|
... KINH NGHIỆM, NỤ
CƯỜI NƯỚC MẮT
HUYỀN KHÔNG
Tôi tẩn mẩn đọc lại những lời Giáo Sư Nguyễn Khắc Hoạch viết riêng
cho tôi được in trong Kỷ Yếu Sinh Nhật mà thấy nhớ và cảm mộ tấm ḷng của Giáo
Sư vô cùng. T́nh cảm của hơn 40 năm quen biết giữa tôi và Ông lúc nào cũng nhẹ
nhàng, lặng lẽ, có khi phảng phất chút trang nghiêm của Đạo, chút tịch mịch của
Triết và nhiều nhất, là niềm cô đơn thân mật của Thơ. Thỉnh thoảng có gặp nhau,
bắt đầu cũng là hương trà cổ kính và câu chuyện trôi về những bến bờ thẩm mỹ
thanh khiết, xa rất xa những ồn loạn phố thị, những lôi cuốn phồn hoa. Dáng dấp
người nghệ sĩ đích thực như là phong thái một đời của Trần Hồng Châu, cuối cùng,
có khác chi h́nh ảnh một tu sĩ, ung dung với cảnh sống tịch lặng, lúc nào cũng
thiết tha chân thành với Đạo - Đạo ở đây là con đường đi của những lời thơ,
những trang chữ được viết ra với tất cả sự trân trọng yêu quư, phơi trải hết tất
cả vẻ đẹp long lanh của tinh thần. Đó là một vẻ đẹp nguyên vẹn về cuộc đời Trần
Hồng Châu mà tôi có, tôi đă giữ lại... cho tới lần gặp sau cùng khi ông đang nằm
khắc khoải trên giường bệnh, mà khi bốn mắt chạm nhau, ông cũng vẫn miệng cười
ấm áp. Tuy sức khỏe đă đến hồi suy kiệt, không gượng dậy nỗi, Ông cũng mới vừa
cho in xong tác phẩm cuối của đời ḿnh ‘Suối Tím’, đem kư tặng bạn như gửi gắm
một lời từ giă. Tôi may mắn và hân hạnh là người đầu tiên được tác giả đề tặng
sách, cuốn sách nằm im nơi ngực trái, chờ bàn tay ngón đă run, viết mấy lời của
trái tim thơ dường như đă tiên liệu một xa cách ngh́n trùng đang ló dạng. Nước
mắt tôi xúc động trào ra ḥa với cũng đôi ḍng nước mắt lặng lẽ của người yêu
chữ chảy vào biển t́nh văn nghệ bao la. Rơ ràng, Ông chính là vẻ đẹp của những
bài thơ đậm mầu trí tuệ của ông. Ông chính là hương thơm và màu sắc của những
trang tùy bút nhẹ nhàng tươi tắn của Ông. Văn, thơ đó chính là Người, một Người
đă sống tới cạn cuộc đời ḿnh bằng suy tư trí thức, với chữ nghĩa rộng lượng.
Tôi thương Giáo Sư với một t́nh thương nồng nàn như thế và tôi cũng từng ví Ông
như con bướm vàng bay vờn trên các vườn hoa mỗi khi có dịp được nghe ông giảng
bài hay nói chuyện.
Giao t́nh giữa chúng tôi có để lại cho Ông một chút bối rối lúc cuối
đời. Số là tôi có yêu cầu Ông viết đôi lời cho lần in lại tập sách Ảnh Hưởng
Phật Giáo trong Nền Văn Hóa Việt
Nam.
