thế Mỹ và Ky-tô giáo, và đến phút chót
lại rắp ranh dựa vào Pháp và Trung Quốc để đẩy Dương minh Minh ra
cầm cờ trắng để một đàng che cho Mỹ thu hồi tù binh và tháo chạy, và
đàng khác biến Miền Tây hậu giang thành một Nam Kỳ Quốc. Đọc lại
những lời tâm sự của Tướng Dương văn Minh, những giờ phút cuối cùng
của Tướng Nguyễn khoa Nam, Lê văn Hưng, hồi ức của Tướng Mạch văn
Trường và nhớ đến âm mưu đào sâu hố chia rẽ Nam Bắc, làm sống lại
vết chém của thực dân từng đoạn ĺa tổ quốc ra làm bốn phần Nam Kỳ,
Trung Kỳ, Bắc Kỳ và Hoàng Triều Cương Thổ để mưu đồ tranh quyền hiện
nay th́ có thể thấy rơ hơn điều này.
Nhóm này có trách nhiệm ǵ không trong quyết định ngang nhiên vô hệ
thống, phi hành chánh của Vơ văn Kiệt trong việc đổi tên đường liệt
sĩ Thái văn Lung thành đường Alexandre de Rhodes, một cố đạo gián
điệp của Pháp? Nhóm này có trách nhiệm ǵ khi mới đây, Vơ văn Kiệt
lên tiếng ca tụng GM Lê hữu Từ lănh chúa khu tự trị Bùi Phát, kẻ
từng dùng tiền bạc súng đạn của Pháp chống lại Việt Minh.
Đám tàn dư này có dính líu đến mức nào trong quyết định của Vơ văn
Kiệt-Đỗ trung Hiếu tŕnh xin trung ương bắt nhốt Thầy Thiện Minh?
Giải Oan Là Minh Giải Oan Khiên
Đă hẳn, thương kính Thầy, tiếc nuối Thầy, không có nghĩa là phải để
tâm những kẻ đă đẩy Thầy đến chỗ chuyển nghiệp trong lao tù. Sức
mạnh của người Phật tử không phải là trả thù bằng giam cầm, đọa đày,
chém giết. Sức mạnh của người Phật tử là mặc tẩn, làm thinh coi như
không có. Sức mạnh của người Phật tử là chấp nhận, và t́m cách hóa
giải chuyện giam cầm, đàn áp, chém giết, trả thù. Cố gắng đến đâu,
tôi chưa biết, nhưng tôi vẫn cố gắng v́ nghĩ rằng Thầy muốn anh em
chúng tôi làm như vậy.
Tuy nhiên, đất nước đă bị tàn hại quá nhiều v́ thù hận. Và cách
giải hận hay nhất là giải oan, cách giải oan hay nhất là thừa nhận
trách nhiệm về những oan khiên đó. Lê Duẩn đă ra đi, Vơ văn Kiệt c̣n
đó, và Vơ văn Kiệt sẽ giúp chính quyền đương nhiệm trút được gánh
nặng chính quyền đương nhiệm không tạo ra nhưng đang phải bất đắc dĩ
gánh lấy, bằng cách nói rơ trách nhiệm về oan khiên này.
V́ nhu cầu tu tập, cách trả thù hay nhất với người Phật tử có lẽ là
tránh không làm những điều xấu mà kẻ thù ghét ḿnh đă vấp phạm,
quyết làm những điều tốt mà họ không làm được, và cố làm tốt hơn
những điều tốt họ đă làm. Những kẻ đă nhúng tay vào cái chết của
Thầy thật đă tạo ác nghiệp cho chính họ nhưng đồng thời cũng tạo cơ
duyên cho Thầy chuyển nghiệp. Tội nghiệp cho họ th́ có, oán hận họ
th́ được ích ǵ? Thù hận chẳng giải quyết được ǵ ngoài việc gia
tăng ḷng ghét sợ và quyết chí trả thù. Thầy đă dạy cho chúng tôi
bài học cám ơn kẻ nặng tay với ḿnh như thế năm 1963, 1966 và 1969.
Bài học đó cũng là bài học của Thầy Quảng Đức và bao nhiêu Tăng Ni
Phật Tử khác đă hy sinh dạy cho chúng tôi.
Bức tường Berlin sụp đổ, các chế độ xă hội chủ nghĩa Đông Âu đổ nhào
theo. Không thấy một nước Đông Âu nào hôm nay dựng lên những trại
học tập cải tạo cho ngụy quân, ngụy quyền và những tay sai ôm chân
Liên Xô cả. Ở VN, thực dân và các tập đoàn chống Cộng ngày trước đă
vô t́nh biến nhà tù thành trường huấn luyện cán bộ cho đối phương.
Lê Duẩn quên bài học đó nên mới thiết lập hệ thống ḷ luyện hận thù
vô ích vô bổ là các trại học tập cải tạo. Tập trung cải tạo v́ nhu
cầu an ninh th́ được, nhưng kéo dài ngày quá th́ trở thành bất nhẫn.
Nhất là khi đă tiêm vào đầu người ta ḷng hận thù rồi thả cho người
ta ra đi theo diện HO! Đó là điều bất hạnh cho dân tộc Việt Nam mà
những người hữu trách hôm nay đang phải gánh và t́m cách xoa dịu hàn
gắn. Phải làm những ǵ có thể làm để tiếp trợ cho thiện chí xoa
dịu hàn gắn này. Giải tỏa oan khiên trong vụ Thiện Minh là một trong
những cách tiếp trợ đó. Hoàng tôi nghĩ khi Thủ Tướng Phan văn
Khải tiếp HT Huyền Quang ở Hà Nội trước đây cũng với ư nguyện ấy.
