|
KỶ NIỆM 100 NĂM PHONG TRÀO ĐƠNG DU
(1905-2005)
MỘT VÀI SUY NGHĨ THÊM VỀ ĐÔNG DU
Trần Viết Ngạc
1. Nhờ ông
giúp sức khơi ḍng đầu,
Người
vượt trùng dương ngày càng nhiều.(1)
Người
khơi ḍng đầu cho Phong trào Đông du không ai khác hơn là Tăng Bạt Hổ. Chẳng
những Phan Bội Châu và Đặng Tử Mẫn khắc tên Ông đầu tiên trên bảng Việt Nam
Nghĩa Liệt v́ ông là “ngọn sóng trước tiên của lớp thuỷ triều mới đang bành
trướng, ngọn lửa đầu tiên của bộ máy đang bộc phát” (2) mà Nguyễn Thượng Hiền
cũng đánh giá cao hành động của ông là “kết thúc nghĩa hội cũ mà mở ra nghĩa hội
mới”. (3)
Tăng Bạt
Hổ (1858- 1906) tên thật là Tăng Doăn Văn, “tên chữ là Sư Triệu, người tỉnh B́nh
Định, bổn tính hào mại, kiến thức thấu suốt, khí phách cương nghị. Trong lúc nói
năng th́ thái độ hoà nhă, dịu dàng, gần gũi người ta”… (4) đă chiến đấu trong
nghĩa hội Cần vương B́nh Định. Khi Cần Vương B́nh Định tan ră, ông thoát sang
Trung Hoa. Người Pháp xem ông là một phái viên rất đắc lực của Tôn Thất Thuyết
bấy giờ đang an trí ở Thiều Châu. Ông đi về thường xuyên giữa Quảng Đông và
Huế, nhờ thế mà sĩ phu ở Huế biết đến những biến động ở Viễn đông. Chẳng những
đọc tân thư, ông c̣n lặn lội khắp vùng đông Á: Trung Hoa, Nhật Bản, Đài Loan và
từng xuống đến Nam Dương (Indonesia).
Mối quan
hệ giữa phái viên và chàng rể quan Phụ Chính hẳn đă gợi mở ra nhiều vấn đề:
- Sự lạc
hậu của nền giáo dục từ chương khoa cử trên nền tảng tứ thư ngũ kinh.
- Phong
trào Cần vương thất bại, con đường giải phóng dân tộc lâm vào cuộc khủng hoảng
tư tưởng và bế tắc.
- Phải phá
ṿng kiềm hăm của thực dân đế quốc để đặt mối quan hệ với Đông Nam Á: nước Nhật
đă duy tân và hùng cường, Trung Hoa đang thức tỉnh…
Nguyễn
Thượng Hiền đă nhớ lại một trong những lần gặp gỡ ấy: “Mùa Xuân năm Mậu Tuất
(1898) Sư Triệu từ nước ngoài trốn về, gặp tôi ở Hà Thành, mới một lần mà đă như
bạn cũ… Tôi mới bàn với Sư Triệu là muốn cứu nước mà không lo kết nạp anh hào
và thăm ḍ con cháu các nhà có thù với giặc th́ không được…, nên đem họ xuất
dương , tôi luyện tài họ để ngày sau làm rường cột cho nước” (5)
Thật
không thể tin được rằng chính trong năm 1898 khi mà cuộc khởi nghĩa vô vọng của
Vơ Trứ và Trần Cao Vân ở Phú yên thất bại thảm hại th́ phong trào Đông Du đă
manh nha dù cho kế hoạch của Tăng và Nguyễn đă không thực hiện được.
Chúng tôi ngờ rằng
những cuốn tân thư đầu tiên mà Nguyễn Thượng Hiền đă có may mắn tiếp cận đă từ
tay Tăng Doăn Văn. Phan Bội Châu đă được đọc tân thư và nghe chuyện Tăng Bạt Hổ
từ Nguyễn Thượng Hiền: “… Tôi v́ xem những pho sách ấy mới hiểu qua được
t́nh trạng cạnh tranh ở trong hoàn hảo, thảm trạng quốc vong diệt chủng càng
kích thích trong vẻ sâu lắm. Tiên sinh lại kể những việc nghĩa dũng của ông
Tăng Bạt Hổ cho tôi nghe, tôi chôn sâu người ấy ở trong ḷng, và cái tư tương
phá cửa sổ lồng đến lúc đó mới manh động”(6)
Chẳng
những là “khơi múi, mở đầu”, Tăng Bạt Hổ c̣n là người dẫn đường cho Phan Bội
Châu đông du và tích cực giải quyết những khó khăn buổi đầu một cách hiệu quả.