Lư do để có lời yêu cầu đó là v́ đề tài là nội dung buổi nói chuyện của tôi tại
Đại Học Văn Khoa Saigon năm 1960, trước lúc tôi lên đường du học. Và gần gũi hơn
nữa là v́ ông đă đảm nhận trọng trách Khoa Trưởng Văn Khoa trong một thời gian
dài. Ông đă rất hoan hỷ nhận lời. Viết đi rồi viết lại, không ưng ư, lại khởi sự
viết... Cho tới lúc bệnh tới mà việc chưa thành. Có lẽ đó là một gợn bận tâm đă
có trong ḷng Ông bởi v́ theo ông, cái ǵ được hiến tặng qua lại giữa chúng tôi
với nhau phải là những kỹ vật. Mà kỹ vật của ông th́ tôi c̣n giữ lại rất nhiều:
5, 6 tác phẩm là công tŕnh thai nghén một đời, Bức h́nh tượng Phật xưa bằng gỗ
Chiên Đàn mà Ấn Độ đă tặng cho thành phố Trường An... Bức tượng nầy là kỷ niệm
của ngày gặp lại Ông ở Los Angeles sau nhiều năm Ông kẹt lại trong nước. Tặng
phẩm đó Ông muốn tôi lưu giữ một phần là cảm t́nh nồng hậu và phần khác, Ông
cũng hy vọng rằng tôi sẽ là người biết ǵn giữ. Tôi treo bức ảnh ở chỗ trang
trọng nhất bên cửa ra vào của Chùa Việt Nam Los Angeles cho ai tới chùa cũng
được cơ duyên nh́n thấy tượng xưa. Thu năm nay cũng là gần tới ngày kỷ niệm húy
nhật 2 năm của Ông. Chẳng biết bây giờ Ông đang vân du chốn nào. Mỗi lần nh́n
lại bức tượng Phật xưa, tôi nhớ Ông, nhớ tha thiết Trần Hồng Châu Nguyễn Khắc
Hoạïch, đă có một lúc nào đem đôi mắt hiền lành trí tuệ cúi xuống trầm ngâm trên
hàng chữ mới vừa viết xong cho riêng một người mà hành hoạt một đời dường như...
Huyền Không đă sống trọn vẹn kinh nghiệm, nụ cười nước mắt...
Tôi không nghĩ là câu nói ấy lột tả đúng đắn nhất những ǵ tôi đă
gặt hái trên đường đời tôi đă đi. Mọi sự xẩy tới cho tôi, tôi nghĩ vẫn rất nhiều
ưu đăi. Đôi khi phải giáp mặt với những phút khó khăn, nhưng rồi cũng qua, tôi
vẫn giữ nụ cười lành như chưa từng vấn vương nước mắt. Ngay cả những lúc ch́m
sâu trong nổi cô liêu tận cùng mà nhớ tới câu nói...kinh nghiệm, nụ cười nước
mắt... là tôi nghĩ ngay tới Thầy Thiện Minh. Chính Thầy, cả cuộc đời của Thầy,
những giấc mộng dở dang Thầy hằng ôm ấp cho Đạo, cho Đời... đă bị chôn sâu dưới
chiếc bóng nặng nề của câu nói ấy. Thầy Thiện Minh, nhà lănh đạo lỗi lạc và quư
hiếm của Phật Giáo Việt Nam trong nửa cuối thế kỷ 20 đă sống và chết với trọn
vẹn giấc mộng đời ḿnh. Giấc mộng đó là Độc Lập cho Dân Tộc, Ḥa B́nh cho Đất
Nước, Dân Chủ Tự Do cho Con Người. Dân Tộc, Đất Nước và Con Người ở đây là Việt
Nam. Chọn lựa sống cho giấc mộng đó, Thầy trở thành người tù của mọi chế độ thực
dân, độc tài và ngoại thuộc. Không một chế độ nào biết đối xử bao dung với Thầy
dù Thầy trong cương vị bảo về quyền dân lúc nào cũng kiên nhẫn và rộng lượng với
mọi chế độ. Thầy sẵn sàng giúp đỡ, che chở cho rất nhiều người mà dẫu sau đó,
