WWW CHUYỂN LUÂN

 

Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm Mậu Tư-2008 Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

Trang chủ || Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
 

Góp nhặt cát đá

 

Tác giả

  Video clips
  Online số cũ từ 2003
  Các số báo trước 2003
   

 

Nối Kết:

      

   
  Tác phẩm chọn lọc
  Thầy Nhất Hạnh
   

 

 GIẢI PHẪU MỘT CUỘC CƯỚP NGAI VÀNG

 

Cùng với bài viết mà tác giả gởi cho Chuyển Luân tháng 12/2005 này là lời nhắn gửi qua điện thư ngày 24/11/05 nguyên văn:

Hoàng tiên sinh nhă giám,

Bài Cuộc Truất Phế Bảo Đại, 23/10/1055 là trong tập I Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng. Tôi đă tốn công khá nhiều để hiệu đính nó trong thời gian ở Việt Nam. Không chỉ để cho những người muốn suy tôn họ Ngô thấy rơ những sự thực phía sau cuộc soán ngôi của Ngô đ́nh NĐD, mà c̣n muốn để những người chỉ trông đợi ở ngoại cường sáng mắt, hy vọng sẽ tỉnh ngộ. Ḿnh già rồi, tiên sinh ơi. Nhưng tôi nghĩ cái tinh thần kẻ sĩ VN c̣n rực lửa.

Chúc hai bác an vui.

Thân quư.     

Chính Đạo

Bấy nhiêu lời đó tưởng cũng đủ nói lên lư do hiện diên của bài này, cũng như bao nhiêu tác phẩm rất công phu, có giá trị rất cao cả về chuyên môn sử học lẫn t́nh tự quê hương của Chính Đạo Vũ Ngự Chiêu trên diễn đàn Chuyển Luân. Một điều nữa làm cho chúng tôi cảm thấy gần gũi với tác giả đó là quyết tâm giải thực và giải hoặc của tác giả. Dân tộc VN đă khốn đốn, và không khéo, sẽ c̣n khốn đốn v́ những kẻ lấy người ngoại quốc làm ông bà cha mẹ, làm thầy. Nhiệm vụ giải thực và giải hoặc do đó vẫn c̣n và vẫn cần đến những ng̣i bút như Chính Đạo Vũ Ngự Chiêu.

V́ những nguồn tài liệu trích dẫn đă được liệt kê rơ ràng, đầy đủ, đáp ứng nhu cầu nói có sách mách có chứng đến nơi đến chốn của tác giả, Chuyển Luân xin tạm thời bỏ những ngoặc đơn và ngoặc kép minh định các lời trích dẫn để bài viết giữ được không khí thanh thoát.

 

CUỘC TRUẤT PHẾ BẢO ĐẠI, 23/10/1955

Chính Đạo

 

Ngày 23/10/1955 đánh dấu một biến cố lịch sử quan trọng tại miền Nam vĩ tuyến 17, phần c̣n lại của chế độ Quốc Gia VN [QGVN]. Ngày này, theo cơ quan tuyên truyền của chính phủ QGVN, khoảng 5.8 triệu cử tri đi dự buổi Trưng Cầu Dân Ư, lựa chọn lănh tụ.  Một bên là Quốc trưởng Bảo Đại (1913-1997), ông vua cuối nhà Nguyễn, cũng người đă sáng lập ra chế độ QGVN từ năm 1949. Người khác đang thực sự cai trị miền Nam Tự do, chí sĩ Ngô Đ́nh Diệm (1897-1963), mới được BĐ cử làm Thủ tướng toàn quyền (kiêm nhiệm chức Tổng Tư lệnh Quân đội) hơn một năm trước. Khi kết quả được Bùi Văn Thinh công bố ngày 26/10, NĐD về đầu với 5,721,735 phiếu (98.2%). BĐ -đang ở Pháp, h́nh nộm và bích chương, khẩu hiệu tố cáo là tàn tích phong kiến, tay sai thực dân dàn dựng khắp nơi- được 63,107 phiếu (1.1%).(1) 

Mặc dù những lời tố cáo gian lận sôi nổi dư luận (đặc biệt là tỉ số 97.8% tổng số cử tri di bầu, trong khi đa số nông dân không biết đọc hay viết, các giáo phái và Việt Minh kêu gọi tẩy chay),(2) ba ngày sau, 26/10, NĐD -với một Thiên mệnh hay Ơn Trên mới- tự phong làm Tổng Thống VN Cộng Ḥa [VNCH]. Ba ngày sau nữa, 29/10, NĐD thành lập chính phủ VNCH đầu tiên. Chính phủ cách mạng nhân vị này gồm hầu hết nhân viên của chính phủ QGVN cải tổ ngày 10/5/1955. Chỉ đổi chức Tổng trưởng thành Bộ trưởng; và, Bộ trưởng Trần Văn Mẹo kiêm giữ Bộ Kinh tế.(3) 

Nửa thế kỷ qua, cuộc truất phế BĐ thường chỉ được đề cập dưới ánh sáng nội t́nh chính trị VN, giao t́nh cá nhân giữa Quốc trưởng BĐ và NĐD, cùng giá trị đạo đức nhị nguyên kiểu phản bội hay cách mạng. Biến cố mà nhiều người chờ đợi sau gần một năm biểu t́nh chống phong kiến, thực dân để biểu lộ khí thế cách mạng và tinh thần độc lập này chỉ là kịch bản địa phương cuối cùng. Thực ra, đây là một biến cố lịch sử chi phối nặng nề bởi nhiều ảnh hưởng quốc tế thuộc cả hai phe Cộng Sản và Tư Bản, trên bối cảnh của cuộc chiến tranh lạnh 1947-1991.

 

I. BỐI CẢNH CHIẾN TRANH LẠNH:

 

BĐ là một lá bài chính trị của Pháp, được sự ủng hộ của Giáo hội Vatican và siêu cường Mỹ, để giúp Pháp ư thức hệ hóa cuộc tái chiếm Đông Dương. Đây là thí nghiệm chính trị cuối cùng của Pháp sau nhiều thí nghiệm khác như Nam Kỳ Quốc tự trị, Tây kỳ tự trị, v.. v... Từ năm 1949, ông vua cuối nhà Nguyễn-đă thoái vị vào tháng 8/1945 với câu tuyên bố bất hủ, thà làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ -được đánh bóng lên thành biểu tượng của những người Việt yêu nước chân chính không Cộng Sản hay chống Cộng, thường tự xưng và được biết như người quốc gia.Nhưng phe chính phủ VN Dân Chủ Cộng Ḥa [VNDCCH] của Hồ Chí Minh-mà ṇng cốt do Đảng Cộng Sản Đông Dương [CSĐD] chi phối-không những có khả năng tồn tại trước đạo quân viễn chinh Pháp với vũ khí tối tân mà ngày càng vững mạnh hơn, nhất là từ sau khi Đảng Cộng Sản Trung Hoa [CSTH] chiếm được Hoa lục, đánh đuổi Tưởng Giới Thạch chạy ra Đài Loan năm 1949. Từ năm 1950, nhờ sự yểm trợ của Liên Xô và cố vấn quân sự cũng như chính trị Trung Cộng, chính phủ VNDCCH thoát khỏi ṿng vây của quân Pháp, đánh thông thương vùng biên giới Hoa-Việt, và thành lập được sáu đại đoàn (sư đoàn) chính qui.(4) Từ năm 1952-1953, Việt Minh cũng bắt đầu mở rộng chiến tranh vào vùng trung du và châu thổ sông Hồng, mở rộng lănh thổ kiểm soát hành chính. Quân viễn chinh Pháp bị rút vào thế thụ động, pḥng thủ hơn tấn công. 

Trước viễn ảnh không thể thắng trận, và thực trạng khó khăn về kinh tế-tài chính, mùa Thu 1953, chính phủ Joseph Laniel (6/1953-6/1954) t́m cách nghị ḥa. Cả Mat-scơ-va lẫn Bắc Kinh đều tiếp tay cho Pháp giải quyết vấn đề Đông Dương. Từ đầu năm 1954, Mat-scơ-va và Bắc Kinh không ngừng áp lực HCM phải chấp nhận chia cắt VN. Laniel c̣n đẩy mạnh hơn việc kiện toàn độc lập cho chế độ QGVN và chấp thuận Kế hoạch [Henri] Navarre, nhằm gia tăng Quân đội QGVN, giao cho người Việt trách nhiệm b́nh định, hầu tập trung các đơn vị Liên Hiệp Pháp để đáp ứng với các đại đoàn chính qui Việt Minh. Tháng 7/1953, Pháp đồng ư trả độc lập hoàn toàn cho QGVN.(5)  

Những bất lợi quân sự của Pháp tại Lào và vùng Tây Bắc Bắc Việt (vùng Thái tự trị)-với điểm nổ lịch sử Điện Biên Phủ-càng khiến Mỹ quan tâm hơn. Mỹ không thể đơn độc tham chiến vào Đông Dương, cần một liên minh quân sự nào đó. Chính phủ Dwight D. [Ike] Eisenhower (1953-1961), ít nữa vào đầu năm 1954, đă đi đến quyết định rằng thất trận ở Đông Dương sẽ gây đại họa cho Đông Nam Á. Mỹ sẵn sàng viện trợ 800 triệu Mỹ Kim cho tài khóa 1954, và ngân khoản tương tự cho tài khóa 1955. Tuy nhiên, đô-la Mỹ, và quân đội Pháp chưa đủ-cần sự tham gia của dân Việt. Mỹ muốn Pháp tiếp tục tham chiến ở Đông Dương, và sẵn sàng tài trợ, nhưng cũng muốn tạo một chính phủ quốc gia bản xứ đủ mạnh, đứng vững hai chân trên mặt đất.(6) 

Ngày 16/1/1954, Eisenhower thiết lập một Ủy Ban Đặc Biệt nghiên cứu về Đông Nam Á, gồm Tướng Walter B. Smith, Roger Keyes, Đề đốc Arthur Radford, Allen Dulles (CIA), và C.D. Jackson. Ngày 5/4, ủy ban trên cho rằng chính sách trong Nghị quyết NSC 5405 ngày 16/1/1954 vẫn c̣n hiệu lực [valid], và đề nghị phải đả bại Cộng Sản ở Đông Nam Á nói chung, Đông Dương nói riêng, có hay không có sự trợ giúp của các cường quốc Âu Châu. 

