|
CHIẾN TRƯỜNG BAGHDAD GIỮA L̉NG WASHINGTON
Anthony Darlic
Suốt tuần qua, TT Bush, Phó TT
Cheney và BT Quốc Pḥng Rumsfeld đă tả xung hữu chống trả những đợt tấn công
liên tục của phe đối lập và đám phản chiến diễn ra trên báo chí, trên làn sóng
điện, trên màn h́nh nhỏ, và cả trong ḷng ngươi dân Mỹ. Tại sao?
Cái Của Nợ WMD
Lúc phát khởi chiến tranh Iraq, TT
Bush bảo phải triệt Saddam Hussein v́ Iraq có WMD. Không hạ nó th́ nó hại ḿnh
và nước Mỹ sẽ lâm nguy. SH bị lật đổ, Baghdad tan tành, nhưng t́m đỏ mắt vẫn
không thấy SH dấu cái WMD chết tiệt ấy đâu cả. SH dám dấu của nợ ấy trong người
lắm? Nhưng khi SH bị bắt, an ninh đă cẩn thận vạch râu rờ bụng nâng bi của thằng
chả cũng chẳng thấy WMD đâu. Mặt khác, lực lượng công an cảnh sát, quân đội bị
giải giới đuổi về nhà, đảng Baath bị giải tán. Những công thần thủ túc của SH cứ
tà tà bị tó lần tó hồi. Thế là yên chí lớn. TT Bush ngồi chiến đấu cơ phản lực
ra hạm đội Địa Trung Hải hí hửng tuyên bố mission accomplie và ra lệnh
khởi đầu công cuộc b́nh định tái thiết và dân chủ hóa Iraq. Trước tiên là sửa
đường sá, trường học, bệnh viện đă bị bom và hỏa tiễn dập xác xơ, thứ nữa là sửa
lại nhà máy điện, nhà máy nước đă bịm bom chà láng.
Không ngờ b́nh Iraq đại cáo của TT
Bush lại vô h́nh chung bật đèn xanh cho đám âm binh như ma chui từ những đụn cát
lên bắt đầu quậy bằng bom biết đi, bom biết ngồi xe 4WD, bom biết lái xe
truck... nổ tùm lum tối tăm mặt mày. Các cuộc hành quân b́nh định cũng chẳng khả
quan ǵ. Nguyên tỉnh Fallujah do một ông đạo trẻ khích động ly khai, liên quân
với tàu bay tàu ḅ bừa lui cày tới sáu lần mà vẫn không dẹp yên. Gây sự với kẻ
bần cùng khố dây đă ngán rồi, gây sự với kẻ không sợ chết th́ chỉ có huề và thua.
Thua là khi đối phương hại được ḿnh, huề là đối phương bị đốn hạ trước khi hại
được ḿnh. Nhưng ngay trong trường hợp này th́ đối phương lại cũng tự cho là
chiến thắng, v́ nhờ bị giết mà được về thiên đàng với Thượng Đế!
Ba vụ nổ mới nhất xảy ra hôm thứ Sáu
18/11 làm cho ngót trăm người bỏ mạng, kể cả nhân viên an ninh Iraq và 5 chiến
binh Mỹ. Đây là vụ nổ đẩm máu kể từ ngày 14/9/2005 vừa qua khi phiến quân gây ra
một loạt 14 vụ nổ nội trong một ngày khiến cho hơn 160 người bỏ mạng. Kể từ khi
TT Bush tuyên bố khóa sổ chiến tranh th́ con số chiến binh Mỹ tử trận đă lên quá
số hai ngàn. Số thương vong người Iraq th́ chẳng mấy ai quan tâm kết toán, nhưng
xỉn xỉn chắc cũng phải trên 30 ngàn.
Chiến thắng lớn nhất của TT Bush ở
Iraq là thiết lập được một chính quyền lâm thời, trưng cầu dân ư một hiến pháp,
và chuẩn bị tổng tuyển cử vào cuối năm. Mấy năm nay, TT Bush và bộ tham mưu loay
hoay không t́m ra bằng cớ tại sao phải đánh Iraq và lật đổ SH th́ ít ra bây giờ
TT Bush h́nh như cũng đă t́m ra bằng cớ tại sao Mỹ phải ở lại Iraq. Bằng cớ đó
là Mỹ phải ở lại Iraq để bảo vệ tiền đồn Tự Do Dân Chủ Iraq, trong cái biển Hồi
giáo bao la thù nghịch.
Hai tuần qua, chiến trận Iraq đă
thực sự lan tràn đến Washington. Không phải với những người Trung Đông Hồi giáo
râu xồm x́ lô x́ la mà với những Nghị Sĩ, Dân Biểu của cả Dân Chủ lẫn Cộng Ḥa
và những người không chấp nhận chiến tranh.