Tiếc rằng cơ duyên chỉ mới nửa vời...
Con Đường Của Phật Tổ Hồng Bàng
Cuộc đời của Thầy xoay quanh hạnh nguyện thống nhất PG và thống nhất
dân tộc để chấm dứt tương tàn. Điều bi hài của lịch sử và nghiệp báo
là khi dân tộc đă thống nhất th́ Thầy lại 'mây trắng thong dong'
không c̣n phải lận đận với chuyện thống nhất PG và khế hợp PG với
một dân tộc vừa được tái thống nhất nữa. Đó là một điều khỏe cho
Thầy nhưng lại cũng là một mất mát lớn cho PG và dân tộc. Nhất là
sau khi ư thức hệ Lenin-Stalin tàn phai, hậu phương Xă Hội Chủ Nghĩa
quốc tế ră đám và chế độ đương quyền hôm nay chưa t́m được một cương
lĩnh thế trị nào khả dĩ lấp đầy khoảng trống do những tàn phai và ră
đám ư thức hệ đó tạo ra.
Thầy là kẻ kiến trúc cuộc vận động tự do tín ngưỡng và b́nh
đẳng tôn giáo năm 1963, Thầy là người đặt nền móng cho ngôi nhà
GHPGVN hôm nay. Không có phong trào vận động đó th́ PG, kể cả PG Ḥa
Hảo, có lẽ đă trở thành một thứ hội tương tế của những thầy cúng chỉ
biết lo chuyện ma chay cầu đảo. Một số Phật tử, xuất gia cũng như
tại gia, đă quên điều đó. Một số tín đồ PG Ḥa Hảo đă không ư thức
được chuyện đó, cũng như họ không ngờ rằng đại thể sinh hoạt của
PGHH là h́nh ảnh sinh hoạt tương lai của PGVN nói chung trong tư thế
đạo không xa đời, đời không tách phân khỏi đạo và tu hành là một
sinh hoạt tâm linh thong dong tự tại không g̣ bó với định chế h́nh
thức như giáo chế, giáo quyền, giáo hội. Quan niệm Tân Tăng của Thầy
Măn Giác hay tinh thần Tiếp Hiện của Thầy Nhất Hạnh có xa ǵ với chủ
trương tu tại gia của PGHH?
Phong trào đấu tranh 1963 lay động Phật tử bừng tỉnh sau
cơn mê dài từ thời Lê mạt, và đẩy PG phải dấn thân chấp nhận phần vụ
đối với dân tộc của điều mà Thầy rất thích nói tới là tín ngưỡng
của Phật Tổ Hồng Bàng thị, chữ của Nguyễn Quyền, lănh tụ Đông
Kinh Nghĩa Thục trong bài thơ Phen Này Cắt Tóc Đi Tu.
Phật pháp không phân biệt Nam Bắc Đông Tây đă đành, nhưng thân mạng
và quốc gia là những cửa ngơ, những nhịp cầu nối liền mỗi người với
chúng sinh nhân loại. Cho nên, với người Việt, Phật trước tiên phải
là Phật của Việt tộc, Tổ trước tiên phải là tổ của Việt tộc và PG
trước tiên phải là PG của VN, v́ VN. Một tín ngưỡng chân chính nhân
bản không thể đẩy tín đồ phản lại tổ tiên, đồng bào, đồng hương,
thân nhân.
Người Phật tử đồng hóa dân tộc và đạo pháp làm một theo
nghĩa ấy chứ không phải theo nghĩa PG phải độc chiếm quốc gia, toàn
trị dân tộc, biến quốc gia dân tộc thành công cụ hay tài sản riêng
muốn làm ǵ th́ làm, ngay cả đem làm lễ vật dâng cúng cho thần
thánh.
PG không đ̣i hỏi hay ép buộc ai nhận ḿnh là quốc giáo.
Lịch sử ngàn năm hành đạo cho thấy PG chỉ bị đàn áp bách hại chứ
chưa giết hại ai v́ kẻ đó không phải là đồng tôn hay không muốn theo
đạo Phật.
Đă hẳn, theo luật đa số đại diện của tṛ chơi dân chủ,
Phật tử VN có thể gọi một ngôi Chùa nào đó - như Chùa Một Cột chẳng
hạn, là Việt Nam Quốc Tự. Nhưng tâm nguyện xây dựng một ngôi VNQT là
tâm nguyện xây một ngôi Chùa khả dĩ thể hiện những đặc trưng và
nguyện ước của người Việt về một quốc gia VN, chứ không phải là nơi
tập trung một tập đoàn giáo quyền độc thiện độc trị tự gán cho ḿnh
quyền giữ ch́a khóa Niết Bàn và gát cổng Địa Ngục. Ước vọng phổ cập
ư nhất thế của người Phật tử là ước vọng san sẻ công đức cho thế
gian cùng hưởng chứ không phải là thiết lập một đế quốc tóm gọn tất
cả linh hồn, thể xác, tài vật của thế gian về cho ḿnh rồi tiếp
tục... đóng cửa đi ăn mày hy bóc lột tín hữu.
Tôn giáo quốc tế và ư thức hệ quốc tế chỉ là hai mặt của
tham vọng đế quốc chủ nghĩa, đế quốc thiêng liêng cũng như đế quốc
thế tục. Và con đường một chiều thường là đế quốc thiêng liêng t́m
cách lũng đoạn và khống chế đế quốc thế tục.