Nhưng Bri-tên của Winston Churchill không muốn tham chiến ở Đông Nam Á, và khuyên Mỹ chẳng nên can thiệp. Bởi thế, dù Pháp hai lần xin thực hiện kế hoạch Vulture vào ngày 4/4 và 22/4 -tức dùng không lực đánh tan các đại đơn vị Việt Minh ở Điện Biên Phủ, kể cả việc sử dụng bom nguyên tử nhỏ- kế hoạch này phải hủy bỏ.  

Khi Hội nghị Geneva về Đông Dương bắt đầu khai mạc ngày 8/5, Mỹ chỉ tham gia như quan sát viên. Đồng thời Mỹ muốn bảo đảm quyền tự quyết và vẹn toàn lănh thổ của những quốc gia trong vùng Đông Nam Á, giúp họ không bị lọt vào khối đế quốc Cộng Sản độc tài.(7) 

Trước viễn ảnh Pháp ngưng bắn với Việt Minh, chính phủ Eisenhower cố t́m cách giữ cho bằng được một phần VN, cùng hai quốc gia lân cận Lào-Miên. Mỹ muốn thực hiện một sách lược tay ba Mỹ-Pháp-Việt. Phần lănh thổ c̣n lại của Quốc Gia VN sẽ được hoàn toàn độc lập, do một lănh tụ thực sự quốc gia, và chống Cộng cầm đầu; với sự trợ giúp của lực lượng viễn chinh Pháp, và nguồn tài trợ Mỹ. V́ khủng hoảng tài chính, và v́ chưa muốn mất Đông Dương, chính phủ Pháp đồng ư.  

Con cờ VN tự do khá phức tạp. BĐ tiêu biểu cho sự hợp pháp của chế độ Quốc Gia với phe Thế giới tự do, nhưng không có khả năng lănh đạo, lười biếng, ít chăm lo đến quốc sự  và cũng chẳng có vai tṛ nào khác hơn một lớp màn che cửa. Ngày 20/1/1951, chẳng hạn, Đại sứ Heath cho rằng BĐ vẫn c̣n tự ti mặc cảm với Việt Minh; và có lẽ BĐ là "tay trùm chăn hàng đầu."(8) Khoảng một năm sau, ngày 12/5/1952, Heath ghi nhận rằng BĐ và HCM mỗi người cai trị khoảng 11 triệu dân. Phe BĐ có đông quân số, vũ khí tối tân, phi cơ, tàu chiến, các phương tiện vận chuyển, và tài lực dồi dào; trong khi Việt Minh [VM] chỉ có một số vũ khí của Trung Cộng viện trợ. Mỗi năm, Pháp tiêu hàng tỉ Mỹ Kim tại Đông Dương; Mỹ cũng viện trợ ngày một nhiều, có thể lên tới một tỉ vào cuối tài khoá 1953. Tuy nhiên, phe Pháp-BĐ vẫn chưa thể chiến thắng. Trước hết, quân sĩ VM được học tập chính trị, giữ được thế lưu động, có Trung Hoa làm hậu cần an toàn, và ngày một gia tăng viện trợ khiến kéo dài cuộc chiến. Ngoài những yếu tố trên, chính phủ HCM hữu hiệu hơn, quyết tâm hơn, và làm ăn hăng say hơn chính phủ "hợp pháp;" HCM, có công an mạnh hơn, tuyên truyền khôn khéo hơn và ư thức hệ Cộng sản, có thể bắt buộc hoặc thuyết phục dân chúng đóng thuế cao hơn-thông thường dành ra một nửa tổng số thu nhập quốc gia cho nỗ lực chiến tranh. Tại vùng Pháp kiểm soát, có sự thiếu tin tưởng và ngay cả thù hận Pháp, chồng chất qua giai đoạn bảo hộ và cũng khởi nguồn từ sự khác biệt chủng tộc. Giải pháp duy nhất là BĐ sẽ tạm thời nắm chức Thủ tướng, và mời những người có khả năng như Nguyễn Hữu Trí hay NĐD vào nội các, với chức vụ Phó Thủ Tướng. Heath đề nghị cả Pháp lẫn BĐ phải hành động ngay: Pháp cần tuyên bố quyết tham chiến ở Đông Dương tới cùng, ra tuyên ngôn về một chính sách "tiến hoá" (evolutionary statement) đối với nền độc lập của VN. Cần sửa đổi một số điều khoản lỗi thời trong Hiệp định 8/3/1949 và Hiệp ước Pau. Phải đẩy mạnh hơn việc thiết lập Quân đội VN [QĐVN], khuyến khích mở rộng thương mại với các nước Á châu không Cộng Sản và Nhật, khuyến khích việc phát triển tài chính, như ngân hàng và đầu tư. (9) 

Tuy nhiên, t́nh h́nh chiến sự của Pháp ngày càng suy thoái. Pháp chỉ có khả năng kéo dài ngày chiến bại hơn hy vọng chiến thắng. Tại các khu vực Pháp kiểm soát, 5 chính phủ Quốc Gia thay nhau bộc lộ sự bất lực. Sự sinh tồn của các chính phủ này hoàn toàn tùy thuộc vào quân lực viễn chinh Pháp và viện trợ Mỹ, qua Pháp. Bởi vậy, Mỹ áp lực Pháp trả độc lập hoàn toàn cho VN, hầu tạo một chính phủ thực sự quốc gia. BĐ sẽ được giữ làm v́, nhưng chức Thủ tướng phải trao cho một người quốc gia chưa từng xuất hiện trên khấu. Hai nhân vật được lưu ư nhất là đương kim Thủ Hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí, và NĐD, đang tu học tại Mỹ. Đại sứ Heath muốn ủng hộ một chế độ quân chủ lập hiến, với những cơ sở mô phỏng theo Mỹ như Thượng viện, Tối cao pháp viện.(10) 

Ngày 24/4/1954, hai ngày trước khi Hội nghị Geneva khai mạc, Ngoại trưởng Foster Dulles và Heath rất hài ḷng với lời tuyên bố của BĐ rằng người Việt chưa đánh trận Điện Biên Phủ của họ, và sẽ tiếp tục chiến đấu nếu Pháp triệt thoái khỏi Đông Dương.(11) Ngày 14/5, tức một tuần sau ngày Điện Biên Phủ thất thủ (7/5), Oat-shinh-tân muốn BĐ về nước ngay. Nếu BĐ không đồng ư, cần nói thẳng rằng Mỹ và Pháp phải xét lại chính sách với chế độ QGVN.(12) Tướng Smith cũng nói với Ngoại trưởng Nguyễn Quốc Định tại Geneva rằng BĐ không thể vắng mặt tại VN giữa lúc t́nh thế cực kỳ trầm trọng.(13) 

Ngày 17/5, Đại biện Mỹ tại Sài G̣n, Robert McClintock, yêu cầu Bộ Ngoại Giao khuyến khích BĐ hồi hương ngay. Trường hợp BĐ không chịu về, Pháp và Mỹ sẽ vận động các phần tử địa phương truất phế BĐ và thành lập một Hội Đồng Phụ Chính [Council of Regency], gồm có Bửu Lộc, Trần Văn Hữu, Lê Hữu Từ hoặc NĐD. Thủ hiến Trí có thể được giao lập chính phủ.(14) Tuy nhiên, ngày 20/5, Heath cho biết cần chịu đựng thí nghiệm BĐ thêm một thời gian.(15) Lư do chính là Pháp và Mỹ đang kiểm nghiệm vai tṛ NĐD. Do Pháp tiến cử, ngày 24/5, phái đoàn Mỹ tham dự Hội nghị Geneva gặp NĐD tại Ṭa Đại sứ Mỹ ở Paris. Dù không tin NĐD sẽ thành công, các viên chức Mỹ vẫn chấp nhận NĐD v́ những người tiền nhiệm quá tồi dở.(16)  

NĐD, tưởng nên lược nhắc, năm 1950, đă cùng anh là Giám mục Thục qua Mỹ xin viện trợ. Sau chuyến hành hương tại Vatican, NĐD trở lại Paris. Qua trung gian Nguyễn Trung Vinh và Bửu Kĩnh, NĐD gửi thư riêng cho BĐ, xin làm Thủ Tướng.(17) Sau đó, NĐD trở lại Mỹ nghiên cứu thể chế chính quyền Mỹ và tu học về tôn giáo. Dù cư ngụ trong các tu viện dưới quyền Hồng Y Francis Spellman, NĐD được đi diễn thuyết từ Chicago tới Đại học Cornell (Ithaca, New York), gặp gỡ viên chức ngoại giao, cùng các nhân vật quyền thế Mỹ như Thẩm phán Tối cao Pháp viện William O. Douglass, TNS Mike Mansfield, John F. Kennedy, Dân biểu Walter H. Judd, v.. v.... để rao bán một cuộc thánh chiến chống Cộng ở VN, dựa trên khối giáo dân Ki-tô. Năm 1953, NĐD qua Belgium, trú ngụ tại chủng viện Benedictine ở Saint-André-lès-Bruges, một trung tâm truyền giáo về vùng Viễn Đông. Tại đây, NĐD kết thân với Linh mục Raymond J. de Jaegher, người sẽ trở thành Giám đốc Hội Thái B́nh Dương Tự Do [Free Pacific Association] tại Sài G̣n.(18) Ưu thế của NĐD là khối giáo mục Ki-tô, lực lượng đă thống trị nền chính trị bản xứ từ 1862, nếu chẳng phải sớm hơn.(19)  

Do những dàn xếp hậu trường, ngày 14/5/1954, BĐ mời NĐD qua Paris bàn việc. Ba ngày sau, BĐ bí mật gặp Thứ trưởng Ngoại Giao Smith, xin Mỹ can thiệp, và cử Ngô Đ́nh Luyện (1914-1990), em út nhà họ Ngô, làm đại diện liên lạc với Mỹ. Ngày 18/5, Luyện xin gặp Smith, ḍ ư về việc NĐD thay Bửu Lộc. Ngày 24/5, NĐD xác nhận chi tiết này. Theo NĐD, BĐ cử NĐD về nước tham quan, v́ Bửu Lộc cố t́nh tŕ hoăn không chịu hồi hương, và đă bị cách chức.(20) V́ lư do nào đó, NĐD không về nước ngay như dự trù. 