Cuộc chiến bom đạn ở Baghdad lan đến
Washington lại biến thành cuộc chiến chữ nghĩa, h́nh ảnh và âm thanh, mà chiến
trường là các diễn đàn Quốc Hội, các tờ báo, radio, tivi, ṭa giảng tôn giáo,
sân khấu kịch trường, và công viên để biểu t́nh mít-tin. Cuộc chiến này đă gây
tổn thất cho phe TT Bush đáng kể.
Đồng Minh Trở Cờ
Hồi tháng 10/2002, khi TT Bush phát
động chiến tranh, 29 trong tổng số 44 TNS Dân Chủ đă bỏ phiếu ủng hộ TT Bush.
Thế nhưng mới đây chỉ có 5 TNS Dân Chủ bỏ phiếu chống lại nghị quyết kêu gọi rút
khỏi Iraq. Tiêu biểu nhất trong việc trở cờ của các vị dân cử Dân Chủ diều hâu
có lẽ là BD John Murtha, gốc Thủy Quân Lục Chiến, chuyên viên về các vấn đề quốc
pḥng từng ủng hộ TT Bush hết ḿnh, th́ nay lại bảo Mỹ chẳng có lợi ǵ ở Iraq mà
phải bám lấy.
TNS và DB Cộng Ḥa th́ khỏi nói.
Chăm phần chăm là cái cẳng! Thế đó mà trong một nghị quyết mới đây, các TNS lănh
tụ Cộng Ḥa ở TV đă trở giọng bảo năm 2006 phải là thời gian có ư nghĩa để
chuyển giao quyền tự quyết cho Iraq. Chủ Tịch Ủy Ban Quân Vụ TV, TNS Cộng Ḥa
John Warner c̣n nói rơ là thời gian từ 60 ngày đến 180 ngày tới sẽ quyết định
tương lai của Iraq và chính quyền Iraq phải lo giải quyết chuyện trong nhà với
nhau. Tắt một lời, sau 6 tháng có thể Mỹ sẽ cuốn gói ra về, các phe phái Iraq,
cụ thể là phe Shia đa số thân Iran đang được Mỹ giao cho quyền sinh sát trong
tay, phe Sunni thiểu số thân SH đang la oai oái bị bức hiếp, và phe Kurd từng
chịu khổ dài dài v́ bị coi là ngoại tộc, ba phe đó lo mà dàn xếp với nhau, được
không được ráng chịu. Như vậy, cứ cái đà này kéo dài th́ quá lắm là nội trong 6
tháng, TT Bush sẽ gặp phải t́nh cảnh như TT Johnson và TT Nixon đă gặp trong
chiến tranh Việt Nam. Leo thang hay bỏ cuộc?!
Ủng Hộ Bush Là Mỹ Gian?
Phe Cộng Ḥa và những con diều hâu
Dân Chủ đă mất niềm tin vào TT Bush, điều này đă gây ảnh hưởng dây chuyền khiến
cho quần chúng đâm hoang mang luôn. Cộng thêm vào đó là những chuyện x́ căn đan
cà trật cà duột như phản ứng của chính quyền trung ương trong trận băo Katrina,
giá nhiên liệu tăng vùn vụt chóng mặt, TT Bush bẽ bàng bị người trong đảng đá
gị lái trong vụ đề cử luật sư gia đ́nh Harriet Miers vào tối Cao Pháp Viện. Sau
ngày 11/9/2001 cũng như khi chiến tranh Iraq II mới phát động, nước Mỹ rụng rời
và thành phần không chấp nhận đường lối của TT Bush đều nín khe, mở miệng ra sợ
bị chụp mũ là Mỹ gian, un-American. T́nh trạng đó bây giờ không c̣n nữa, dư luận
bắt đầu thắc mắc và dân chúng bắt đầu biết suy nghĩ chứ không gọi dạ bảo vâng
nữa. Thế nên, cuộc điều tra dư luận từ ngày 30/10 đến 2/11 của tờ Washington
Post và ABC News cho thấy chỉ có 39 phần trăm dân Mỹ trưởng thành nghĩ cuộc
chiến Iraq là chính đáng, trong khi 60 phần trăm cho là không đáng. Lại nữa,
trong số 39% ủng hộ chiến tranh Iraq th́ chỉ có 25% ủng hộ hết ḿnh, trong số
60% chống th́ có đến 48% chống tận mạng. Mặt khác, trong số 39% ủng hộ th́ chỉ
có 20% chịu lề lối lănh đạo của TT Bush trong khi 47% chê dài.
Chỉ huy cuộc tổng công kích chính
trị tại Washington là những chiến tướng rất đa dạng, từ QH, truyền thông, Đảng
Dân Chủ và những thành phần nghĩ rằng chiến tranh Iraq không thể biện minh được.