Phan Bội Châu đă khắc hoạ chân dung Tăng một cách tuyệt đẹp:
“Ông tuổi ngoài bốn
mươi mà râu mày cốt cách, trời hạ sương thu, trông qua một lần mà biết chắc là
người duyệt lịch đă dày lắm. Ngồi nói chuyện, ông kể t́nh h́nh ngoài bể rất kỹ,
mà nói đến nhân vật nước Tàu hiện thời càng rạch ṛi như đếm tiền trong túi. Tôi
được gặp ông, mừng là trời trao…” (7)
2. Phan Bội
Châu và Cường Để
Sau khi gặp Tiểu La
và thống nhất ư kiến với vịêc t́m kiếm một Lê Trang Tông để ủng phù làm minh chủ
và không bằng ḷng với một Tôn Thất Toại “ khí thức ngó cũng tầm thường”, Phan
Bội Châu đă ra Huế lân la giao tiếp với con cháu Hiệp Hoà và con cả Đồng Khánh
nhưng không thấy ai tâm hợp. Cuối cùng, đă lâu ngày mới thăm ḍ được kỳ Ngoại
hầu là người “sẵn có chí lớn”.
Kỳ ngoại Hầu Cường
Để thuộc ḍng trưởng của vua Gia Long; hậu duệ của Anh Duệ Đông cung Nguyễn Phúc
Cảnh. Chẳng may, Đông cung mất sớmnên không thể kế thừa ngôi vị và Gia Long đă
chọn Hoàng tử thứ tư là Nguyễn Phúc Đảm kế vị thay v́ cháu đích tôn là Phúc
đường (Mỹ Đường) (8) mà đa số đại thần ủng hộ: Ông của Cường Để là con của Mỹ
Đường: Cảm Hoá công Lệ Chung ( Duệ Chung) Hàm hoá Hương công, con của Cảm Hoá,
là thân phụ của Cường Để.
Theo Cường Để, sau
khi vua Hàm Nghi bị bắt và bị đày, Phan đ́nh Phùng đă cho người liên lạc với Hàm
Hoá và muốn Hàm Hoá thay Hàm Nghi ở ngôi vị lănh đạo tinh thần cho phong trào
Cần Vương. Hàm hoá lấy cớ tuổi già muốn giao lại địa vị ấy cho Cường Để lúc bấy
giờ mới mười hai tuổi (1894). Việc không thực hiện được v́ phái viên của Phan
đ́nh Phùng là Hồ quư Châu lâm bệnh mất và năm sau cuộc khởi nghĩa Hương Khê
cũng chấm dứt cùng với sinh mệnh của người lănh đạo.(9) Mùa thu năm Quư Măo
(1903), khâm sứ Pháp Auvergne muốn truất phế Thành Thái, có thăm ḍ Cường Để để
thay thế nhưng việc không thành.
Lần thứ ba Cường Để
có cơ hội để trở thành bậc chí tôn là vào năm 1907. Vua Thành Thái bị truất phế
và Pháp cũng như triều đ́nh Huế t́m người kế vị. Thượng thư bộ công là Nguyễn
hữu Bài, theo Thiên Chúa giáo, đă không ngần ngại đề nghị với người Pháp cho
rước Cường Để, đang lưu vong ở Nhật Bản với cương vị Hội chủ Duy tân hội, về Huế
để đưa lên ngôi! Giải thích sự kiện này, tài liệu Pháp cho biết từ khi đặt nền
đô hộ, một phe phái đă h́nh thành trong giới quan lại và tín đồ Thiên Chúa giáo
với mục đích đưa ḍng trưởng của Đông cung Cảnh lên ngai vàng ở Huế (10). Không
có ǵ khó hiểu ước muốn của ḍng trưởng và ư đồ của tín đồ Thiên chúa giáo nếu
ta biết rằng Đông cung Cảnh có mối quan hệ thân thiết với Bá Đa Lộc và muốn cải
đạo. Xu hướng đó cũng thể hiện trong vịêc Cường Để giới thiệu Nguyễn Hữu Bài,
Đốc vận Hiền… tham gia Duy Tân hội năm 1904.(11)
Phải chăng chí lớn
của Cường Để xuất phát từ nhân thân của ông? Phải chăng v́ cảm nhận được điều
đó mà Phan Châu Trinh bài bác vị minh chủ của Duy Tân hội ? Sự thực lịch sử cho
thấy rằng Cường Để không cam chịu thân phận của một Lê Trang Tông – vị minh chủ
danh nghĩa- mà dần dà muốn có thực quyền, càng không phải thực quyền của một
người lănh đạo Duy Tân hội mà là thực quyền của một vị vua tương lai.