Ư thức hệ Marx là một nổ lực đi ngược lại con đường một chiều đó. Bi
hài lịch sử là nơi nào cách mạng mác-xít thành tựu, nơi đó thế tục
trở thành thế tục thiêng liêng, linh thánh vạn năng mà quên rằng độc
tôn độc thiện là kẻ thù của Marx, kẻ thù của một xă hội không vong
thân, một xă hội nhân ái một người v́ mọi người mà Marx muốn xây
dựng. Đây là điểm Marx gặp Phật, Xă Hội Chủ Nghĩa gặp Lục Ḥa.
Sống Chết Cho Ḥa B́nh Thống Nhất
Hoàng tôi chưa hề quên chuyến đi cùng Thầy ra Quảng Trị dự trại mừng
Phật Đản của Gia Đ́nh Phật Tử tổ chức ngoài đó xế trưa ngày Phật đản
1963. Chúng tôi một số ngồi xe chung với Thầy và Thầy bảo tôi chuẩn
bị vài lời của Đoàn Sinh Viên Phật Tử Huế nói với đồng bào Phật tử
ngoài đó. Tôi vâng lời nhưng đầu óc vẫn như chưa hết cơn bàng hoàng
với những ǵ xảy ra trên sân Chùa Từ Đàm hồi trưa.
Khi bàn với Thầy nội dung những điều tôi phải nói, tôi hỏi ḍ Thầy,
đạo pháp và dân tộc được rồi, nhưng cụ thể PG rồi sẽ c̣n làm ǵ nữa
đây? Qua câu trả lời của Thầy, tôi ghi nhớ hai chuyện. Thứ nhất, đă
đến lúc làm th́ phải làm thôi, thất bại th́ dắt nhau về Tây Phương
[cực lạc] mà ở. Thứ hai, trước sau ǵ th́ đất nước rồi cũng phải
thống nhất. Tôi âm thầm nhận Thầy là ánh đuốc thế trị của tôi từ đó.
Đời một người, không có hạnh phúc nào bằng hạnh phúc t́m được một lư
do để mà sống, mà chết với.
Tâm nguyện là như thế, nhưng quả thực tôi chỉ thực sự dấn thân hết
ḿnh sau khi PG công bố bản Tuyên Ngôn Của Tăng Tín Đồ PGVN hay c̣n
gọi là Nguyện Vọng 5 Điểm ngày 10/5/1963. Với tôi, bản tuyên ngôn đó
là một lời khai chiến, một lời thách đấu quyết tử. Bởi v́, qua 9 năm
tự cho ḿnh là một quyền uy thần thánh vô nhiễm, anh em nhà Ngô đă
không cho ai phê b́nh và không chấp nhận một ai phê b́nh ḿnh. Thế
mà bản tuyên ngôn này dám công khai nói anh em Ngô đ́nh Diệm sai, và
đ̣i họ sửa sai này. Cho nên, với tôi, văn kiện lịch sử đó cho thấy
Thầy và sơn môn Huế quyết c̣n ăn hết nhịn như Thầy nói trưa ngày
Phật Đản. Đáng tiếc là anh em Ngô đ́nh Diệm đă không chịu thấy như
vậy.
Không kể 3 năm 1963-1966, thỉnh thoảng được gặp Thầy, 10 năm c̣n
lại 1966-1975, tôi gần như được thường trực hầu Thầy. Tôi có được
duyên may gần gũi với cả hai Thầy Thiện Minh và Trí Quang.
Nơi Thầy Trí Quang, tôi t́m hứng khởi qua những chỉ dạy trực tiếp
hay những điều Thầy viết mà đặc điểm nổi trội là khúc chiết, trong
sáng và tiết kiệm lời. Tôi nhớ măi lần đầu học được kinh nghiệm đó
với Thầy. Đó là hôm Chùa tổ chức đưa đám Phật tử Nguyễn tăng Chắc
vừa bị sát hại. Đoàn SVPT Huế được giao nhiệm vụ đọc ai điếu trước
khi hạ huyệt. Tôi thảo ai điếu, trước giờ đám, tôi đưa Thầy duyệt
lại. Thầy đọc xong bảo, ư th́ được nhưng quá dài ḍng văn tự, và
Thầy kiên nhẫn chỉ những chỗ lôi thôi, và nên nói sao để tránh được
những dài ḍng đó. Tôi hơi sốc, dù sao ḿnh cũng là Giảng nghiệm
viên Văn Khoa đang dạy phê b́nh văn học chứ đâu phải sinh viên ṭ
te! Sốc th́ sốc nhưng tôi phải nhận Thầy đúng, âm thầm ghi nhận lời
Thầy từ đó mỗi khi múa bút.
Nơi Thầy Thiện Minh, tôi trông chờ phương thức hành động. Thầy không
viết nhiều như Thầy Thiện Siêu, không nói hay như Thầy Trí Quang,
nhưng tài ứng đối và dồn đối phương vào thế phải tự vệ thay v́ tấn
công, khả năng đánh giá nhân sự, khả năng nh́n thấy vấn đề và cách
giải quyết vấn đề của Thầy th́ đúng là... Thầy. Hàng mấy ngàn người
bị hốt về Nha Công An Trung Phần sáng 21/8/1963 làm sao quên được
h́nh ảnh Thầy thản nhiên đứng như một quan chức dự duyệt binh diễn
hành trên chiếc xe chở những người bị hốt trong Chùa Từ Đàm về trong
khi bao nhiêu người khác như tôi v́ sợ gậy đùi, báng súng và bị giày
xô đạp vào lưng nên phải nằm mọp trên sàn xe.