Đầu tiên phải kể là cuộc điều tra ai
đă tiết lộ bí mật danh tánh của điệp viên CIA Valerie Plame. Gia đ́nh điệp viên
này cho rằng đây là một hành động để trả thù ông chồng bà Plame nguyên là Đại Sứ
Mỹ ở Phi châu thời Clinton, đă công khai chống chiến tranh Iraq. Đây là một hành
động xem như hạ sát đồng đội và có thể lănh 30 cuốn lịch. Hai người tạm thời
phải vác chiếu hầu ṭa là Karl Rove, Đổng Lư Văn Pḥng của TT Bush và Lewis
Scooter Libby, ĐLVP của Phó TT Cheney. Karl Rove chưa bị làm t́nh làm tội, nhưng
Libby th́ đă bị coi như có tội chờ ngày hầu ṭa. Bóng ma Watergate chờn vờn đâu
đó. TT Bush hay ít nữa là Phó TT Cheney liệu có thể núp sau Hiến Pháp để tránh
phải hầu ṭa không?
Ṿng Tḥng Lọng Quanh Cheney
Ṿng tḥng ḷng của dư luận ngày một
thắt chặt quanh Phó TT Cheney.
Trung tuần tháng 10/2005, Đại Tá hồi
hưu Lawrence Wilkerson tố cáo rằng hai kẻ chủ chốt bày mưu sắp kế đánh Iraq là
Phó TT Cheney và BT Quốc Pḥng Rumsfeld. Wilkerson thẳng thừng dùng chữ cabal
để chỉ âm mưu kéo bè kết cánh này. Lời tố cáo đó nặng kư v́ Wilkerson chẳng phải
là cha căng chú kiết mà chính là tùy viên thân cận và là ĐLVP của cựu Ngoại
Trưởng Colin Powell. Nói thế khác, lời tố cáo của Wilkerson là lời tố cáo của
Powell.
Quốc Hội Mỹ rục rịch lôi chuyện quan
hệ giữa Phó TT Cheney với các đại tài phiệt, đầu tiên là các tay tổ xăng dầu. QH
đă mở điều trần để biết xem phải chăng năm 2001, trước khi đánh Iraq, bộ tham
mưu của Phó TT Cheney đă họp với các tay tổ xăng dầu như Exxon Mobil, Shell, BP
và Conoco-Phillips để bàn thảo chính sách năng lượng cho quốc gia, một phần thảo
luận này đă trở thành luật lệ. Phó TT Cheney th́ vẫn dựa vào việc Hiến Pháp cho
phép những cuộc tiếp xúc riêng để không trả lời QH. Nhưng bất cứ cá nhân nào,
ngay cả các tay tổ doanh nghiệp thừa tiền dốt cháy thiên hạ, QH đă gọi th́ phải
nghe, đă hỏi mà trả lời lếu láo là ở tù dễ như chơi. Phải chăng v́ vậy mà sau
cuộc điều trần sơ khởi đó, giá xăng dầu bỗng tự động sụt xuống dù chiến tranh
loạn lạc, băo tố, động đất vẫn ỳ xèo không khác ǵ mấy tháng trước đây khi giá
xăng dầu tự động lên cắc ké leo cây. Tại sao? Có phải v́ mấy tay tổ cũng sợ QH
dùng quyền giám định để cho họ ngồi chơi lột lịch trong mát?
Mới đây, ṭa án đă truy tố Robert J.
Stein Jr., một viên chức chính quyền Quân Quản ở Iraq năm ngoái đă nhận
546.000MK hối lộ để cho một doanh nhân Mỹ lănh thầu các công tác tái thiết lên
đến 13 triệu MK. Số hối lộ này được chuyển vào chương mục của Stein và thân nhân
để thanh toán tiền mua nhà, mua xe và nữ trang. QH cũng đang nghiên cứu khoảng
50 hồ sơ lem nhem tương tự dù gặp rất nhiều trở ngại bao che thân thế.