Để chuẩn bị cho NĐD hồi hương, ngày 4/6/1954, chính phủ Laniel kư tắt [paraphé] Hiệp ước trả độc lập cho VN. Hiệp ước này gồm hai văn kiện chính: độc lập và hợp tác. Hai ngày sau, 6/6, Laniel cho NĐD thay Bửu Lộc.(21) 

Ngày 8/6-đúng ngày Ferdinand Frédéric Dupont thay Jacques Jacquet làm Bộ trưởng Các Quốc Gia Liên Kết-Đại sứ Bruce báo cáo là NĐD có thể làm Thủ tướng.(22) Tại Sài G̣n, ngày 12/6, Bửu Lộc tiết lộ sẽ từ chức để NĐD lên thay. Hôm sau, 13/6, Maurice Dejean, Phụ tá dân sự của Cao ủy Paul Ely từ ngày 3/6, xác nhận tin này. Tại Paris, ngày 14/6, NĐD cũng tuyên bố với Đại sứ Mỹ Douglas Dillon, rằng sắp được làm Thủ Tướng.(23) 

Một số viên chức Pháp-Mỹ tại VN không tán thành cả hai giải pháp BĐ hồi hương hay NĐD, và đề nghị thành lập một chính phủ đoàn kết quốc gia. Tướng Alessandri, Cố vấn quân sự của BĐ, nói với Robert McClintock: BĐ đă bỏ lỡ mọi cơ hội. Việc hồi hương của BĐ sẽ mang đến nhiều tai hại hơn lợi ích.(24) Tướng Francois de Langlade cho rằng nếu BĐ về nước chẳng khác ǵ lập lại kinh nghiệm Tưởng Giới Thạch. Trung tá Jean Léon Leroy, cựu Tư lệnh lực lượng Ki-tô giáo [UMDC] B́nh Đại tuyên bố chúng tôi chẳng muốn Cộng Sản hay quan chức. Chúng tôi không muốn BĐ.(25) 

Chủ Nhật, 13/6, Dejean tiết lộ với McClintock rằng sẽ yêu cầu BĐ lập tam đầu chế Lộc-Tâm-Hữu. Tâm sẽ giữ Quốc Pḥng-Nội Vụ; Hữu, Tài Chính-Kinh tế Quốc Gia; và Bửu Lộc, Ngoại Giao. Nguyễn Hữu Trí tiếp tục chức Thủ hiến Bắc Việt. McClintock đồng ư và yêu cầu Thứ trưởng Smith đề nghị tương tự với BĐ.(26) Chiều 15/6, trước khi về nước tham khảo, Ely cũng nói với McClintock rằng NĐD khó nối kết được các giai tầng xă hội, cần lập một chính phủ đoàn kết, gồm Bửu Lộc, Tâm và Hữu. Khi Ely hỏi ư kiến McClintock là ông ta có nên gặp BĐ chăng, McClintock đáp chẳng mang lại kết quả ǵ. Nếu BĐ về nước do áp lực tại Pháp chỉ tạo thêm nhức đầu hơn là sống ở Riveria. BĐ, theo McClintock, đă hết thời.(27)  

Thực ra, từ tháng 5/1954, McClintock đă yêu cầu cho BĐ thoái vị. Cả hai chính phủ Mỹ và Pháp, theo McClintock, đă quá tử tế với thân chủ người Việt. Nếu muốn độc lập họ phải hành động như những người độc lập. Đă đến lúc cắt cuống rốn cho đứa trẻ lớn lên. [The time had come to sever the umblical cord and to make the baby grow up.(28)

Giữa thời gian này, Laniel từ chức. Ngày 17/6, Pierre Mendès-France được ủy nhiệm làm Thủ tướng, sau khi hứa sẽ từ chức nếu không đạt được một hiệp ước với Việt Minh trong ṿng 4 tuần lễ.(29) NĐD xin Mendès-France được toàn quyền tới mùa Thu 1954, nhưng Thủ tướng Pháp rất e ngại về quan điểm không thương thuyết, không chia đôi đất nước của NĐD. Ngày 21/6, NĐD nhờ Heath can thiệp, tự tin sẽ thành công, v́ ḿnh là người nổi danh chỉ thua HCM [I am best known figure in Vietnam after Ho Chi Minh].(30) 

Ngày 26/6, NĐD đặt chân xuống Sài G̣n giữa t́nh thế cực kỳ hỗn loạn. Tướng Raoul Salan đă cho lệnh triệt thoái bốn tỉnh miền Nam Bắc Việt. NĐD nhiều lần can thiệp, nhưng Salan chỉ đồng ư cho quân đội QGVN thay Pháp giữ các tỉnh này. Ngày 29/6, NĐD cùng Nhu gặp McClintock, yêu cầu Mỹ áp lực Pháp đừng bỏ rơi Bắc Việt như một củ khoai nóng. NĐD c̣n yêu cầu di tản một số dân châu thổ sông Hồng, đặc biệt là giáo dân Ki-tô, trong trường hợp chia đôi đất nước. McClintock cho biết đă hai lần yêu cầu tương tự với Oat-shinh-tân (ngày 17 & 22/6/1954). Ngày 1/7, Dulles chỉ thị cho Đại sứ tại Paris can thiệp với Mendès-France về việc di tản châu thổ sông Hồng; và lưu ư Mendès-France về mối quan tâm của Mỹ với giáo dân Bùi Chu/Phát NĐD. 

Buổi gặp mặt Diệm-Nhu ngày 3/7 khiến McClintock cực kỳ thất vọng. NĐD than phiền về thái độ của Salan. Nhu than phiền về cuộc di tản Bùi Chu. Theo Nhu, oanh tạc cơ Pháp đă giết chết từ 10,000 tới 20,000 giáo dân khi họ muốn vượt cầu ra băi xuống tàu. Dân chúng Nam Định cũng bị bỏ lại. Xe Pháp chỉ chịu chở thường dân với giá 100 đồng mỗi người. McClintock nhận xét: Hai người được giao trọng trách thành lập một chính phủ mới của VN đang điên rồ ném [quả banh] thù hận vào người Pháp]. Theo McClintock, NĐD là nhà tiên tri không có lời rao giảng [a messiah without a message]. Ông ta biểu lộ quan điểm nông cạn và cái ta to lớn khiến ông ta là con người khó khăn để liên hệ. Chính sách duy nhất của ông ta là xin viện trợ tức khắc của Mỹ trên mọi lănh vực, kể cả việc cứu trợ dân di cư, huấn luyện binh sĩ và trang bị vũ khí. [Diem exhibited a narrowness of view and egotism which will make him a difficult man to deal with. His only formulated policy is to ask [for] immediate American assistance in every form including refugee relief, training of troops and armed military intervention].(31)

 

II. GIAI ĐOẠN HẬU GENEVA (7/1954-5/1955): 

Sau Hiệp định Geneva 1954, QGVN chỉ c̣n lại từ vĩ tuyến 17 về phía Nam. V́ đại diện QGVN không được thảo luận hay kư Hiệp định, NĐD vẫn tự cho ḿnh là Thủ tướng toàn quyền cả miền Bắc. Thực tế, NĐD chỉ c̣n cai quản miền Nam, dưới sự che chở của liên minh Pháp-Mỹ: quân đội Liên Hiệp Pháp và viện trợ Mỹ.(32) 

Việc duy tŕ đạo quân viễn chinh Pháp không có ǵ trở ngại. Theo tinh thần Hiệp định Geneva, Pháp phải triệt thoái quân khỏi Đông Dương trong ṿng 2 năm. Nhưng v́ muốn duy tŕ ảnh hưởng ở Đông Dương, Pháp đồng ư sẽ giữ một số quân vừa đủ bảo đảm an ninh nội bộ, nếu Mỹ chấp thuận chi viện. Tiền phí tổn dự trù vào khoảng 400 triệu Mỹ Kim. Bởi thế, ngày 27/7, trong khi nói chuyện với Đại sứ Dillon, Tổng trưởng Các Quốc Gia Liên Kết Charles Guy La Chambre tiết lộ rằng Tướng Augustin Guillaume, Tổng Tham Mưu trưởng Pháp, đă đồng ư việc BĐ xin giữ quân Pháp tại VN.(33) 

Điểm khác biệt giữa Pháp và Mỹ là cách viện trợ cho ba chính phủ bản xứ Đông Dương. Các viên chức Mỹ muốn viện trợ trực tiếp, trong khi Pháp muốn viện trợ qua Pháp. Ngày 27/7, La Chambre yêu cầu Mỹ tiếp tục viện trợ qua Pháp.(34) Nhưng hai ngày sau, 29/7, Quốc Hội Mỹ chấp thuận Dự Luật viện trợ trực tiếp cho Đông Dương.(35) 

Điểm dị biệt khác là nhân vật sẽ được giao phó vai tṛ lănh đạo miền Nam. Cả Pháp lẫn Mỹ đều có ư tái duyệt xét vai tṛ dụng cụ hữu ích của BĐ. Một số người muốn duy tŕ BĐ và chế độ quân chủ lập hiến. Người muốn giữ BĐ thêm một thời gian, chờ ngày t́m ra một lănh tụ đủ sức lôi kéo sự ủng hộ của các phe nhóm. Lại có người muốn bỏ hẳn BĐ, thành lập chế độ Cộng Ḥa. 