Sau 1963, ít ra th́ cũng 2 lần Thầy đă đưa gậy đỡ Thầy Trí Quang
khỏi thế kẹt. Lần thứ nhất năm 1966, Thầy chống gậy đi xin giáo chỉ
của Đức Tăng Thống ra lệnh cho Thầy Trí Quang đang tuyệt thực đến
chết ở bệnh viện Duy Tân sau vụ Miền Trung bị triệt hạ phải ngưng
tuyệt thực. Lần thứ 2 năm 1967, xin giáo lệnh của Đức Tăng Thống ra
lệnh cho Thầy Trí Quang ngưng tuyệt thực và trở về Chùa trong lúc
Thầy đang cắm lều trước Dinh Độc Lập để phản đối Nguyện văn Thiệu
ban hành Sắc Luật 23/67. Thân nhất với Thầy Trí Quang có lẽ là Thầy,
dù gặp nhau trên bàn cờ tướng th́ sát phạt và cải nhau tưng bừng.
Người âm thầm đứng ra lo hậu phần cho Thầy lại chính là Thầy Thiện
Siêu, đồ chúng Chùa Thuyền Tôn và bây giờ là Thầy MN và đám học tṛ
Thầy nơi Chùa LV.
Suốt cả đời Thầy, Thầy chỉ âm thầm thực hiện mộng ước chấm dứt chiến
tranh và thống nhất đất nước.
Năm 1964, Mỹ khởi sự leo thang đánh Miền Bắc bằng vụ Vịnh Bắc Việt,
chúng tôi đă tŕnh thầy 2 điều lo ngại, thứ nhất Mỹ sẽ bỏ chạy như
Pháp năm 1954 và thứ hai, cả VN sẽ lâm vào t́nh trạng khốn đốn v́
tàn phá chết chóc như Cao Ly năm 1953. Cho nên, bằng bất cứ giá nào
cũng phải chống chiến tranh, chống leo thang ra Bắc và muốn làm được
như thế th́ phải có một chính quyền không làm tay sai Mỹ.
Sau khi đi ngoại quốc về tháng 8/1964, tôi ghé Sài G̣n ở lại với
Thầy, tŕnh bày ư nghĩ của ḿnh và xin phép Thầy khởi phát cuộc đấu
tranh chống Hiến Chương Vũng Tàu của Nguyễn Khánh. Thầy hỏi cặn kẽ
anh em chúng tôi tính làm ǵ, làm tới đâu, liệu có được quần chúng
hưởng ứng không, nhưng Thầy không nói ǵ. Sáng 19/8/1964, Thầy đưa
tôi ra phi trường về Huế, trước khi chia tay Thầy chỉ dặn làm vừa
vừa thôi, hăy cẩn thận. Về Huế, ngày hôm sau, chúng tôi phát khởi
phong trào bằng Đêm Không Ngủ tại khuôn viên Đại Học Văn Khoa kỷ
niệm 20/8 ngày chính quyền Diệm thực hiện chiến dịch Nước Lũ bố ráp
Chùa chiền năm ngoái. Chủ điểm của đêm canh thức đó là khẩu hiệu Độc
Lập Quốc Gia-Ḥa B́nh Dân Tộc-Cách Mạng Xă Hội được Vĩnh Kha Đoàn
Trưởng Đoàn Sinh Viên Phật Tử Huế và Trần xuân Kiêm, Chủ Tịch Tổng
Hội Sinh Viên Huế tung ra trong dịp này. Trong khẩu hiệu đó, HBDT là
nói đến quan hệ Nam-Bắc, ĐLQG là nói đến nền tự chủ tự quyết của
Miền Nam, CMXH là phương thức xây dựng Miền Nam với sự tiếp tay của
MTDTPG, chủ ư của khẩu hiệu là đánh hay đàm th́ người Miền Nam cũng
phải có tiếng nói, có quyết định. Muốn có quyết định đó th́ phải có
một chính quyền mạnh, trong sạch, có thế dựa của dân. V́ khẩu hiệu
đó mà chúng tôi bị điểm mặt là Thành Phần Thứ Ba không liên kết, hay
cay cú hơn là chủ ḥa chủ bại, hoặc nặng nề hơn là trung lập thân
Cộng.
Tổ chức Phật sự và vận dụng Phật tử tiếp sức vào việc chống ngoại
nhân khuynh loát, tạo điều kiên ḥa hợp ḥa giải để chấm dứt chiến
tranh, tiến đến thống nhất đất nước trong ḥa b́nh và độc lập. Đó là
sợi chỉ đỏ xuyên suốt hành trạng thế trị của Thầy.
Nh́n lại hoàn cảnh 1954-1975, nh́n lại giai đoạn 1963-1972, nh́n lại
thời gian chính quyền Mỹ leo thang cho đến ngày tiếng súng ngưng hẳn
1965-1975, nh́n lại thời gian một năm hiệp thương giữa Cộng Ḥa Miền
Nam Việt Nam và CHXHCNVN, nh́n lại thực trạng những thành phần có
Mặt Trận nhưng không có đảng, nh́n lại số người phải bỏ nước ra đi
v́ chịu không nổi sức ép cải tạo xă hội chủ nghĩa... hẳn ai cũng
thấy chính người Việt đă bỏ qua hay bắt hụt nhiều cơ hội để chấm
dứt chiến tranh sớm hơn, bớt tàn phá, bớt đau khổ chết chóc, bớt
phung phí tài nguyên nhân vật lực hơn. Kết luận đó của Thầy đă
được gói ghém trong tài liệu sau đây...