Sau khi SH bị lật đổ, Mỹ đă để ra
một ngân sách khoảng 20 tỷ cho việc tái thiết. Đây là một món béo bở cho những
tay ma đầu trong lúc hỗn quan hỗn quân. Theo John Ralston Saul trong quyển
The Collapse of Globalism [, Viking Vic., 2005, tr.189] th́ trong chiến
tranh Iraq I do TT Bush lăo trượng phát động, tỷ lệ công tác do quân đội tự đảm
trách và công tác do các nhà thầu tư doanh cung cấp là 50/1, nghĩa là quân đội
làm 50 việc mới có 1 việc giao cho tư nhân, trong chiến tranh Iraq II do TT Bush
tiểu tử chủ xướng th́ tỷ lệ đó là 10/1. Và giá một việc do tư nhân làm th́ luôn
luôn ít ra cũng gấp đôi giá do quân đội thi công. Công ty nhận thầu nhiều nhất
là Halliburton. Trong chiến tranh Iraq II này, Halliburton đă trúng thầu hoặc
được cho lănh thầu khoảng 10 tỷ. Halliburton là công ty mà Phó TT Cheney từng
làm xếp trước khi nghỉ việc ra ứng cử với TT Bush. Ngày Cheney nghỉ việc,
Halliburton đă trả cho ông chủ trên 30 triệu hưu non để đi làm Phó TT. Một số DB
NS đă nổi sùng la toáng lên: Lưỡng viện QH do Cộng Ḥa kiểm soát đă mở 13 cuộc
điều trần về chuyện lem nhem trong chương tŕnh lấy dầu đổi thực phẩm thời c̣n
mồ ma SH, ấy vậy mà chuyện lem nhem trong các chương tŕnh tái thiết th́ QH chỉ
mới chịu điều tra một lần duy nhất. Khoan nói là QH chưa một lần thắc mắc về
cuộc chiến Iraq, một cuộc chiến đă làm cho Mỹ tốn sơ sơ 200 tỷ, cộng với hơn
2.050 binh sĩ tử trận, 16.000 bị thương, chưa kể hàng vạn dân Iraq. Tại sao vậy?!
Cheney-Bush Phản Công
Phe của TT Bush tất nhiên phải
phản công ồ ạt để tự vệ. Tả xung hữu đột quyết liệt nhất là Phó TT Cheney. Trong
bài nói chuyện tại
Frontiers of Freedom Institute, Phó TT Cheney gọi những kẻ phản đối chính quyền
là bất lương [dishonest], vô liêm sĩ [cynical], mất trí [losing their memory],
cơ hội [opportunist] và muốn viết lại lịch sử, nghĩa là nhổ rồi lại liếm. Phó TT
Cheney đặc biệt nhắm vào những chính khách của Đảng Dân Chủ từng ủng hộ chiến
tranh Iraq bây giờ trở cờ.
Người mà Cheney nhắm đến
nhiều nhất là cựu TT Clinton. Lên tiếng ở Dubai hôm thứ Tư 16/11/2005 vừa qua,
Clinton đă nói là SH không c̣n nữa. Đó là điều tốt, nhưng tôi không đồng ư với
điều đă làm. Đó là một lỗi lầm trầm trọng. Chính quyền Mỹ đă làm nhiều điều sai
lầm, một trong những sai lầm đó là dứt SH th́ dễ nhưng quy Iraq về một mối là
điều rất khó.
Phê b́nh của Clinton làm
cho bộ ba Bush-Cheney-Rumsfeld cáu sườn. Câu Cheney nói về bệnh mất trí và muốn
viết lại lịch sử là để ám chỉ Clinton trước tiên. V́ quả thực Clinton cũng chống
SH, cũng muốn thay đổi ở Iraq. Bằng chứng là năm 1998, Clinton kư ban hành Sắc
Luật Giải Phóng Iraq – Iraq Liberation Act. Chỉ khác một điều là văn kiện này
chỉ nói đến chuyện dùng chính trị và tuyên truyền để thay đổi chế độ. Ngân khoản
97 triệu dành cho kế hoạch này cũng khác hẳn ngân khoản 200 tỷ cộng thêm 2.050
tử sĩ và 16.000 thương binh mà TT Bush đă đổ vào Iraq.
Tờ Wahington Post ngày
thứ Bảy 19/11/2005 kể rằng một phụ nữ nạn nhân của vụ nổ hôm qua tên Um Ahmad
nhà bị sập, mặt bê bết máu me đă vẫy tay gọi các kư giả: Chụp h́nh đi! Chụp
nhiều vô những tấm h́nh ghi lại bi kịch thê thảm của chúng tôi đi. Đưa cho Bush
xem. Để cho ông sung sướng xem những tấm h́nh này. Để cho ông thấy ông đă làm ǵ
cho chúng tôi. Chúng tôi đă sống an lạc trước khi ông ấy đến quê hương chúng tôi.
Ai mất trí đây? Bà Um Ahmad có mất trí
chưa?
Và ba người ngự lâm pháo
thủ Bush-Cheney-Rumsfeld sẽ đương cự thế nào trong cuộc chiến Iraq ở...
Washington?
Cái Sảy Nẩy Cái Ung
Trong khi toà án liên bang đang điều
tra lănh tụ Khối Đa Số Thượng Viện là Thượng Nghị Sĩ Bill Frist về tội buôn bán
cổ phần lem nhem th́ ngày 29/9/2005, Dân Biểu Tom DeLay, phải từ chức lănh tụ
Khối Đa Số tại Hạ Viện để chờ ngày vác chiếu hầu ṭa về tội vi phạm luật bầu cử
của bang Texas.