Ngày 27/7, La Chambre nói với Đại sứ Dillon là cần loại dần BĐ để thành lập một chế độ cộng hoà ở miền Nam.(36) Ngày 30/7, La Chambre giải thích thêm rằng hiện BĐ vẫn c̣n chỗ dụng, sẽ loại khi thời cơ đến.(37) Dịp cuối tuần 31/7-1/8/1954, La Chambre tái xác nhận cần chuẩn bị truất phế BĐ, và thành lập chế độ Cộng Hoà trong những tháng tới. Bửu Lộc có thể tham gia chính phủ mới để không bị mang tiếng.(38) Giữa tháng 8/1954, La Chambre từ chối tiếp kiến BĐ. Ngày 31/8, khi BĐ sai Nguyễn Đệ đến gặp La Chambre và Ely đề nghị cho hồi hương [vào ngày 2/9], Ely khuyên BĐ đừng nên về nước, và thêm rằng bất cứ ai do BĐ đề cử đều bị "nhiễm độc v́ long ân của BĐ," sẽ chẳng làm được điều ǵ hữu ích.(39) Ngày 25/9, khi gặp Smith tại Oat-shinh-tân, La Chambre lại nói có thể loại bỏ BĐ vĩnh viễn qua cách bầu cử Quốc hội.  Smith đồng ư.(40) 

Điểm khác biệt quan trọng giữa Pháp và Mỹ là NĐD. Các viên chức Pháp cho rằng NĐD, dù với toàn quyền dân và quân sự,  không đủ khả năng lănh đạo chế độ chống Cộng miền Nam, và muốn thay NĐD ngay sau ngày kư Hiệp ước Geneva. Một chuyên viên Pháp trong ban tham mưu của Tướng Ely từng nhận định rằng một lănh tụ đủ khả năng duy tŕ miền Nam chống Cộng đă chết [Nguyễn Hữu Trí], hoặc c̣n đang ở tuổi ấu thơ, hoặc chưa sinh ra đời.(41) Tháng 6/1954, khi được tin NĐD sẽ thay Bửu Lộc, Maurice Dejean nghĩ rằng NĐD quá thiển cận, quá cứng rắn, quá không tưởng, và quá trong sạch để có một cơ hội lập nên một chính phủ mạnh ở VN.(42) 

Ngày 30/7, khi Bộ Ngoại Giao Mỹ chỉ thị Dillon gặp La Chambre về NĐD, La Chambre cho biết chưa đủ yếu tố để thẩm giá. Sẽ cử Claude Cheysson, nguyên phụ tá Cố vấn chính trị cho Cao Ủy, qua tham quan VN. Nhưng trong khi chờ quyết định chót, La Chambre muốn NĐD mở rộng chính phủ, mời những người như Hữu, Tâm. Đối với miền Nam VN, Pháp sẽ trả hoàn toàn độc lập. Một số công sở sẽ được bàn giao ngày 31/7/1954.(43) 

Dịp cuối tháng 7/1954 La Chambre nhận định rằng phải lập một chính phủ đại diện cho toàn miền Nam; chuẩn bị cải cách ruộng đất;(44) chuẩn bị truất phế BĐ, và thành lập chế độ Cộng Hoà trong những tháng tới. Nhưng NĐD không đủ khả năng thực hiện những chương tŕnh trên; NĐD chỉ có thể là một Tổng Trưởng. Trong chính phủ mới, NĐD có thể nắm Bộ Nội vụ hay Quốc Pḥng. Tuy nhiên, chẳng có ǵ phải gấp gáp. Cứ chờ NĐD lo việc di cư cho xong. Có thể thay vào tháng 11/1954 là sớm nhất.(45) 

Hơn nữa, Pháp c̣n có quyền lợi kinh tế và văn hóa ở miền Bắc, nên muốn duy tŕ một ṭa Tổng Đại biểu ở Hà Nội, và thành lập một công ty hỗn hợp Pháp-CSVN.(46) Mendès-France c̣n không hài ḷng với lập trường chống Cộng cực đoan của NĐD. Các phụ tá của Mendès-France muốn lập một chính phủ khuynh tả (leftist) hoặc ôn ḥa (moderate).(47) Trong số các ứng cử viên của họ có Bửu Hội, người sẽ tháp tùng Jacques Raphael-Leygues về Đông Dương.(48) Ngoài ra, một số viên chức Pháp khác muốn sử dụng những cựu cộng viên như Hữu, Tâm, Xuân, v.. v...

Trong khi đó, NĐD ngày một bộc lộ thái độ bài Pháp. Không rơ tinh thần chống Pháp này do NĐD muốn mượn chiêu bài đả thực hầu thu phục nhân tâm, chứng tỏ lập trường thân Mỹ, hay một lư do nào khác. (Ely và một số viên chức Pháp cho rằng NĐD muốn chia rẽ Pháp-Mỹ.)

Phần v́ bị ràng buộc bởi Hiệp ước Geneva, phần v́ muốn chiều ḷng Mỹ, Mendès-France tạm thời yểm trợ NĐD, với điều kiện phải t́m một giải-pháp-khác-NĐD, tức t́m người khác làm Thủ tướng. Pháp cũng thuận tham gia Liên Minh pḥng thủ Đông Nam Á [Southeast Asian Collective Defense Treaties Organization, hay SEATO], mô phỏng theo Liên Minh Bắc Đại Tây Dương [North Atlantic Treaties Organization, tức NATO] ở Âu châu. Đổi lại, Mỹ đồng ư trả quân phí cho Pháp tại Đông Dương trong tài khóa 1954.(49) 

Chính phủ Eisenhower thực ra chẳng mấy lạc quan về NĐD. Trên nguyên tắc, Mỹ muốn yểm trợ một chính phủ quốc gia chân chính, chống Cộng và đủ khả năng đương đầu với Cộng Sản. Để thành công, Mỹ muốn Pháp: (a) trả độc lập cho VN; và, (b) giữ quân Pháp tại Đông Dương, nhưng giảm bớt sự kiểm soát quân sự, kinh tế và chính trị.(50)

Như một cá nhân, NĐD có cá tính khiến viên chức Mỹ e ngại. Ngày 13/11/1953, Đại sứ Heath tự hỏi với thái độ ương ngạnh liệu NĐD có khả năng tổ chức và cầm đầu một chính phủ.(51) Ngày 24/5/1954, viên chức Mỹ đánh giá NĐD như thứ religious mystic hay yogi-like mystic.(52) Ngày 3/7, sau khi NĐD quyết định sẽ lập chính phủ, McClintock, đại biện Mỹ ởù Sài G̣n trong dịp Heath tham dự Hội nghị Geneva, nhận xét NĐD là nhà tiên tri không có lời rao giảng; chính sách duy nhất là xin viện trợ Mỹ tức khắc.(53) 

Thực ra, mục đích của Mỹ là được Pháp chấp thuận và tích cực ủng hộ chính sách thành lập và tăng cường VN Tự Do cho tới giữa năm 1956 khi Tổng tuyển cử được tổ chức, và yểm trợ Miên và Lào.(54) Mỹ c̣n muốn viện trợ trực tiếp cho ba nước Đông Dương.(55) Viện trợ sẽ qua cách phối hợp tay ba ở Sài G̣n, Phnom Penh và Vientianne, do chính quyền địa phương làm chủ tịch. Viện trợ Mỹ cũng được phân biệt rơ ràng với viện trợ Pháp.(56) Mỹ sẽ viện trợ cho quân Pháp tới cuối tài khóa 1954 (sẽ gia hạn tới ngày 21/7/1955); nhưng tài khóa 1955 sẽ xét lại.(57)

Từ tháng 6/1954 tới tháng 5/1955 là giai đoạn thử lửa của NĐD.(58) Nước Mỹ không kết hôn với bất cứ cá nhân nào, các viên chức Mỹ nhiều lần khẳng định.(59)

 

III. PHÉP LẠ MỸ:

 

Từ tháng 8/1954, Pháp đă có ư thay NĐD, nhưng Mỹ ra công yểm trợ. Chính nhờ những phép lạ Mỹ này, NĐD nẩy sinh ảo giác rằng Ơn Trên đă an bài cho họ Ngô trở thành cứu tinh [savior] của người chống Cộng và dân tộc Việt. Ảo giác này khiến họ Ngô ch́m đắm trong vũng lầy quyền lực, đưa đến những cái chết thê thảm vào tháng 11/1963.(60) 

Buổi tối 6/9/1954, khi dự Hội nghị SEATO ở Manila, La Chambre nói với Dulles rằng chính phủ NĐD quá bất lực. Thủ tướng xứng đáng phải đủ khả năng đoàn kết các phe phái. La Chambre đề nghị Xuân, Hữu, hoặc Bửu Hội thay NĐD, với Tâm lo Bộ Nội Vụ. Dulles không đồng ư, nói cách tốt nhất là duy tŕ NĐD; với điều kiện NĐD mở rộng chính phủ. TNS Mike Mansfield (1903-2001), lănh tụ khối đa số Thượng viện, thêm rằng NĐD là cơ hội cuối cùng cho VN.(61) 

Ngày 6/9 này, Dejean nói với BĐ tại Cannes: "Chính phủ NĐD là một thất bại hoàn toàn. Bị cô lập, Thủ tướng [NĐD] không c̣n trông vào chỗ dựa nào nữa. Chống lại ông ta có các giáo phái, quân đội, đại đa số người Ki-tô Giáo, và đa số những chính khách.... Chưa bao giờ tại VN có t́nh trạng trống vắng quyền lực đến thế." Và yêu cầu BĐ phải sớm quyết định.(62) 