Đây là một tài liệu từ Phủ Tổng Thống Đệ II CH đang nằm trong thư
khố quốc gia chưa được giải mật. V́ lư do đó mà chúng tôi xóa bỏ
khuôn dấu xuất xứ. Đọc tài liệu này, những người quen với những công
báo, văn thư của Phủ Tổng Thống đều nhận thấy ngay lối dùng dấu
ngang [-], í với á [chính trị, chánh trị], chữ hoa với
chữ thường tùy tiện của người thảo văn thư, người đánh máy và người
đọc lại văn thư trước khi tŕnh kư. Những chỗ có gạch dưới hàng để
nhấn mạnh của Nguyễn phú Đức cũng được giữ nguyên, việc Nguyễn phú
Đức gọi Thầy Nhất Hạnh là Nhật-Hạnh cũng được giữ nguyên. Tài liệu
này một lần nữa cho thấy rơ thực chất giải pháp ḥa b́nh của
PGVN, lập trường và giải pháp ḥa b́nh của Thành Phần Thứ Ba mà Thầy
chủ xướng và là phát ngôn viên. Nguyên văn nội dung văn kiện đó
là:
Phủ Tổng-Thống
Phụ-Tá Đặc-Biệt Về Ngoại-Vụ
Ngày 7 tháng 11,
1970
Phiếu-Tŕnh
Tổng-Thống Việt-Nam Cộng-Ḥa
Trích-yếu:
Giải-pháp 6 điểm về ḥa-b́nh của Phật-giáo Ấn-Quang.
Tôi kính tŕnh Tổng-Thống duyệt lăm bản Giải-pháp 6 điểm
về ḥa-b́nh của Phật-giáo Ấn-Quang do Thượng-tọa Thích Thiện Minh
công-bố tại Đại-hội Phật-giáo ở Kyoto ngày 20-10-1970.
Đề-nghị này thực ra chỉ gồm 4 điểm chính, v́ 2 điểm sau
cũng chỉ là những lời kêu gọi ở ngoài nước và trong nước.
Về phương-diện quân-sự, đề-nghị này kêu gọi các bên lâm
chiến xuống thang chiến-tranh dần dần để đi tới một cuộc ngưng bắn
toàn diện vào chiều 30 Tết Tân-Hợi, và việc thiết-lập một Ủy-Hội
Quốc-Tế Kiểm-Soát do Liên-Hiệp-Quốc chỉ-định.
Về phương-diện chính-trị, đặc-điểm đáng lưu ư là đề-nghị
này cho cái gọi là “Chánh-phủ Cách-Mạng Lâm-thời”, một địa-vị chánh
yếu trong phía bên kia trong việc ngưng-chiến, kiểm-soát ngưng bắn,
cũng như trong một giải-pháp chánh-trị cho Miền Nam Việt-Nam.
Ngoài ra, đề-nghị này kêu gọi trong điểm 4: “Chánh-phủ
Huê-kỳ phải để cho người Việt tự-do chọn lựa một Chánh-quyền có thể
đại-diện cho đa-số quần-chúng có căn-bản ḥa-giải dân-tộc, không
liên-kết”... để thương-thuyết với Chánh-phủ Huê-kỳ và “Chánh-phủ
Cách-Mạng Lâm-Thời”.
Theo báo “Sài G̣n Mới” ngày 28-10-1970, đề-nghị của
Ấn-Quang được Hội-Nghị Quốc-Tế Phật-Giáo ở Kyoto dùng làm nền tảng
trong bản quyết-nghị kêu gọi rút quân ngoại nhập, và lập chánh-phủ
có “căn-bản rộng-răi” ở Saigon.
Theo tin hăng AFP hồi đầu tháng này, Ấn-quang sẽ cử hai
Thượng Tọa Nhật-Hạnh và Thiện-Minh qua Paris trong một ngày gần đây
để vận-động về giải-pháp ḥa-b́nh nói trên với các Phái-đoàn đương
tham dự cuộc ḥa-đàm tại Paris.
Kính tŕnh:
[kư tên]
Nguyễn Phú Đức
Đính hậu:
-Bản đề-nghị giải-pháp ḥa-b́nh của Ấn-Quang tại Hội-nghị Kyoto
-2 bài báo liên-hệ.
GIẢI-PHÁP 6 ĐIỂM VỀ H̉A-B̀NH
CỦA PHẬT-GIÁO ẤN-QUANG DO THƯỢNG-TỌA
THIỆN-MINH CÔNG-BỐ TẠI KYOTO NGÀY 20-10-1970
Điều thứ 1: - Các bên lâm-chiến bắt đầu ngay từ hôm
nay xuống thang chiến-tranh dần dần để đi tới một cuộc ngưng bắn
toàn-diện vào lúc 6 giờ chiều ngày 30 Tết Tân-Hợi.
Cả hai bên đều được thế-giới trông chờ tuyên-bố
chấp-nhận lời cam-kết ngưng bắn toàn diện này vào trước giờ đó và
càng sớm càng gây thêm được nỗi vui mừng và hy-vọng cho thế-giới.