Luật pháp Texas cấm ứng cử viên nhận
tiền của các đại công ty để tranh cử. DeLay lập hai ủy ban vận động tranh cử,
một ở Washington, một ở Texas. Năm 2002, ủy ban Texas quyên tiền của các tay đại
tài phiệt rồi chuyển về Washington, từ đó tiền được chuyển trở lại Texas cho các
ứng cử viên CH dùng như thể là tiền yểm trợ của đảng từ Wahington. 190.000MK đă
được chạy ṿng ṿng kiểu ấy để qua mặt luật lệ bầu cử của Texas. Đại bồi thẩm
đoàn của ủy ban điều tra đặc biệt nh́n thấy mánh lới lắc léo đó, thế là Tom
DeLay dính chấu.
Trèo cao té nặng, Tom DeLay là DB
Texas suốt 11 nhiệm kỳ qua, kẻ luôn luôn phất cờ tiên phong hô hào tự do kinh
doanh và chính quyền không nên can thiệp vào chuyện ăn làm của người ta. DeLay
là đồng chí thân cận của TT Bush, không chỉ là cận thần mà chính là một công
thần của TT Bush và Đảng CH.
Thật vậy, trong cuộc bầu cử năm 2002
đó, 17 ứng cử viên CH đă đắc cử, nhờ vậy mà lần đầu tiên trong 130 năm qua, CH
đă thao túng được Quốc Hội bang Texas. Thừa thắng xông lên, QH Texas làm luật vẽ
lại bản đồ các khu vực bầu cử có lợi cho CH, nên trong cuộc bầu cử 2004, có thêm
5 ứng cử viên CH bang Texas đă đắc của vào HV liên bang củng cố thế thượng phong
của CH ở QH liên bang. Phần lớn công trạng chiến thắng đó là của DeLay. Công đó
bây giờ trở thành tội.
Rồi đây, nếu ṭa xét thấy DeLay có
tội th́ DeLay có thể bị nhốt từ 6 tháng đến 2 năm và phạt vạ tối đa 100.000MK.
Chưa kể là DeLay cũng đang bị ủy bang tác phong đạo đức HV điều tra v́ tội nhận
bổng lộc quà cáp bất chánh. Nghĩa là nói ǵ th́ nói, cuộc đời chính trị của
DeLay xem như lúa.
Lănh tụ Khối Thiểu Số HV, DB Nancy
Pelosi của DC đă thừa thế dậu đổ b́m leo để đay nghiến chọc quê đối thủ cái chơi:
Phán quyết có tội đối với lănh tụ đa số Tom DeLay là bằng chứng mới nhất cho
thấy những đảng viên CH trong HV đă ngập mặt trong tệ nạn tham nhủng bất chấp
quyền lợi của dân chúng Mỹ.
Phán quyết DeLay có tội phải hầu ṭa
là một phán quyết lịch sử, bởi v́ trước nay chưa có một DB nào trong địa vị lănh
tụ ở HV bị kẹt như thế cả. Chưa kể là DeLay có thể kéo theo vài người khác cùng
rớt đài cho có bạn nữa.
Trước những đợt tấn công ồ ạt tứ
phía đó, Kevin Madden, phát ngôn viên của DeLay đă nổi sùng huỵch toẹt ăn miếng
trả miếng: Chúng nó không hạ được Tom Delay trong các cuộc bầu cử. Chúng nó
không địch nổi DeLay trên diễn đàn HV. Bây giờ th́ chúng nó t́m cách chơi ông ta
nơi vành móng ngựa.
Thần khẩu buộc xác phàm, những lời
hậm hực của Madden dám thành sự thực lắm, v́ ngoài vụ Tom DeLay, Đảng CH cũng
đang phải đối đầu với ba vụ khác, vụ nào cũng nặng cân cả. Thứ nhất vụ Scanlon-Abramoff,
thứ hai vụ Halliburton, và thứ ba vụ Libby-CIA.
Hủ Mắm Thối Hiệu Scanlon-Abramoff
Thứ Sáu vừa qua, Michael Scanlon đột
ngột trở cờ nhận tội đă âm mưu với Jack Abramoff để lừa đảo và hối mại mua chuộc
các DB, NS, các phụ tá của họ và các viên chức chính quyền.
Hành động đầu hàng của Scanlon có
thể làm bể hủ mắm thối mà hậu quả thế nào chưa ai biết được.