Trong mùa Hè-Thu 1954, khi Tướng Nguyễn Văn Hinh, Tổng Tham Mưu trưởng, chống lại NĐD, các viên chức Mỹ tích cực can thiệp. Tối ngày 11/9, Heath và Mansfield ghé thăm Daridan, được Daridan hứa Pháp sẽ giữ trung lập và ngăn chặn mọi biện pháp vơ lực.(63) Tướng John W. O'Daniel, Tư lệnh MAAG, cũng thuyết phục Hinh hợp tác với NĐD.(64) Nhưng theo Heath, Hinh cũng phải ra đi. Cuộc đương đầu giữa NĐD và Hinh là vấn đề nguyên tắc: giới dân sự phải chỉ huy phe quân sự.(65)

Ngày 13/9/1954, khi BĐ muốn thay chính phủ, Heath đề nghị BNG yêu cầu BĐ tạm ngưng v́ chẳng có ai khá hơn NĐD.(66) Sau khi BĐ muốn cử Lê Văn [Bảy] Viễn (1904-1971) làm Thủ tướng, ngày 21/9, Bộ Ngoại Giao Mỹ gửi công điện cho Sài G̣n và Paris, khẳng định ủng hộ NĐD; và chống việc B́nh Xuyên cầm quyền.(67) 

Ngày 16/9, Heath cũng đă cực lực phản đối khi Ely và Daridan ép NĐD nhận Tâm vào chính phủ, với lời đe dọa nếu NĐD không nghe theo, chính phủ được đếm từng ngày.(68) Hôm sau, 17/9, Thứ trưởng Smith cho lệnh Đại sứ Paris gặp ngay Mendès-France hoặc La Chambre, chuyển lời Smith: Viện trợ Mỹ không thể cấp cho một chính phủ không được người Quốc Gia ủng hộ.(69) Ngày 18/9, Heath cũng nói với Ely rằng Mỹ đă tiêu những số tiền khổng lồ ở đây và việc này chỉ có thể biện minh bằng sự thiết lập một chính phủ đủ khả năng chiến thắng Cộng Sản. Một chính phủ như thế phải là một chế độ quốc gia thứ thực.(70)

Ngày 18/9, Mendès-France quyết định sẽ gửi La Chambre và Ely qua Oat-shinh-tân dự hội nghị về Đông Dương từ ngày 27 tới 29/9/1954.

Tại Sài G̣n, ngày 23/9, khi được công điện của BĐ cởi bỏ cho NĐD lời thề trung thành và kế tục mà ông đă dâng lên Quốc trưởng, và giúp NĐD thoát được gánh nặng do thực trạng gây nên-tức yêu cầu từ chức một cách lịch sự-NĐD lập tức xin Mỹ can thiệp, và Heath đề nghị thượng cấp áp lực BĐ hủy bỏ hoặc đ́nh hoăn ư định thay NĐD.(71) Smith bèn chỉ thị cho Đại sứ Paris cử người gặp BĐ, yêu cầu khích lệ NĐD tiếp tục cầm quyền.(72) Dillon không tán thành, v́ thấy cần Pháp hợp tác trong việc duy tŕ miền Nam chống Cộng.(73) Nhưng Smith thúc dục Dillon trực tiếp gặp BĐ hoặc qua chính phủ Pháp v́ không muốn chính phủ NĐD bị đổ giữa lúc hội nghị Pháp-Mỹ diễn ra ở Oat-shinh-tân. Ngày 24/9, Dillon gặp Ely ở Paris, và Ely đồng ư gửi Dejean xuống Cannes gặp BĐ.(74) 

Trong khi đó, NĐD cũng viết thư cho BĐ, thông báo đang cải tổ chính phủ. NĐD không quên nhấn mạnh rằng việc cải tổ này được Mỹ ủng hộ, và, Mỹ sẽ không viện trợ cho bất cứ ai cướp chính quyền bằng vơ lực.(75)

 

A. MẬT ƯỚC MỸ-PHÁP 29/9/1954:

Trước ngày hội chính thức, La Chambre cùng Ely gặp riêng Thứ trưởng Smith và Phụ tá Ngoại trưởng Walter S. Robertson, đặc trách Đông Nam Á Vụ, tại Bộ Ngoại giao Mỹ sáng ngày Thứ Bảy, 25/9, để t́m hiểu lập trường Mỹ. La Chambre nói với Smith rằng suốt ba tháng qua Pháp đă yểm trợ NĐD, nhưng NĐD thiếu khả năng, và thật khó cai trị khi chống lại quân đội và cảnh sát (B́nh Xuyên). Tuy nhiên, nếu NĐD đủ khả năng ổn định t́nh thế, Pháp sẽ tiếp tục ủng hộ. Smith và Robertson không đồng ư. Họ cho La Chambre biết rằng TNS Mansfield coi NĐD là Thủ tướng hàng đầu mà miền Nam có được. Mặc dù chính phủ NĐD bất lực, và cá nhân NĐD vụng về, nhưng NĐD lương thiện và là một nhà ái quốc chân chính. Vấn đề cần biết là quân đội có theo gương Cao Đài và Ḥa Hảo để liên kết với NĐD. Phần bọn côn đồ B́nh Xuyên cần phải loại bỏ.(76)  

Về số phận BĐ, hồ sơ hai phe có điểm dị biệt. Theo La Chambre và Ely, Smith nói trong tương lai sẽ loại bỏ cả BĐ.(77) Theo Smith, chính La Chambre tuyên bố BĐ sẽ bị loại một cách hợp pháp sau khi đă hoàn tất nhiệm vụ. Bầu cử Quốc hội để định chế hóa nhà nước là một biện pháp, nhưng phải tránh không để Cộng Sản lợi dụng. Smith chỉ đồng ư với La Chambre.(78) 

Bộ trưởng Tài Chánh Edgar Faure, đang ở Mỹ trong một sứ mệnh khác, cũng tham dự phiên họp ngày 29/9/1954. (Đại diện Mỹ: Smith và Harold Stassen). La Chambre đồng ư yểm trợ NĐD [France and US support Diem in establishing and maintenance of strong anti-Communist and Nationalist government and to that end will jointly urge all anti-Communist elements in Vietnam to cooperate fully with Diem government to counter vigorously Viet Minh and build strong free Vietnam].(79)  

Buổi chiều ngày 29/9, Mỹ và Pháp kư mật ước [Minute of Understanding] ủng hộ NĐD và chính phủ chống Cộng. Pháp hứa trả tự trị cho VN càng sớm càng tốt. Việc bàn giao các cơ sở hành chính, kinh tế sẽ hoàn tất vào cuối tháng 12/1954.(80) Tuy nhiên ngày 2/10, Bộ Ngoại Giao Pháp gửi thư cho Bộ Các Quốc Gia Liên Hiệp, thông báo bỏ câu "yểm trợ chính phủ NĐD" trong mật ước ngày 29/9/1954.(81) Nói cách khác, Pháp chỉ c̣n ủng hộ nguyên tắc chính phủ chống Cộng ở miền Nam, không nhất thiết do một cá nhân nào cầm đầu. 

Trong khi đó, ngày 28/9, Dejean gặp BĐ tại Cannes, nói cả Mỹ và Pháp đều muốn BĐ chỉ thị Hinh và B́nh Xuyên ủng hộ NĐD. BĐ tỏ ư ngạc nhiên về việc can thiệp bất b́nh thường của Mỹ và Pháp, không phù hợp với t́nh trạng độc lập của VN. BĐ nghĩ NĐD cần rời chính quyền để chiến thắng Việt Minh. Và đề cử Xuân thay thế. Được tin này, ngày 29/9, Heath khẳng định có thể xây dựng một chính phủ mạnh quanh NĐD, và xin qua Pháp trong ṿng 4 ngày để thuyết phục BĐ rút lại quyết định cách chức NĐD.(82) Ngày 1/10, BĐ lại chỉ thị NĐD phải mời thêm Xuân, Hinh và Viễn vào chính phủ. Xuân sẽ được chức [Phó] Thủ tướng].(83) Nhưng khi gặp Heath ngày 3/10, BĐ nói không chống việc giữ NĐD làm Thủ tướng. BĐ cũng giải thích rằng lệnh bắt NĐD nhận quân nhân [Xuân, Hinh và Bảy Viễn] vào chính phủ là lầm lẫn khi thảo văn thư  [drafting error]. Tuy nhiên, phải giữ Hinh làm Tổng Tham Mưu trưởng. Phần NĐD, dù trong sạch và lương thiện, không có khả năng của một lănh tụ và cũng chẳng thông minh ǵ lắm. BĐ muốn có dịp về nước; nhưng Heath nói dư luận chẳng hâm mộ ǵ BĐ.(84) 

Ngày 15/10, sau chuyến thăm Đông Dương giữa lúc cuộc tranh chấp Hinh-NĐD đang lên cao độ, TNS Mansfield nh́n nhận NĐD không phải là lănh đạo lư tưởng, nhưng Mỹ không ủng hộ một cá nhân nào, chỉ ủng hộ một chế độ chống Cộng. Hiện nay, NĐD là người duy nhất. Yêu cầu ngưng viện trợ nếu NĐD bị lật đổ. (85) Đây là lần thứ ba đ̣n ngưng viện trợ được sử dụng để áp lực Pháp. 

Ngày 23/10/1954, Heath chuyển cho NĐD thư riêng của Eisenhower (bản nháp thư đă được chấp thuận từ ngày 28/9): Mỹ sẽ viện trợ trực tiếp cho Nam VN và huấn luyện QĐQG. Ngày 4/11, nhân viên Mỹ ở Paris gặp BĐ. Năm ngày sau, 9/11, BĐ gọi Hinh và Xuân qua Pháp. Đồng thời, cho lệnh Bảy Viễn hợp tác với NĐD.(86) 

Thủ tướng Mendès-France, trong cuộc thảo luận 17-20/11/1954, cho rằng Nam VN khó mà đạt được tự trị hoàn toàn vào tháng 7/1955, và việc tăng cường huấn luyện viên Mỹ vi phạm Hiệp ước Geneva. Sự hoài nghi về ư định của đồng minh khiến giao t́nh Mỹ-Pháp bị căng thẳng. Ngày 30/11, khi gặp William Gibson, Daridan trút mọi tội lỗi lên đầu các cơ quan t́nh báo Mỹ tại VN. Ngày 2/12, La Chambre tuyên bố muốn thấy một chính phủ vững mạnh ở Sài G̣n vào khoảng ngày 15/1/1955, bằng không sẽ phải cứu xét việc triệt thoái quân viễn chinh Pháp.