Trong
giai đọan đầu khi Duy Tân hội mới thành lập (1904) bên cạnh những Tiểu la Nguyễn
Thành (1863) Châu Thương Văn (1856), Đỗ đăng Tuyển (1856), Tăng Bạt Hổ (1858),
Phan Bội Châu (1867) th́ hội chủ chỉ là một thanh niên mới ng̣ai hai mươi tuổi
chưa có chút thành tích ǵ trong khoa bảng, học vấn cũng như đấu tranh. Vai tṛ
một vị minh chủ danh nghĩa c̣n non tuổi đời đă thể hiện rơ nét trong buổi đầu
xuất dương. Tại nhà Lưu vĩnh Phúc, nơi Tán tương Nguyễn Thiện Thuật tá túc, hai
vị lănh đạo họ Phan – một của Duy tân hội, một của Phong trào Duy tân công khai
– bàn luận chính trị. Phan Tây Hồ đă chỉ trích chế độ quân quyền thậm tệ, cho
rằng cái tệ quân chủ chuyên chế không trừ được th́ tuy phục quốc cũng chưa phải
là hạnh phúc! Chẳng những Cường Để chỉ “tựa cột mà nghe” mà sau đó trong một
bức thư gởi cho ḥang tộc ở Huế đă tư xưng là người thừa kế “giặc của dân”.
(12)
Dân tặc
hậu Cường Để bái cáo ư ngă tôn nhân liệt tôn…
Theo tài liệu của
Pháp, chữ dân tặc để chỉ ngôi quân chủ là một từ của Phan Châu Trinh đặt ra khi
đàm luận với các môn sinh của Lương Văn Can ở Hà Nội nhân khoa thi Hội năm Giáp
Th́n (1904), manh nha ư tưởng vềmột nền cộng ḥa… Cả những quan lại trung thành
với thực dân như Lê Hoan, Ḥang Trọng Phu cũng nhận được văn bản này. (13)
Và thật hợp lư khi
Phan Bội Châu đưa vị hội chủ vào học trường Chấn Vơ để được rèn luyện cùng với
Nguyễn Thức Canh, Lương Ngọc Luyến và Nguyễn Điển. Cường Để đă không chịu được
sự khổ luyện. Theo Nguyễn Thức Canh đến cuối năm 1906 Cường Để mới nhập trường
và rời trường và tháng 11-1907. Một năm học tập “lơ đểnh bài vở nhà trường nên
thành tích bỉ nhân ở trường Chấn Vơ bấy giờ thường vào hạng kém” (14)
Trước khi về nước,
Phan Châu Trinh đă căn dặn Phan Bội Châu “quốc dân hy vọng chỉ nơi ḿnh ông. Kỳ
ngọai hầu không cần ǵ đâu”. Lại ngơ lời với du học sinh trong bữa liên hoan
tiễn đưa “Khuyên anh em nên ra sức học hành, đến như vấn đề quốc thể và chính
trị tương lai th́ không muốn phát biểu ư kiến” (15)
Trong một bức thư
gởi riêng cho Cường Để, Phan Châu Trinh đả kích mạnh mẽ:
“Nhữ đặc bất quá
nhất học sinh, nhĩ kư vô quốc hỷ, hà sở vị dân? Kư vô dân hỹ, hà sở vị chủ…”
(Anh bất quá chỉ là
một sinh viên b́nh thường. Đă không có nước làm sao anh có quốc dân? Đă không
có quốc dân, anh xưng chủ với ai?...)
Tư liệu của Pháp cho
biết tức giận v́ những lời đả kích trên, Cường Để đă viết thư cho các quan lại
thân thiết của ông ở triều đ́nh Huế tố cáo thái độ chống quân chủ của Phan mà
hậu quả là bản án nặng nề dành cho Phan nhân vụ Chống thuế 1908. (16)
Thực ra chẳng cần
thư của Cường Để (nếu có), Phan Châu Trinh đă mua chuốc óan thù với tŕều đ́nh
Huế bằng thư gởi toàn quyền Paul Beau rồi! Cường Để sau khi rời trường Chấn Vơ
cũng là lúc học sinh Nam Kỳ du học ngày càng đông. Sự ngưỡng mộ của đồng bào
Nam Kỳ đối với hội chủ ḍng dơi Đông Cung cũng như sự tôn sùng vị hội chủ của
học sinh Nam Kỳ đă tạo cho Cường Để một tư thế mới. Các du học sinh diện kiến
Cường Để đều phải lạy 5 lạy như là nghi lễ quân thần!(17). Khác với du học sinh
Bắc Kỳ và Trung kỳ luôn coi Phan Bội Châu là người lănh đạo quan trọng và thực
sự của Hội, các học sinh Nam Kỳ c̣n nặng tư tưởng tôn quân đă xem Cường Để là
người lănh đạo cao nhất và Phan Bội Châu chỉ giữ vai tṛ phụ tá.