Scanlon và Abramoff là h́nh ảnh điển
h́nh của những tay phiêu lưu trong một môi trường mà mọi quyết định chính trị
đều có giá cả. Abramoff xuất thân từ ngành điện ảnh ở Hollywood và từng đạo diễn
một cuốn phim loại đánh đấm rẻ tiền với tựa đề Red Scorpion. Scanlon khởi nghiệp
với nghề giao tế cho DeLay. Nhưng công việc ba cọc ba đồng không làm hắn vừa
ḷng nên hắn bỏ ra làm nghề giao tế, mà thực chất la hối mại quyền thế, là mua
chuộc phiếu và sự đồng t́nh của những kẻ quyền thế nhất là trong ngành lập pháp.
Nghề đó gọi nôm na là nghề lobby hay lobbyist. Môi trường hoạt động của hắn là
Quốc Hội. B́nh phong nghề nghiệp của Scanlon và Abramoff là những văn pḥng giao
tế và tư vấn pháp luật. Abramoff dựng lên công ty Greenberg Traurig LLP và
Scanlon mở văn pḥng Alexander Strategy Group do hai đàn em thân cận của DeLay
là Edwin A. Buckham và Tony C. Rudy đứng ra cầm chịch. Rudy là phụ tá chánh văn
pḥng của DeLay cho đến năm 2001. Hơn nữa, bà DeLay là Christine cũng làm việc
cho Alexander Strategy Group từ năm 1998 đến năm 2002, lương tháng từ 3.200 đến
3.400MK, tổng số tiền bà đă lănh là 115.000MK. Christine DeLay làm ǵ mà lương
hậu thế? Dĩ nhiên là không phải lau bàn ghế, hút bụi văn pḥng, chùi cầu tiêu
hay bưng nước hầu khách cho mấy tên đàn em của chồng ḿnh ngày xưa.
Một số lănh tụ cộng đồng thổ triệu
phú muốn nhân danh chính nghĩa phục vụ cộng đồng để làm giàu thêm bằng nghề chứa
thổ đổ hồ trên những ṣng bạc nổi. Những người này muốn Quốc Hội, nếu không ủng
hộ họ th́ cũng đừng lời ra tiếng vào làm họ khó ăn làm. Họ cần những chuyên viên
giao tế lo cho họ việc đó. Họ đến gặp Abramoff và Abramoff giới thiệu họ qua gặp
Scanlon. Scanlon nhận lời giúp đỡ và trong bốn năm qua, Scanlon và Abramoff đă
moi được của các lănh tụ cộng đồng triệu phú thổ dân này một số tiền lên đến 80
triệu dùng vào chi phí giao tế với Quốc hội này. Số tiền moi được, sau khi trừ
chi phí, Scanlon và Abramoff đă chia đôi. Nhờ vậy cả hai sống như ông hoàng Á
Rập. Scanlon có nhà ở băi biển Rehoboth, dinh thự ở Saint Bart’s, appartment ở
Ritz Carlton, di chuyển bằng trực thăng từ Washington đến nhà mát ở băi biển.
Tiền chùa ngu chi không xài?! DB, NS và những tên tùy tùng của họ, cũng như mấy
lănh tụ triệu phú thổ dân đâu phải là những nhà từ thiện ăn cơm nhà lo chuyện
bao đồng mà tội nghiệp, không lợi dụng?!
Năm ngoái, Bộ Tư Pháp đă bí mật điều
tra Scanlon-Abramoff sau khi hay tin việc làm ám muội của cặp này. Có đến từ 30
đến 40 điều tra viên và công tố viên được điều động vào cuộc điều tra dính líu
đến khoảng 60 DB, NS và các phụ tá, các viên chức cao cấp trong đó có một số
đồng nghiệp của Abramoff, một cựu Thứ Trưởng Nội Vụ là J. Steven Griles, một
Chánh văn pḥng Sở Công Vụ Ṭa Bạch Ốc là David H. Safavian. Griles và Safavian
đă bị ngưng chức chờ ngày hầu ṭa v́ tội man khai và ngán trở thi hành luật pháp
trong vụ Abramoff. To thuyền to sóng, dĩ nhiên đa số là CH, làm sao không rầu
thúi ruột cho được?
Thấy Scanlon trở cờ nhận tội và đồng
thời sẵn sàng hoàn lại số tiền 19 triệu lừa đảo gian lận của của các thân chủ,
Abramoff đành phải nhận tội theo. Nếu xét có tội, Scanlon có thể bị tối đa 5 năm
tù và phạt vạ 200.000MK. Nhưng tôi trạng của Scanlon cũng có thể gia giảm tùy
mức độ thành thật khai báo để đái công chuộc tội. Nói thế khác, Scanlon có thể
tiếp tay với ṭa án truy tố Abramoff, và những hạm cao cấp tham ăn. Ví dụ như DB
Robert W. Ney thuộc Đảng CH bang Ohio, bị tố cáo là đă nhận nhiều quà cáp bổng
lộc như chi phí du lịch sang Scotland để đánh golf năm 2002, nhận 4000MK tặng
cho quỷ tranh cử của ḿnh, nhận 10 ngàn cho quỷ tranh cử liên bang của CH, ngoài
ra c̣n được vào quán ăn uống thả dàn và tính cho Abramoff, được cho vé đi xem
các trận tranh giải thể thao, vé đi chơi golf và chi phí linh tinh tại các sân
golf ở Washington.