 

B. MẬT ƯỚC ELY-COLLINS (13/12/1954):

Thời gian này, do áp lực tại Mỹ rằng Heath thân Pháp, Dulles gửi qua VN Tướng J. Lawton Collins. Collins, một Tướng hồi hưu, được Đại tá Andrew J. Goodpaster, cố vấn quân sự của Eisenhower, tiến cử. Collins được tước hiệu đại diện Tổng thống với quyền hành rộng răi và chức vụ Đại sứ. Nhiệm vụ cấp thời là giúp đỡ và ổn định cùng tăng cường cho chính phủ NĐD. Collins tới Sài G̣n ngày 8/11/1954 với chỉ thị phải nghiên cứu t́nh h́nh miền Nam và đề nghị lên Eisenhower nên hay không nên can thiệp sâu hơn vào Đông Dương [to assess the situation and see whether a viable military position could be created.].(87) 

Sự hiện diện của Collins phần nào giải quyết nhanh chóng vụ tranh chấp Hinh-NĐD. Collins cũng thảo luận với Ely về những điều cần làm ở Nam VN và ngày 13/12/1954 hai người kư một mật ước 7 điểm. Mật ước này khẳng định yểm trợ một miền Nam tự do, chống Cộng. Pháp hứa sẽ trả quyền tự trị hoàn toàn cho miền Nam trước ngày 1/7/1955; và cơ quan MAAG Mỹ sẽ huấn luyện Quân Đội QGVN từ tháng 2/1955, dưới quyền tổng quát của Tổng Tư lệnh Đông Dương. Đổi lại, Mỹ viện trợ 100 triệu Mỹ kim cho quân viễn chinh Liên Hiệp Pháp tại VN.(88)

Ngày 16/12, BNG và QP Mỹ chấp thuận thoả ước này. Nhưng Pháp không hài ḷng, v́ chỉ được 1/4 số quân viện đ̣i hỏi. Bởi thế, Mendès-France không phê chuẩn.(89)

 

C. KẾ HOẠCH LOẠI BỎ NGÔ Đ̀NH DIỆM CỦA ELY & COLLINS:

Tháng 12/1954, Collins bắt đầu thất vọng về NĐD; nhất là từ sau ngày NĐD không chịu cử Phan Huy Quát làm Tổng trưởng Quốc Pḥng. Collins đưa ra hai giải pháp: (a) Yêu cầu BĐ bổ nhiệm Quát làm Thủ tướng; và (b) Đích thân BĐ về nước trong t́nh trạng khẩn cấp.(90) Kenneth T. Young, Giám đốc Sở Philippines và Đông Nam Á Vụ, không đồng ư. Ngày 15/12, Young giải thích với Collins rằng nên để chính người Việt chọn lựa lănh đạo của họ. Pháp muốn chọn người thay BĐ mà họ có thể ảnh hưởng. Việc thay NĐD lúc này tạo nhiều rắc rối và hỗn loạn hơn. Hơn nữa, TNS Mansfield, Chủ tịch Khối đa số Thượng viện, yểm trợ NĐD.(91) 

Ngày 16/12, Collins đành đề nghị với Oat-shinh-tân: (a) Yểm trợ NĐD một thời gian nữa; nhưng Mỹ không khởi đầu một chương tŕnh viện trợ đặc biệt nào; (b) Nghiên cứu khẩn cấp việc BĐ hồi hương; (c) Nếu sau một thời gian mà NĐD không chứng tỏ dấu hiệu tiến bộ, và nếu chính phủ Mỹ đồng ư, sẽ cho BĐ hồi hương tức khắc; (d) Nếu BĐ không chấp nhận được, và nếu NĐD tiếp tục biểu lộ sự thiếu khả năng đoàn kết các phe nhóm, cần duyệt xét lại chính sách của Mỹ tại Đông Nam Á-rút khỏi Nam VN (như đă đề cập ngày 13/12/1954).(92) 

Đại sứ Heath, lúc này đă trở về Bộ Ngoại Giao, không đồng ư. Theo Heath, Dulles chủ trương tŕ hoăn [buying time] để giúp Lào, Miên và Thái Lan mạnh hơn; trong khi đề nghị của Collins chỉ nhắm giải quyết tức khắc vấn đề trước ngày 1/1/1955. NĐD là người quốc gia đầu tiên nắm quyền Thủ tướng. Ông ta chống Pháp, chống Cộng và cá nhân trong sạch. Ông ta bất lực về chính trị, cứng đầu và đa nghi. [He is politically inept, stubborn and suspicious.] Có bằng chứng cho thấy Pháp không muốn NĐD thành công. La Chambre (tháng 9/1954) và Mendès-France (tháng 11/1954) đă miễn cưỡng chấp nhận lập luận của Mỹ rằng sự ủng hộ NĐD chính yếu là do thiếu một ứng cử viên khá hơn, có thể giảm áp lực trên NĐD nhưng chưa đủ để Pháp hoàn toàn ủng hộ NĐD. Hơn nữa, NĐD là người duy nhất phục vụ đắc lực mục tiêu của Mỹ. Phần BĐ không có người ủng hộ ở VN và quá khứ chứng tỏ ông ta không biết cai trị. [there is no one to take his place who would serve U.S objectives any better. Bao Dai's lack of support in Viet Nam and his past demonstrations of inability to govern]. Mối lo sợ rằng 300 triệu MK quân viện và uy tín nước Mỹ sẽ bị mất trong việc duy tŕ một nước VN tự do là chính đáng, nhưng ngưng yểm trợ [NĐD] lúc này c̣n mang lại hậu quả tai hại hơn. (93) 

Mansfield cũng chống lại đề nghị của Collins. Theo Mansfield, BĐ là một yếu tố làm nguy hại, cách nào bây giờ trở thành giúp đỡ. Nên lưu ư rằng BĐ từng hợp tác với Cộng Sản. Việc cổ vơ cho BĐ về nước có thể là một sách lược của Pháp để tạo nên một thứ ḥa ước với Cộng Sản miền Bắc.(94) 

Ngày 15/12, Collins đề nghị NĐD nhận Bác sĩ Phan Huy Quát (1909-1984?) vào chính phủ, nhưng NĐD nói các giáo phái sẽ chống lại, và bổ nhiệm Hồ Thông Minh làm Tổng trưởng Quốc Pḥng. [Ngày 13/12, đă có thư nặc danh gửi đến từng nhà, tố cáo Quát là tay sai thứ hai của Đặc sứ Collins] Ngày 16/12, NĐD nói không muốn cử Bảy Viễn làm Tổng trưởng Nội Vụ, nhưng sẵn sàng nhận Bảy Viễn làm Quốc Vụ Khanh, cho Bảy Viễn một ghế trong Hội Đồng Quốc Pḥng và chịu trách nhiệm Bộ Thanh Niên.(95) 

Ngày 17/12, Smith yêu cầu Dulles, đang ở Paris, hỏi Mandès-France về sự hồi hương của BĐ trong tương lai. Theo Smith, NĐD phải lo ngay việc cải cách ruộng đất và tái tổ chức quân đội. Mỹ không nhất thiết chống lại việc Bảy Viễn nắm Bộ Nội Vụ miễn hồ Bảy Viễn dẹp bỏ môn bài độc quyền khai thác cờ bạc. NĐD cũng không nhất thiết phải loại Lai Văn Sang. Về Quát, có thể qua Mỹ chữa bệnh.(96)

 

D. MẬT ƯỚC TAY BA 18/12/1954:

Ngày 18/12/1954 [The Pentagon Papers ghi 19/12/1954], nhân dịp họp tay ba các Ngoại trưởng ở Paris, Dulles, Eden và Mendès-France lại bàn về VN.  

Thoạt tiên, Mandès-France nói phải ngưng yểm trợ NĐD, v́ có giúp đỡ NĐD tối đa cũng không thể thành công. [Now he wished [to] add that he was no longer sure that even maximum would help... We must now have alternate formula in mind]. Pháp đề nghị hai giải pháp: (a) BĐ sẽ ủy quyền cho một Khâm sai có toàn quyền giải quyết tranh chấp giữa các phe nhóm. Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm hay Phan Huy Quát có thể được đề cử làm Khâm sai; (b) BĐ có thể trở lại Sài G̣n, thành lập một chính phủ với Hữu làm Thủ tướng, Tâm nắm Nội Vụ, và Quát, Quốc Pḥng. 

Dulles đồng ư NĐD có nhược điểm, nhưng chưa t́m thấy người tốt hơn. Sự yểm trợ của Mỹ không phải vô giới hạn và không thể rút lại. Cần áp lực NĐD hơn nữa trước khi quyết định. [Diem appears to be man constitutionally incapable of making decisions. US not committed to Diem in any irrevocable sense. We have accepted him because we knew of no one better. . . Now it is claimed that only Bao Dai can save the situation. If that is the case, then we must be indeed desperate. Secretary's view we should continue back Diem but exert more pressure on him to make changes we consider necessary].(97) 

Cuối cùng, Mandès-France đồng ư với Dulles, nêu ra 3 điểm: (a) Tiếp tục ủng hộ NĐD; (b) Nghiên cứu một giải pháp khác; (c) Chỉ thị cho Collins và Ely nghiên cứu giải pháp khác NĐD, kể cả việc sử dụng BĐ. Collins và Ely cũng nghiên cứu thời gian c̣n có thể tiếp tục yểm trợ NĐD, và đặt ra thời hạn chót. Dulles đưa thêm điểm thứ tư: Nếu thấy không một ai khá hơn NĐD, Mỹ sẽ xét duyệt vấn đề có nên tiếp tục đầu tư vào Đông Dương nữa hay chăng. Trường hợp này, sẽ phải xét lại chính sách Đông Dương, và tham khảo ư kiến của các tiểu ban Quốc Hội (TNS Mansfied và Dân biểu Roberts). Ngắn và gọn, trên thực tế Dulles chỉ đồng ư với Pháp một điểm: Ely và Collins sẽ cùng nghiên cứu những người có thể thay NĐD. Dulles quyết định sẽ tiếp tục viện trợ cho Nam VN để ít nữa cũng kéo dài thời gian cho các quốc gia khác trong vùng Đông Nam Á chuẩn bị và kiện toàn t́nh thế- Ngày 1/5/1955, Mỹ sẽ viện trợ trực tiếp cho Nam VN.(98) 

Ngày 29/12, Dulles chỉ thị cho Collins rằng sự hồi hương của BĐ rất khó chấp nhận; và, Mỹ sẽ viện trợ trực tiếp cho NĐD từ ngày 1/1/1955, bất kể sự chống đối của Pháp.(99) 

Ngày 30/12, Pháp và Mỹ đồng ư rằng mật ước Ely-Collins (13/12/1954) phải được viết dưới dạng đề nghị với VN. 