Trong thời-hạn này, quần-chúng Việt-Nam mong đợi về phía
Chính-phủ Hoa-Kỳ hăy ngưng bớt những cuộc thả chất độc, ngưng
cuộc thả bom B.52 và những cuộc chiến-tranh lùng diệt. Về phía
Chánh-Phủ CMLT, chúng tôi mong mơi hăy chấm dứt những cuộc pháo-kích
vào các nơi dân-cư đông-đúc để sát-hại thường-dân vô tội.
iều thứ 2: Tổ-chức Liên-Hiệp Quốc phải cấp thời chỉ-định một số
quốc-gia trung-lập như Pháp, Ấn, Hồi, Thụy-Điển v.v...để thành-lập
một ỦY-HỘI QUỐC-TẾ kiểm-soát cho cuộc ngưng bắn này. Một
chuyên-viên quân-sự của Chánh-phủ VNCH và một chuyên-viên quân-sự
của Chánh-phủ LTCMMN sẽ được tham-gia vào đại-diện trong Ủy-hội
này.
Điều thứ 3: Chính-phủ VNCH phải phóng–thích tất cả
những tù nhân chính-trị như sinh-viên, trí-thức, tu-sĩ và tất cả
những người đương bị giam-giữ v́ đă tranh-đấu cho Ḥa-b́nh và quyền
tự-chủ của Quốc-gia.
Điều thứ 4: Chính-phủ Hoa-Kỳ phải chấm dứt t́nh-trạng thối-nát
độc-tài và bất-lực hiện tại ở Miền Nam Việt-Nam bằng cách phải để
cho người Việt tự-do chọn lựa một Chánh-quyền có thể đại-diện
cho đa-số quần-chúng có căn bản ḥa-giải dân-tộc, không liên-kết và
đầy-đủ khả-năng để:
a)
Thương-thuyết với Chánh-phủ Hoa-Kỳ về những thời-biểu triệt-thoái
toàn thể quân-lực Hoa-Kỳ ở Việt-Nam và về những liên-hệ ngoại-giao,
văn-hóa, kinh-tế giữa Hoa-Kỳ và Việt-Nam.
b)
Thương-thuyết với Chánh-phủ CMLT về những thể-thức tổ-chức
Tổng-tuyển cử để đại-diện cho mọi khuynh-hướng chính-trị ở Việt-Nam.
Một cuộc bầu cử thực sự tự do dưới sự giám-sát Quốc-Tế trong đó mọi
người dân bất cứ khuynh hướng chính-trị nào đều có thể tham dự.
Điều thứ 5: Các Chánh-phủ Hoa-Kỳ, Liên-Bang Sô-Viết, Cộng-Ḥa
Nhân-Dân Trung-Hoa và các quốc-gia liên-hệ khác cộng-tác với nhau để
chấm dứt những nỗi đau khổ của người Việt bằng cách ủng-hộ cho
đề-nghị này do chính người Việt đưa ra.
Điều thứ 6: Các phía lâm chiến tại Việt-Nam và nhân-dân yêu chuộng
ḥa-b́nh trên thế-giới, các giáo-hội tôn-giáo và các nhà nhân-bản
kịp thời hành-động để thúc đẩy các quốc-gia có trách-nhiệm về
chiến-tranh Việt-Nam chấm dứt cuộc chiến-tranh tại Việt-Nam,
Kampuchea và Lào.
Người Chết Hai Lần
Có những người Phật tử đang rấp ranh biến Thầy thành hương hoa dâng
cúng cho hai thứ đế quốc linh thánh và đế quốc trần tục. Cho nên,
Thầy đă chết một lần v́ cuồng vọng cải tạo của Vơ văn Kiệt-Lê Duẩn,
Thầy có thể đang bị bức ép chết thêm lần nữa bởi tay những kẻ muốn
làm tôi mọi cho đế quốc thiêng liêng và đế quốc thế tục đang ầm ĩ xử
dụng nhân quyền và tự do tôn giáo như một chiêu bài để trục lợi.
Ngày trước, họ cố lôi Thầy vào làm tay sai cho Pháp, cho Mỹ không
được nên đă lên án Thầy là cộng sản, ngày nay họ lại thương vay khóc
mướn Thầy như là nạn nhân cộng sản để đánh bóng chiêu bài nhân quyền
và tự do tôn giáo là chiêu bài mới thay cho chiêu bài chống Cộng đă
lỗi thời.
Một số Phật tử h́nh như cũng vô t́nh hay cố ư tham dự
cái tṛ này. Có lẽ v́ vậy mà bao nhiêu năm qua, các tự viện thuộc
GHPGVNTN hải ngoại của Vơ văn Ái-Ỷ Lan và quư HT Hộ Giác, Tâm Châu,
Chánh Lạc, Giác Lượng, Quảng Độ, Quảng Ba... vẫn hương tàn bàn lạnh
trong mùa kỵ Thầy, thế mà năm 1998, họ đă đột nhiên thỉnh hương linh
Thầy ra bắt chứng giám màn kịch tranh đấu cho nhân quyền VN tại hải
ngoại.
Năm 2003, Thầy Măn Giác làm lễ kỷ niệm 40 năm dấn thân nhập cuộc của
PG th́ đám này sợ mất ḷng tàn dư chế độ cũ nên lấy lư do không khơi
lại đống tro tàn để quay mặt đi. Năm 2005, chính đám này lại x́ xụp
theo nhịp chuông mơ của Ỷ Lan-Vơ văn Ái để làm lễ kỷ niệm 30 năm
Pháp Nạn, làm như thể là đất nước được ḥa b́nh thống nhất,
thoát được họa chiến tranh, thoát được nạn độc quyền kinh tế, độc
quyền văn hóa tôn giáo của những tay sai ngoại bang là đại họa. Bởi
thậm xưng và u u minh minh như thế nên mới xảy ra những trường hợp
cười ra nước mắt hơn cả lục, cả công án như sau:
1. Có người sẽ phân vân tại sao HT Quảng Độ trong Thông
Bạch Vu Lan Kỷ Măo 1999, kêu gọi Phật tử báo hiếu cho các bậc tiền
bối hữu công đối với dân tộc và đạo pháp nhưng lại không hề nhắc đến
tên Thầy Quảng Đức, Thầy Thiện Minh, Thầy Đôn Hậu, Thầy Trí Thủ,
Thầy Thiện Hoa, Thầy Thiện Ḥa ... và bao nhiêu tôn đức Tăng Ni Phật
tử từ thập niên 60 đến nay từng bỏ xương máu xây đắp nên GHPGVNTN mà
hôm nay HT Quảng Độ là kẻ kế thế trong chức vụ Viện Trưởng Viện Hóa
Đạo?