nhận lại những ơ thờ, quên lăng, th́ Thầy cũng mỉm cười tha thứ, chẳng bận ḷng
trách cứ. Tôi nhớ măi một cố sự về Thầy phản ảnh rất cụ thể tấm ḷng rộng mở của
Thầy. Năm 1969, Thầy rủ tôi cùng đi Nhật Bổn, trước là để chữa bệnh, sau lần
chấn thương v́ lựu đạn trước Tổng Vụ Thanh Niên, sau là với tư cách một nhà lănh
đạo PGVN đi thăm viếng và cám ơn chính phủ cùng nhân dân Nhật đă tỏ ḷng ủng hộ,
chia xẻ với PGVN trong các cuộc đấu tranh 1963, 1966... Chúng tôi chọn ở Prince
Hotel để có pḥng tiện nghi nhằm tiếp khách và lập một lịch tŕnh thăm viếng chi
tiết, trong đó có tới viếng Ông Bộ Trưởng Ngoại Giao. Đầu tiên, nghĩ tới những
ân nghĩa cũ với Ông Đại Sứ Việt Nam ở Tokyo, Thầy nhờ tôi điện thoại để mượn xe
của Ṭa Đại Sứ, dùng cho việc thăm viếng thêm trịnh trọng, nhưng được Ông Đại Sứ
trả lời là ‘xe hư hết cả rồi, không có xe cho Thầy mượn’. Thầy buồn, rưng rưng
nước mắt, nghĩ miên man đến t́nh đời và thở ra. Tôi phải liên lạc với Ông Nghị
Sĩ Chủ Tịch Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện để nhờ giúp đỡ. Ông sốt sắng đáp ứng,
cho xe và tài xế để Thầy Thiện Minh xử dụng toàn thời gian ở Nhật. Ông Nghị Sĩ
c̣n làm trung gian thu xếp để Ngoại Trưởng Miki gặp gỡ Thầy trong một tiệc khoản
đăi mở rộng có sự tham dự thêm của 16 Tổng Trưởng và Nghị Sĩ Nhật. Trước khi
nhập tiệc, Ông Ngoại Trưởng đă thay mặt quan khách và chính phủ nói mấy lời chào
đón và xin được tiếp Thầy như một quốc khách. Tiệc tàn, và đúng như lời báo
trước của ông Bí Thư Bộ Ngoại Giao với Ṭa Đại Sứ VN, là chúng tôi sẽ đến vấn an
Ông Đại Sứ vào lúc 5 giờ chiều. Tới nơi, cuộc gặp gỡ đă diễn ra trong thân mật,
vui vẻ. Hôm sau, Ông Bà Đại Sứ thân hành đến Hotel để thăm trả Thầy Thiện Minh
và cho biết rằng xe đă sửa xong, muốn đem cho Thầy mượn. Thầy hoan hỉ từ chối v́
không c̣n nhu cầu nữa. Để đánh tan sự áy náy trong ḷng, ông Đại Sứ muốn mời
Thầy đến Ṭa Đại Sứ ăn cơm. Thầy nhận lời. Tôi bất b́nh cự nự, nhưng Thầy cười
hiền: Ḿnh không nên ‘cạn tàu ráo mán, mà tội! Thầy ơi, cả đời Thầy, Thầy nhận
chịu cho người ta ‘cạn tàu ráo mán’ với Thầy, c̣n Thầy th́...
Đă 27 năm đi qua kể từ ngày thầy bỏ thân nơi nhà tù Hàm Tân lạnh lẽo
- Giác linh Thầy chắc vẫn c̣n nhớ chuyến đi nhiều kỷ niệm kia. Bên cảnh Phật,
tôi chắc là cũng nhiều khi Thầy c̣n đoái thương thế giới Ta Bà, ngoảnh nh́n lại
mà xót xa hơn cho những ... kinh nghiệm, nụ cười nước mắt...
Hai mươi bảy năm, chúng tôi, bạc phận lênh đênh, nhớ Thầy, chỉ biết
khóc thương thầm lặng. Hai mươi bảy năm rồi mà Đất Nước vẫn chưa đủ sự rộng
lượng để tưởng nhớ và dựng lại đích thực một h́nh bóng Thích Thiện Minh lịch sử.
Biết đến bao giờ mới thôi nỗi đoạn trường ... kinh nghiệm, nụ cười nước mắt!
Huyền
Không
|
|