Các viên chức Pháp không hài ḷng. Pháp muốn thay NĐD hoặc biến NĐD thành một lănh tụ không quyền lực.  

Tại Paris, ngày 6/1/1955, La Chambre bàn với Đại sứ Dillon về việc thay NĐD và Mật ước ngày 18/12/1954. La Chambre than phiền rằng sự thỏa thuận giữa ba Ngoại trưởng đi ngược lại những ǵ Smith và La Chambre đă đồng ư vào tháng 9/1954, khi Pháp chấp thuận ủng hộ NĐD: Đó là cho NĐD một thời gian vừa phải, rồi sẽ nghiên cứu một thí nghiệm khác. Theo La Chambre, thời gian vừa phải" chấm dứt đă lâu, nếu Mỹ từ chối thực hiện một thí nghiệm khác, sẽ không c̣n đủ th́ giờ đương đầu Việt Minh trong kỳ Tổng Tuyển cử. Tuy nhiên, La Chambre tạm yên ḷng khi Dulles sẵn sàng nghiên cứu biện pháp khác NĐD, hy vọng rằng Dulles sẽ cho Collins toàn quyền để phối hợp với Ely t́m ra biện pháp khác ấy. La Chambre thấy không c̣n hy vọng ǵ ở NĐD nữa, dù chưa có ư kiến rơ rệt nào về biện-pháp-khác-NĐD. La Chambre đề nghị BĐ về nước, Hữu làm Thủ tướng, và Tâm nắm Nội Vụ. NĐD có thể được mời tham gia chính phủ mới. Dillon nói cho tới nay, chưa có đề nghị nào tốt hơn chính thí nghiệm NĐD. La Chambre đồng ư, nhưng đă chỉ thị cho Ely trở lại Sài G̣n để làm việc với Collins, t́m ra một phương thức trước cuối tháng 1/1955. Chính phủ Pháp cũng duy tŕ 75,000 quân đội viễn chinh Pháp cho tới ngày 1/6/1955. Sau đó, triệt thoái từ từ cho tới trước ngày Tổng tuyển cử vào tháng 7/1956.(100) Hôm sau, 7/1, Roux trao cho Dillon một đề nghị tu chính mật ước Ely-Collins ngày 13/12/1954.(101)

Tại Sài G̣n, ngày 8/1, Collins cũng gặp Ely thảo luận về đề nghị sửa đổi Mật ước Ely-Collins. Ely nói theo biên bản buổi họp giữa ba Ngoại trưởng ngày 18/12/1954, hạn chót để hai người nghiên cứu về khả năng thành công của NĐD, cũng như một giải pháp thay thế, rồi báo cáo về Paris và Oat-shinh-tân là ngày 15/1/1955. Pháp đồng ư duy tŕ 75,000 quân viễn chinh tới ngày 1/6/1955.  

Ngày 14/1, Ely lại yêu cầu Collins thảo luận về việc thay NĐD trước ngày 10/2, nhưng Collins nói chỉ có thể nghiên cứu việc này (theo tinh thần Mật ước 18/12/1954) sau khi về Mỹ tham khảo vào thượng tuần tháng 2/1955. Hơn nữa, NĐD đang có tiến bộ, ngoại trừ việc mở rộng chính phủ. Phần Ely cho rằng sẽ là một sai lầm chiến lược nếu đánh bạc trên một cá nhân [Ely said that it might be a tragic mistake to gamble everything on one single man], và theo Ely, nếu NĐD thất bại, chỉ c̣n BĐ hoặc không c̣n ǵ nữa [Ely thinks that if Diem failed, it is Bao Dai or nothing]. Ely c̣n cho Collins biết là La Chambre đă nhân dịp nghỉ ghé qua Cannes thảo luận với BĐ.(102) 

Thời gian này, Collins cùng đại sứ Mỹ tại Miên (McClintock) và Lào (Yost) mới họp tại Đà Lạt và đi đến kết luận rằng cơ hội ngăn chặn CS ở Đông Dương xứng đáng để thử nghiệm. Tiền viện trợ cho NVN chỉ khoảng 440.5 triệu MK, Miên, 55, và Lào, 62 tới 67 triệu MK. (Trong tổng số từ 557.5 triệu tới 562.5 triệu, 100 triệu MK dành cho quân viễn chính Pháp). Bởi thế, Dulles muốn Collins tŕnh bày vấn đề Đông Dương trong phiên họp Hội đồng An Ninh Quốc Gia [HĐ/ANQG] ngày 27/1/1955. Ngày 20/1, Collins hoàn tất báo cáo về Đông Dương. Theo Collins, NĐD là Thủ tướng tốt nhất hiện có để cầm đầu VN trong cuộc chiến chống Cộng; nhưng Collins thất bại trong việc thuyết phục NĐD mở rộng chính phủ [Diem was the best available Prime Minister to lead Vietnam in its struggle against Communism. . . . But Collins failed to ask Diem to broaden his govt.](103) 

Ngày 24/1/1955, đúng Nguyên đán Ất Mùi, Collins về tới Oat-shinh-tân. Họp ngay với Dulles. Sau đó Dulles viết thư cho Thủ tướng Pháp để giải quyết sự hiểu lầm quanh việc thay hay không thay NĐD. Đề nghị Ely viết thư báo cho NĐD rằng từ ngày 1/7/1955, quân đội QGVN được hoàn toàn tự trị. Rồi Ely viết một lá thư cho Collins, thông báo các cố vấn Mỹ và Pháp sẽ do MAAG điều động, dưới sự chỉ huy tổng quát của Ely.(104)

Ngày 27/1, Collins thuyết tŕnh tại phiên họp thứ 234 của HĐ/ANQG Mỹ do Eisenhower chủ tọa. Theo Collins, cơ hội duy tŕ một miền Nam chống Cộng chỉ có 50%.  Collins dự định tổ chức Quốc Hội Lập Hiến để loại BĐ. Collins cũng không hài ḷng việc La Chambre ghé Cannes thăm BĐ, và khuyến khích BĐ về nước.

 

Cuối cùng, HĐ/ANQG Mỹ quyết định:

(1) Tại hội nghị SEATO ở Bangkok sắp tới [23-25/2/1955], Dulles sẽ yêu cầu các thành viên yểm trợ VN Tự Do một khi chiến tranh tái phát;

(2) V́ VN Tự Do khó tồn tại nếu không có Pháp yểm trợ, phải áp lực Pháp thực thi thỏa ước Smith-La Chambre trong hội nghị 27-29/9/1954, và những nguyên tắc căn bản trong qui ước ngày 13/12/1954 giữa Ely và Collins.

(3) Tiếp tục yểm trợ chính phủ NĐD.

Ngoài ra, yểm trợ các chương tŕnh cải tổ quân đội, cải cách điền địa, tái định cư dân tị nạn, và thiết lập một Quốc hội. Trong ṿng 2 tháng tới, BNG Mỹ sẽ nghiên cứu và đệ tŕnh kế hoạch về tổng tuyển cử 7/1956. Chấp thuận viện trợ cho NVN, về quân sự và các lănh vực khác. Tái khẳng định yểm trợ VN Tự Do của Nghị quyết NSC 5429/5, tiết 10-a. (105) 

Một biến cố khác khiến liên hệ giữa Pháp và NĐD thêm căng thẳng là ngày 26/12/1954, Pháp khai trương Ṭa Tổng Đại biểu ở Hà Nội. Jean Sainteny, người đă kư Hiệp ước sơ bộ 6/3/1946 với HCM, được cử làm Tổng Đại biểu. Mỹ cũng không tán thành việc lập tổ hợp liên doanh Pháp-Bắc VN. La Chambre biện minh rằng Sainteny chỉ lo về quyền lợi kinh tế và thương mại, và Pháp dự định hợp các công ty ở miền Bắc thành một công ty lớn để dễ điều hành. Ngày 11/2/1955, Jacques Roux, Phó Tổng Giám đốc Chính trị vụ BNG Pháp, nói thẳng rằng kế hoạch duy tŕ quyền lợi kinh tế và văn hoá tại Bắc VN không là ư kiến riêng của Sainteny, mà là chính sách của Pháp. Pháp chẳng có lợi ǵ khi rút lui, v́ cố vấn Trung Cộng sẽ thay thế, và điều khiển các cơ sở Pháp để lại. Sự hiện diện của Pháp sẽ khiến HCM bớt tùy thuộc vào quĩ đạo CS. Roux nhấn mạnh rằng HCM, trái ngược với miền Nam, muốn Pháp ở lại; và Việt Minh muốn Pháp hướng dẫn kỹ thuật. Roux hy vọng Mỹ nghiên cứu lại vấn đề công ty hỗn hợp Pháp-Việt Minh không được miễn nhiễm những ràng buộc trong Sắc Luật  cấm "buôn bán với các quốc gia Cộng Sản" của Mỹ.(106) 

Nhưng BNG Mỹ vẫn không đồng ư kế hoạch thành lập những công ty hỗn hợp Pháp-Bắc VN. Theo kế hoạch này,  Hà Nội sẽ giữ đa số cổ phần; như thế đi ngược lại lời tuyên bố yểm trợ Nam VN và chính sách liên hiệp Pháp-Mỹ; nó sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của Pháp tại Lào và Miên; và làm hại đến cơ hội của miền Nam trong cuộc Tổng tuyển cử 1956.(107)

Ngày 6/2/1955 Mendès-France từ chức. Cựu Bộ trưởng Tài chính Faure thuộc đảng Xă Hội Quá Khích (Radical Socialist) lên thay ngày 23/2. Ngoại trưởng là Antoine Pinay. Henri Laforest làm Bộ trưởng Các Quốc Gia Liên Hiệp. 