2. Một điều nữa cũng có thể làm nhiều người ngỡ ngàng là HT Quảng Độ
công khai tán thán công đức của cái gọi cuộc hội diễn mùa Phật Đản
1999 của Vơ văn Ái-Ỷ Lan và quư HT Đức Niệm - Hộ Giác - Chánh Lạc -
Giác Lượng - họp tại Santa Ana, California, Hoa Kỳ trong ba ngày 14,
15 và 16.5.1999 và HT gọi đó là Đại Hội VIII của GHPGVNTN. Chẳng lẽ
không ai tŕnh cho HT biết rằng ở hải ngoại ít ra cũng có 6, 7 cái
giáo hội như thế? Ai muốn th́ cứ bày giáo hội ra cho có với thiên hạ,
thậm chí có người c̣n muốn bỏ áo nâu áo lam, mặc áo vàng làm vô
thượng sư thượng thủ PG thế giới như HT Tâm Châu nữa.
3. Chẳng lẽ không ai tŕnh HT rơ hơn rằng GHPGVNTN hải ngoại chỉ là
những nhóm thiểu số quanh quẩn ở Miền Nam California, hay một vài
vùng ở Pháp, ở Australia hay ở Đức mà thôi? Tự xưng đại diện Phật tử
toàn bang California - hay toàn Hoa Kỳ, Australia, Pháp, Đức cũng đă
là thậm xưng rồi, làm sao có thể nhận là đại diện cho Phật tử lưu
vong hải ngoại hoặc đại diện cho cả Ấn Quang và VNQT ở quê nhà? Thực
tế của GHPGVNTN hải ngoại là thế đó th́ làm sao mà khi giáo hội nầy
tụm năm tụm ba lại th́ lại được gọi là Đại Hội VIII của GHPGVNTN?
4. Chẳng lẽ HT Quảng Độ đă cố ư gián tiếp khai tử GHPGVNTN mà HT
đang là Viện Trưởng Viện Hóa Đạo khi HT đồng nhất GHPGVNTN tại quê
nhà với một nhúm túm tụm lại dưới danh nghĩa GHPGVNTN hải ngoại? Hay
HT đă ban cho giáo hội nầy danh nghĩa GHPGVNTN lưu vong? Lâu nay, ở
hải ngoại vẫn có cả chục chính quyền lưu vong nhưng GHPGVNTN lưu
vong th́ đây là lần đầu tiên có một.
Lần đầu tiên, nhưng thuận với lương tri và thực tế th́
cũng phải là lần cuối cùng. Bởi, nếu đất nước chỉ có một th́ PG
cũng phải chỉ có một. Chia để trị là mánh mung của những kẻ muốn
thao túng quyền lực thế trị. Phật tử phải hóa giải chứ không vô t́nh
tiếp tay với cái mánh mung đó.
Đỉnh cao phát triển của PGVN là thời Lư-Trần. Tinh thần
tín ngưỡng thời nầy cho phép người Phật tử buổi sáng tụng kinh, buổi
trưa luyện vơ, buổi chiều ra trận chống xâm lăng, tối nếu c̣n sống
trở về với người thân yêu th́ lại lo cho gia đ́nh, và lại tụng kinh
ngồi Thiền để chờ ngày... hôm sau. Có lẽ nhờ vậy mà giữ được quê
hương, mà bảo vệ được dân tộc khỏi nạn ngoại xâm, và có lẽ cũng v́
vậy mà các nhà lănh đạo đất nước thời đó mới làm vua vài bữa đă chân
trong chân ngoài đ̣i về hưu lên núi làm Thái Thượng Hoàng, xem ngai
vàng như chiếc giày rách? Mở đường cho thời tự chủ vàng son đó là
thời đấu tranh tự chủ của Ngô, Đinh và Tiền Lê. Trong thời kỳ đó,
quư Thầy Ngô chân Lưu, Vạn Hạnh đă xuất xử thế nào? Ngô chân Lưu là
quốc sư của nhà Đinh và là Khuông Việt Đại Sư của triều Tiền Lê, Vạn
Hạnh là cố vấn của triều Tiền Lê và là kẻ khai sáng triều Lư. Nhà
Đinh mất, Ngô chân Lưu không hề hô hào pḥ Đinh diệt Tiền Lê, Tiền
Lê suy vong Vạn Hạnh cũng không hề hô hào pḥ Lê phản Lư. Cũng không
thấy sử sách nào gọi họ là sư phản động, sư quốc doanh, hay sư của
giáo hội nhà nước cả. Như vậy th́ PG của quư vị chống Tăng Ni phản
động, chống sư quốc doanh, chống giáo hội nhà nước là PG nào đây?
Thập niên 1950 và 1960, PG phải hô hào thống nhất đoàn
kết để tự vệ trước những chế độ kỳ thị PG. Thực dân Pháp rồi Ngô
đ́nh Diệm đánh phá PG bằng Dụ số 10 của Bảo Đại và bằng kế hoạch
Nước Lũ 20/8/1963. Nguyễn văn Thiệu bằng Sắc luật 23/67 xé nát cơ
chế PG làm đôi.