Sau khi Scanlon-Abramoff thàn khẩn
tự giác cộng tác với ṭa án để đái công chuộc tội, th́ ṭa đă phán quyết Randy
"Duke" Cunningham, DB bang California phạm tội trốn thuế và nhận lươn lẹo để
nhận của đút lót lên đến gần 2 triệu rưỡi MK. Cunningham đă móc ngoặc ăn làm
chạy chọt cho các tên đầu nậu lănh thầu của Bộ Quốc Pḥng với thương vụ lên đến
160 triệu. Cunningham đă nhận tội và từ chức để chờ ngày ṭa tuyên phạt, có thể
lên đến 10 năm cho cả hai tội. Cunningham đă xin hứa hợp tác hết ḿnh với ṭa.
Cunningham là DB kỳ cựu của CH từng đắc cử liên tiếp 8 nhiệm kỳ qua.
Halliburton, Ai Bảo Đánh Iraq Là
Khổ?
Ngày 10/12/2004, thông tấn xă AP đă
loan tin là doanh số lănh thầu của đại công ty Halliburton đă vượt quá con số 10
tỷ sau khi Halliburton được Cục Công Binh cho lănh thầu 2 tỷ rưỡi để lo chuyện
tái thiết Iraq. Dĩ nhiên đó là doanh số Halliburton nhận được từ ngày chiến
tranh Iraq tái phát đến nay. Thượng vàng hạ cám, Halliburton bao thầu đủ thứ, từ
cung cấp nơi ăn chốn ở, hốt rác làm vệ sinh, giặt giũ áo quần cho binh lính, đến
chữa lửa các giếng dầu bị phá hoại, đến các công tác xây dựng tái thiết vĩ đại
và bao nhiêu thư lặt vặt khác, kể cả việc bảo đảm đưa xác tử sĩ hồi hương một
cách kín đáo...
Halliburton là công ty mà do Dick
Cheney là Tổng Giám Đốc từ năm 1995 đến năm 2000 trước khi nghỉ việc để ra ứng
cử Phó TT với Bush. Ngày nghỉ việc, Cheney đă được... bồi thường một số tiền hưu
non trên 30 triệu. Ơn đền nghĩa trả, Cheney là một người được xem là kiến trúc
sư chiến tranh Iraq 2. Cho nên, để bù lổ, Halliburton được chiếu cố hậu hỉ th́
cũng chẳng có ǵ ngạc nhiên.
Trâu cột ghét trâu ăn, nếu
Halliburton có bị nói vô nói ra, nói hành nói tỏi th́ cũng là chuyện tự nhiên.
Hậu quả là Bộ Quốc Pḥng, Thượng Viện, Hạ Viện, Bộ Tư Lệnh Liên Quân ở Baghdad
đều hướng những đôi mắt cú vọ vào Halliburton để xem có chuyện lem nhem giấy tờ,
tiền bạc, hối lộ, tính quá giá, ít xít nhiều, ăn thiệt làm dối...không? V́ quả
thực Halliburton từng bị tố là đă:
Thứ nhất, không thèm dự thầu mà vẫn
được kêu cho nhận thầu. Thứ hai, lănh tiền có khi lên đến cả tỷ bạc rồi mà cả
năm sau vẫn chưa hoàn tất giấy tờ thanh toán công tác. Thứ ba, cung cấp xăng dầu
cho quân đội rồi tha hồ tính bao nhiêu th́ tính. Một tố cáo này trị giá đến 61
triệu. Thứ tư, cho những doanh nhân khác thầu lại để ăn huê hồng hay hối lộ. Thứ
năm, bắt quân đội trả tiền các khẩu phần không hề được cung cấp. Hết đường chối
cải, Halliburton đă phải bồi hoàn 36 triệu, và c̣n trích ra một khoản gần 140
triệu nữa để trả lại cho Bộ Quốc Pḥng v́ món thực phẩm vàng mă này. Thứ sáu,
ṭa án Houston đang điều tra xem có đủ bằng chứng để truy tố Halliburton hay các
ban quản trị có thực vi phạm luật Mỹ cấm vận với Iran không? TT Bush từng tố cáo
Iran là tay đại ma đầu trong trục ma quỷ, là ổ khủng bố và kho vũ khí giết người
hàng loạt, thế nhưng Halliburton th́ vẫn buôn bán thong dong với Iran. Và điều
đó xảy ra trong lúc Cheney lănh đạo công ty này...