Mặc dù Faure thân Mỹ hơn Mendès-France, lập trường với NĐD không thay đổi: NĐD phải ra đi. Tuy nhiên, Faure thỏa thuận để Mỹ huấn luyện quân đội QGVN từ ngày 12/2/1955, và được tự trị từ 1/7/1955. Cũng từ ngày 28/2/1955, Pháp ngưng trả lương binh sĩ phụ lực giáo phái, và chính phủ NĐD sẽ gánh trách nhiệm này. 

Ngày 12/2, theo đúng kịch bản, NĐD họp báo công bố quyết định chung Pháp-Mỹ nói trên. Uy tín NĐD c̣n được nâng cao hơn khi Eisenhower đích thân viết thư cho BĐ, tuyên bố yểm trợ NĐD. Nhân cơ hội này, NĐD quyết ra tay với B́nh Xuyên và các giáo phái, nhất là Ba Cụt Lê Quang Vinh (1923-1956), lúc đó đă ly khai, rút ra bưng. Có dấu hiệu cho thấy các viên chức Pháp ít nhiều liên hệ đến t́nh trạng căng thẳng này.

V́ Bảy Viễn đang điều động quân B́nh Xuyên vào thành phố, NĐD yêu cầu Tướng Gambiez trao cho quân đội VN quyền kiểm soát thủ đô từ ngày 15/2, hầu có thểå phản ứng kịp thời. NĐD cũng gặp riêng Collins tối Chủ Nhật, 23/2, bàn về tương lai miền Nam. Theo NĐD, Gia đ́nh BĐ, kể cả Bảo Long, đă hết ở VN [Bao Dai's immediate family is finished in Vietnam].  Ngay việc đưa Bảo Long lên ngôi cũng không được. Bởi thế, chế độ tương lai ở VN có thể theo Mỹ hay Turkey. Collins đồng ư, và khuyên NĐD phải tổ chức bầu cử càng sớm càng tốt để loại BĐ một cách hợp pháp.(108) BĐ đành phải hủy bỏ chuyến hồi hương dự trù vào đầu tháng 3/1955. Đổi lại, ngày 22/3, NĐD kư Sắc lệnh ấn định bầu cử Quốc hội lâm thời vào ngày 15/5/1955. 

Cuối tháng 2/1955, trên đường qua Manila dự Hội nghị SEATO, Dulles ghé ngang Sài G̣n nghỉ đêm. Sáng 1/3, Dulles thăm NĐD và Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ. Buổi gặp mặt với NĐD khiến Dulles rất hài ḷng.(109) 

Cũng ngày 1/3 này, viên chức ngoại giao Mỹ xuống Cannes, trao cho BĐ thư riêng của Eisenhower đề ngày 18/2/1955, khẳng định yểm trợ NĐD. Đồng thời trấn an BĐ rằng, trái với tin đồn trên báo chí Thái Lan hay Pháp về lời tuyên bố của Dulles, ông ta vẫn là một Quốc trưởng, với vị thế và quyền lực hợp pháp được Quốc tế nh́n nhận. Sứ giả Mỹ c̣n chuyển thêm lời Collins yêu cầu BĐ giúp NĐD thu lại quyền kiểm soát Cảnh sát từ tay B́nh Xuyên. BĐ chống đối. Theo BĐ, NĐD cần đặt quốc gia trên cá nhân và không thể hy sinh quyền lợi quốc gia để củng cố quyền lực bản thân cùng một nhóm Ki-tô mà tảng lờ những phe phái khác. Giáo dân Ki-tô chỉ là thiểu số trong nước. NĐD đang khiến các tôn giáo và đảng phái chính trị xa lánh trong khi VN Tự Do cần đoàn kết lại để có thể sống c̣n [Diem must place the country above self and must not sacrifice national interest in attempting [to] consolidate his personal position and that of Catholic element at the expense of the rest of the country. Catholic represented only a small fraction of total Vietnamese population. He thought that Diem alienated Vietnamese political and religious elements who could help at time when all Vietnamese in Free Vietnam must pull together if they to survive].(110)

Chẳng hiểu có được thông báo hay chăng, ngay ngày 2/3, các giáo phái công bố thành lập Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia, một liên minh chống NĐD.

 

E. DIỆM & CÁC GIÁO PHÁI:

Sự ủng hộ mạnh mẽ của Mỹ, ít nữa từ phe t́nh báo và quân sự tại Sài G̣n, khiến NĐD quyết thanh trừng B́nh Xuyên, đang nắm giữ ngành Cảnh Sát-Công An và bảo vệ an ninh Sài G̣n/Chợ Lớn. Đây là một nhu cầu cần thiết v́ ngay sau khi loại bỏ được Tướng Hinh, NĐD mới chỉ kiểm soát được ít khu phố ở Sải G̣n và các trại lính. 

1. Chia Để Diệt:

Cuối năm 1954, NĐD quyết định rút lại giấy phép kinh doanh các ṣng bạc và ổ măi dâm của Bảy Viễn. Rồi ngày 15/2/1955, NĐD cho lệnh đóng cửa ṣng bạc Kim Chung Đại Thế Giới. V́ hăi sợ NĐD sẽ tiêu diệt ḿnh sau khi dẹp xong B́nh Xuyên, hai giáo phái Ḥa Hảo và Cao Đài (Hộ pháp Phạm Công Tắc) muốn liên kết với B́nh Xuyên. Tuy nhiên, Trung tướng Nguyễn Thành Phương và Đại tá Tŕnh Minh Thế vẫn liên minh với NĐD. Tháng 9/1954, Phương được mời làm Quốc Vụ Khanh, Ủy viên Hội đồng Quốc Pḥng (cùng Trần Văn Soái). Ngày 30/1/1955, NĐD cùng Hồ Thông Minh và một sĩ quan xuống Tây Ninh gặp Thế. Thế đồng ư qui thuận với cấp bậc Thiếu Tướng. Về tới Sài G̣n, NĐD vội công bố tin này. Ngày 13/2/1955, NĐD chủ tọa lễ qui thuận 2,500 quân của lực lượng Cao Đài Liên Minh. (Theo Lansdale, chính ông đă chiêu mộ Thế về yểm trợ NĐD).(111) 

Ngày 22/2, Phạm Công Tắc, Lê Văn Viễn, Nguyễn Thành Phương, Lâm Thành Nguyên, Lê Quang Vinh, Trần Văn Soái, và Tŕnh Minh Thế kư mật ước liên minh chống NĐD. Ngày 1/3, Tắc triệu tập một buổi họp gồm các lănh tụ Cao Đài, Hoà Hảo và B́nh Xuyên. Hôm sau, 2/3, Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia [các lực lượng giáo phái] ra đời. Hai ngày sau nữa, 4/3, MTTNTLQG ra tuyên cáo là các lănh tụ Hoà Hảo, B́nh Xuyên và Trần Văn Hữu đă quyết định hành động.  

Phe NĐD cũng có chuẩn bị: Đưa hai đại đội từ Phan Thiết về bảo vệ Dinh Độc Lập, tăng cường thêm 5 chiến xa và 2 thám thính xa (blinder). Một số đơn vị của Tướng Thế cũng được điều về quanh Sài G̣n, chặn hậu B́nh Xuyên.(112) 

Đầu mối hiềm khích giữa Năm Lửa và NĐD là tiền trợ cấp cho binh sĩ Ḥa Hảo. Từ đầu tháng 2/1955, NĐD thay Pháp trả tiền cho các giáo phái. Mỗi tháng 5 triệu đồng cho Cao Đài và Ḥa Hảo (và BĐ 4 triệu đồng). NĐD trả trợ cấp cho Cao Đài vào ngày 12/2 và 19/2/1955, nhưng định không trả Năm Lửa; nêu lư do Năm Lửa sẽ dùng tiền trợ cấp cho Ba Cụt. Nhân vật mà viên chức Pháp mệnh danh là enfant terrible [đứa trẻ ngỗ nghịch] này tuyên bố ly khai từ tháng 12/1954, và nhiều lần chạm súng với quân đội, kể cả cuộc phục kích một đơn vị QĐVN tại vùng Long Mỹ, khiến 3 sĩ quan chết, và gây thương tích cho 30 quân nhân.(113)

Liên hệ giữa NĐD và Năm Lửa căng thẳng thêm v́ tin đồn NĐD sẽ dùng quân của Thế để tấn công Ba Cụt. Bởi thế, ngày 4/3, trước khi trở lại Cái Vồn, Năm Lửa đề nghị với nhân viên Mỹ ba biện pháp: (1) NĐD thay đổi lề lối làm việc; (2), cách chức vài Tổng trưởng; và (3), loại bỏ vài người thân cận của NĐD.(114) Chẳng những không chấp thuận đề nghị của Năm Lửa, ngày 10/3, đại diện Collins gặp Ưng Ân, đặc sứ của BĐ, đe dọa Mỹ sẽ tái xét vấn đề viện trợ nếu các giáo phái lật đổ NĐD bằng vũ lực. 

Ngày 13/3, Đại biểu chính phủ tại Nam Phần là Trần Văn Lắm bị ám sát nhưng không chết. Hung thủ, theo tin đồn, tẩu thoát về hướng Bộ Chỉ huy Ḥa Hảo. Ngày này, NĐD tâm sự