Sắc luật 23/67 là giấy khai tử GHPGVNTN do Nguyễn văn
Thiệu kư. Nói thế khác, giáo hội nầy đă bị phủ nhận 8 năm trước khi
Miền Nam đổi chủ. Chính quyền thời Lê Duẩn chỉ là kẻ bắn phát súng
thi ân nhắm vào GHPGVNTN. Chính Nguyễn văn Thiệu đă tiếp nối âm mưu
dở dang của Ngô đ́nh Diệm dùng Phật tử đánh PG đồ. Ngô đ́nh Diệm
dùng Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ PG Thuần Túy thân chính để triệt hạ Ủy
Ban Liên Phái Bảo Vệ PG mà Thầy Thiện Minh là phát ngôn viên chính
thức. Nguyễn văn Thiệu dùng Sắc luật 23/67 phủ nhận khối Ấn Quang,
tấn phong khối VNQT và từ đó tạo ra hiện tượng sư phản động tức phe
Ấn Quang chống chính quyền, và sư quốc doanh trong giáo hội nhà nước
tức VNQT.
Mấy lúc nay, HT Tâm Châu và HT Hộ Giác tỉ tê than khóc GHPGVNTN,
nhưng khi Nguyễn văn Thiệu ban hành tờ khai tử GHPGVNTN là Sắc Luật
23/67 th́ nhị vị ở đâu? HT Tâm Châu chạy theo Đại Sứ Bunker và
Nguyễn văn Thiệu và HT Hộ Giác th́ chạy theo HT Tâm Châu để bảo vệ
chức Đại Tá Phó Giám Đốc Nha Tuyên Úy PG! Không có ngày 30.4.1975
th́ nỗi đau nhục Ấn Quang–VNQT đó không biết đến ngày nào mới hết.
Thống nhất là để thực hiện một sự kết hợp. Sự kết hợp đă được
thực hiện th́ cần đoàn kết chứ không cần thống nhất nữa. VN đă là
một, PG tất yếu cũng phải là một v́ thực tế quốc gia cũng như v́ nhu
cầu hành đạo.
Tấm Gương Sáng
Trong quan hệ với quyền lực thế trị, PG trước sau chỉ có
thể là ông thầy hay gương sáng đạo đức và kẻ trọng tài về các chính
sách được nhà nước đem ra thực hiện. Theo Phật không phải là đi
ngược con đường Phật đă đi, và con đường Phật đi là con đường từ bỏ
quyền lực thế trị để làm thầy, chứ không tranh bá đồ vương. Phật
không phải là Vua của các vua, Phật là Thầy của các vua.
Người Tây phương đă chấm dứt áp bức, bóc lột, đă phục
hồi tự do và nhân phẩm, đă đ̣i lại quyền làm người và quyền hưởng
dụng tài sản làm ra, bằng cuộc cách mạng 1789 ở Pháp. Cuộc cách mạng
nầy đă đánh tan liên minh thần thánh giữa thần quyền độc tôn độc
thiện với thế quyền toàn trị độc đoán. Người Tây phương đă có tất cả
những ǵ họ muốn có, đang hưởng tất cả những ǵ họ muốn hưởng. Sự
hưởng thụ vật chất phồn vinh đó đang đạt đến mức ngầy ngật bảo ḥa
khiến người Tây phương phải phân vân tự hỏi ḿnh đang đứng ở đâu? sẽ
đi đến đâu? Tôn giáo, triết lư, chính trị, văn học, nghệ thuật
truyền thống không giúp họ câu trả lời. PG có thể xuất hiện như
một câu trả lời càng ngày càng có nhiều người lưu tâm chọn lựa.
Trong lúc Tây phương đang ngấy tận cổ với nền văn minh
vật chất hưởng thụ của ḿnh th́ các nước nghèo đang phát triển, VN
là một, lại cuống cuồng hăm hở dấn thân vào đường văn minh đó. PG
có thể xuất hiện như một cảnh tỉnh, một hướng đi khác của cuộc đời
cho lớp trẻ.
Lượng tính của trần gian khó có thể biến thành phẩm chất
tối hậu cho cuộc đời. Đói khổ có thể làm con người đánh mất nhân
tính nhân phẩm, và phồn vinh thừa mứa cũng có thể biến con người
thành quái vật. PG có thể xuất hiện như một thăng tiến quân b́nh
cho tất cả mọi người.
Đó là những hướng hành thiện thiết thực khả hữu của PG
nơi lưu đày cũng như ở quê nhà. Giáo hội, đoàn thể, tổ chức, danh
phận, chức tước chỉ cần thiết và có ư nghĩa nếu để theo đuổi thực
hiện những công cuộc hành thiện đó. Bằng không, những thứ đó sẽ chỉ
là gông cùm xiềng xích tay chân, chỉ là những mụn nhọt ghẻ lở trên
xác thân của những kẻ vụng tu.
PG nhờ dân tộc mà có cơ hội thi hành công quả, dân tộc
nhờ có PG mà thăng tiến, không đọa lạc. Chính là v́ vậy mà có thể
nói phục vụ dân tộc là phục vụ PG, và phục vụ PG là phục vụ dân tộc.
Đó là một bài học nữa về hành trạng và cuộc đời Thầy.
Hoàng Nguyên Nhuận
Phong Trang 30/10/1999 - Trại Đỗ Quyên 19/10/2005. |