Cường Để lấy lại họ
Nguyễn Phúc, một cách từ chối cách đặt tên theo phiên hệ mà Minh Mệnh áp đặt cho
tất cả hậu duệ của 11 anh em của ông. Ông lấy tên Nguyễn Phúc Dân, tương tư như
tên của hai người con của Đông cung Cảnh là Phúc Thùy và Phúc Đường. Aán của
ông khắc Gia Thành (vương hiệu hay niên hiệu ?) khiến người ta liên tưởng đến
niên hiệu Gia Long của Thế tổ nhà Nguyễn (18).
3. Về tấm
ảnh Cường Để – Phan Bội Châu
|
 |
|
Ảnh Cường Để và Phan Bội Châu |
Tấm ảnh mà chúng tôi
muốn đề cập ở đây là tấm ảnh Cường Để và Phan Bộ Châu. Mấy điểm cần chú ư:
- Cường Để
và Phan Bội Châu đều mặc lễ phục Tây phương rất trang trọng.
- Ảnh được
chụp trong một tiệm ảnh chứ không phải ở trong nhà hay ng̣ai trời.
Hai điểm
đó cho thấy đây là là một tấm ảnh chính thức được chụp với một mục đích sử dụng
nào đó. Có điều Hội chủ th́ đứng trong khi vị tổng lư th́ ngồi ngay ngắn trên
ghế. Tấm ảnh v́ thế sẽ là lời cải chính những ai tin rằng Hội chủ Cường Để là
người lănh đạo đích thực và Phan Bội Châu chỉ là người phụ tá, cho dù là một phụ
tá đắc lực. Phải chăng không tiện nói rơ với học sinh Đông Du và nhất là học
sinh gốc Nam Kỳ, Phan Bội Châu đă chủ động và có dụng ư khi cho chụp tấm ảnh
trên?
Dù thế
nào chăng nữa, sau khi cả hai bị trục xuất ra khỏi đất Nhật, Phan Bội Châu và
Cường Để đă không c̣n gắn kết trong họat động. Khi thành lập Việt Nam Quang
Phục hội năm 1912 th́ hợp tác giữa Cường Để và Phan Bội Châu chỉ c̣n là danh
nghĩa. Việc Việt Nam Quang Phục hội minh định tôn chỉ của hội là “Khôi phục
Việt Nam, kiến lập Việt Nam Cộng ḥa Dân quốc” đă bị các đại biểu Nam Kỳ phản
đối. “Đồng bào trong Nam dối với Kỳ ngoại hầu tín ngưỡng rất sâu, năo chất ấy
chưa bỗng chốc mà đổi được”. (19)
Cường Để
lúc bấy giờ ở Hồng Kông đă tránh mặt không tham dự. Dù vậy, hội nghị thành lập
VNQPH vẫn dành cho Cường Để chức vụ Hội trưởng kiêm Bộ trưởng Tổng bộ.
Ông hội
trưởng Cường Để nói ǵ về tổ chức vừa được cải tổ:
“Tháng 5
năm Nhâm Tư (1912), ông Phan Bội Châu mời bỉ nhân về Quảng Châu để tiến hành sự
cải tổ Việt Nam Quang Phục hội, song bỉ nhân khi ấy mắc bệnh không về được, nên
viết thư giao quyền cho ông Phan tiện nghi hành sự. Oâng Phan được bầu chọn là
tổng lư, tức là người thay quyền hội chủ chấp hành việc hội. Hoàng Trọng Mậu
làm bí thư” (20) Vị hội trưởng đă không nói ǵ đến sự thay đổi tôn chỉ của
VNQPH, cũng không buồn nói đến tổ chức của hội gồm Tổng vụ bộ mà Cường Để đứng
đầu, B́nh nghị bộ và Chấp hành bộ gồm tất cả 15 người phụ trách. Hoàng trọng
Mậu chỉ giữ chức Quân vụ ủy viên lại được Cường Để xem là nhân vật thứ hai sau
Phan Bội Châu và không thừa nhận minh bạch chức hội trưởng của ḿnh.