Có lẽ nhiều người chưa quên chánh
văn pḥng của Phó TT Cheney, là Scooter Libby đă mất chức và đang chờ ngày hầu
ṭa với cái án 30 năm tối đa về tội tiết lộ danh tính một nhân viên CIA đang
sống và c̣n tại ngũ. Giả dụ, Libby cũng như Scanlon, Abramoff lạnh cẳng với h́nh
ảnh tương lai ngồi lột 30 cuốn lịch nên muốn đái công chuộc tội mà khai lung
tung cả ra th́ sao đây?
Những Kiện Tướng Watergate Xuất
Hiện
Câu hỏi đó trở thành trầm trọng khi
người ta thấy hai kiện tướng của vụ Watergate năm xưa xuất hiện trở lại. Đó là
Daniel Ellsberg và Bob Woodward.
Năm 1971, Daniel Ellsberg là kẻ đă
bí mật trao cho tờ The New York Times toàn bộ hồ sơ chứng tỏ Mỹ đă chủ động kẹt
chân vào chiến tranh Việt Nam như thế nào. Có thể nói, tập tài liệu The Pentagon
Papers đă góp phần không nhỏ vào việc kết thúc cuộc chiến Việt Nam, khi những
tài liệu Ngũ Giác Đài này cho người Mỹ thấy việc nhúng tay của Mỹ vào Đông Dương
đă có vấn đề như thế nào, và từ có vấn đề đến bế tắc, từ bế tắc đến leo thang
sắt máu như thế nào.
Mùa lễ tạ ơn này, Ellsberg đă cùng
với nhóm của mẹ tử sĩ Cyndy Sheehan đến nằm vạ trước trang trại Crawford của TT
Bush, quyết không cho ông thong dong ngủ nghê ăn nhậu trong khi chết chóc ở Iraq
chưa ngưng. Ellberg và những người biểu t́nh đă bị cảnh sát hốt về đồn về tội
phá rối trị an! Phải chăng Ellsberg muốn nói Iraq cũng chỉ là một Việt Nam khác?
Sau hết là Bob Woodward, phụ tá chủ
bút tờ The Washington Post, kẻ đă làm găy mất một chân ngai Tổng Thống của Nixon
bằng loạt bài về vụ Watergate.
Trở lại chuyện Scooter Libby. Libby
nhận ḿnh bật mí danh tính một nhân viên CIA nhưng một mực kê oan là ḿnh chỉ
lặp lại chuyện thiên hạ rù ŕ chứ chẳng có ǵ là tiết lộ bí mật cả. Giờ th́ bỗng
nhiên, Woodward cho ṭa biết là cái bí mật ấy Woodward đă nghe một người khác
nói trước đó rất lâu và Woodward giữ kín nguồn tin đó không tiết lộ cho ai cả.
Nói thế khác, không chỉ một ḿnh Libby ngoan cố không nhận tội hay lừa dối ủy
ban điều tra!
Khi Woodward bật mí chuyện ấy th́
Ṭa Bạch Ốc vội vàng ra một thông cáo minh xác là ai nói không biết, nhưng chắc
chắn là có 5 người không hề bật mí tin đó. Năm người đó là TT Bush, cựu Ngoại
Trưởng Powell, cựu Giám Đốc CIA George Tenet, và Đổng Lư Văn Pḥng Andy Card.
Trong cái danh sách vô can này,
người ta không thấy tên Karl Rove, chiến lược gia chính trị và cánh tay mặt kiêm
cái chân mặt của TT Bush. Mất Rove là Bush coi như con cua găy càng. Thứ hai là
NT Condy Rice và thứ ba là Stephen Hadley, thế chỗ Rice trong ghế Cố Vấn An Ninh
Quốc Gia.
Hadley là người đang bị nghi là
nguồn tin của Woodward. Khi được báo chí chất vấn tại sao không được nêu tên
trong bảng danh sách của Ṭa Bạch Ốc, th́ Hadley trả lời loanh quanh, không chối
mà cũng không nhận. Báo chí lại hỏi tiếp như vậy là Có hay Không th́ Hadley dùng
lăng ba vi bộ đáp gọn: Có sao nhận vậy [It is what it is.]
Chuyện ǵ sẽ xảy ra nếu nguồn tin
của Bob Woodward là Karl Rove hay Stephen Hadley? Đúng là bóng ma Watergate đang
lởn vởn trên Ṭa Bạch Cung...
[Theo VN-Sydney]
|