Nhận xét
về tổ chức mới được thành lập, Cường Để viết:
“Nhưng
làm việc mà kinh tế tự ḿnh không có, chỉ có người ngoài giúp đỡ khó có kết quả
tốt nên những họat động của ông Phan hồi ấy lúc đầu tuy có rộn rực nhưng sau
chẳng khỏi im dần đi, cho đến cuối năm th́ cơ hồ không có ǵ nữa”.
Việc của
VNQPH là việc của ông Phan, và cơ hồ không c̣n ǵ vào cuối năm 1912. Không c̣n
ǵ hay c̣n ǵ th́ trên thực tế VNQPH không c̣n chỗ trong tâm trí Cường Để. Và
Cường Để có những họat động độc lập: về Nam Kỳ ba thánng (1913) quyên góp chừng
50.000 đồng, đi Aâu Châu tám tháng (1913-1914). Từ đó Cường Để hầu như không
c̣n họat động nào liên quan đến VNQPH dù trên danh nghĩa ông vẫn là hội trưởng.
Thậm chí khi đề cập đến cuộc khởi nghĩa năm 1916 mà vua Duy Tân đồng ư tham dự ,
cũng không biết (và làm như không biết?) rằng cuộc khởi nghĩa đó là do VNQPH
trong nước tổ chức. Cường Để cũng không hề nhắc đến cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên
(1917) do Lương Ngọc Quyến (người đồng chí đă cùng ông học một thời gian ở
trường Chấn Vơ) với danh nghĩa VNQPH. Từ năm 1912 cho đến lúc Phan Bôäi Châu bị
bắt (1925), Cường Để và Phan Bội Châu đă thực sự không c̣n chung chí hướng và
họat động.
Trần Viết Ngạc
Chú thích:
(1) Đặng Đoàn Bằng – Phan Thị Hán
Việt Nam Nghĩa liệt sữ, nguyên
tác Hán văn, bản dịch ủa Tôn Quang Phiệt, nxb Văn Học, Hà nội, 1972. Trang 32
(2) như trên, trang 25
(3) như trên, trang 26
(4) như trên, trang 32
(5) như trên, trang 34
(6) Phan Bội Châu – Tự phán, nxb
Anh Minh, Huế, 1956. Trang 27
(7) như trên, trang 42
(8) Nguyễn Phúc Đường tức Mỹ Đường,
Lệ Chung tức Duệ Chung.
(9) Cường Để, Cuộc đời cách mạng
Cường Để, nguyên tác Nhật ngữ do kư giả Tùng Lâm chấp bút, bản dịch của Ban
Tuyên truyền VNPQH. Tráng Liệt xuất bản, Sài G̣n, 1957
(10) Note sur l’agitation
anti-francaise depuis 10 ans et le parti nationaliste annamite. Annexe au
Rapport de M. le Gouverneur General de l’Indochine a` M. le Ministre. A.O.M, kư
hiệu 3F 34-65514. Tài liệu đánh máy, trang 15
(11) Cường Để, sđd, trang 14
(12) Note sur l’agitation..., tlđd,
trang 19
(13) Như trên, trang 21
(14) Cường Để, sđd, trang 25. Theo
Cường để th́ ông học ở Chấn Vơ từ giữa năm 1906 đến đầu 1908.
(15) Trần Trọng Khắc, Năm mươi bốn
năm hải ngoại. Cơ sở ấn loát Xây dụng, Sài g̣n, 1971, trang 28
(16) Note sur l’agitation..., tlđd,
trang 23
(17) Như trên, trang 27 (về vụ án
Gilbert Chiếu ở Mỹ Tho năm 1908)
(18) Như trên, trang 3
(19) Phan Bội Châu, Tự phán, sđd,
trang 146
(20) Cường Để, sđd, trang 54
- Ảnh Cường Để và Phan Bội Châu
- Bằng tốt nghiệp Khoa Anh ngữ
do trường Đông kinh Cao đẳng Sư phạm cấp cho Trần Trọng Khắc (tức Nguyễn Thức
Canh) năm 1917
- Bằng Bác sĩ Y khoa do đại học
Berlin (Đức quốc) cấp cho Trần Trọng Khắc, năm 1031 – Bản dịch tiếng Hoa do sứ
quán Trung hoa chứng.
|