|
Dịch
cúm gia cầm:
Sẵn
sàng chuẩn bị nhưng không hốt hoảng
Nguyễn Văn Tuấn
"Dịch cúm gà" đă trở thành một danh từ phổ
biến ở nước ta, nhưng sự thật th́ con gà bị "oan" ở đây bởi v́ bệnh cúm không
chỉ t́m thấy ở gà, mà c̣n ở chim, vịt, heo, thậm chí cọp (như vừa phát hiện bên
Thái Lan). Giới khoa học Tây phương gọi là "avian flu", có nghĩa là "cúm
chim". Theo tôi có lẽ nên dùng một danh từ chính xác hơn: dịch cúm gia cầm.
Thời gian gần đây, thông tin về dịch gia
cầm càng ngày càng lan rộng và gây ra không ít hoang mang trong quần chúng. Đầu
năm nay, người phát ngôn của Tổ chức y tế thế giới (WHO) cho biết “Chúng ta
không biết con số tử vong sẽ là bao nhiêu, nhưng chúng ta có thể tiên đoán rằng
con số sẽ rất cao, và có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu.
Thị trường chứng khoáng có thể sẽ bị đóng cửa. Việc đi lại giữa các nước sẽ bị
hạn chế.” Hai tuần trước, Tổng thống George W. Bush, một người chẳng mấy
mặn mà ǵ với khoa học, cũng cố gắng thu xếp th́ giờ họp với một nhóm khoa học
gia để thảo luận kế hoạch sản xuất vắc-xin pḥng chống cúm gia cầm. Tổng thống
Bush c̣n tỏ ra quan tâm nghiêm trọng đến vấn đề bằng cách phái Bộ trưởng y tế Mĩ
dẫn đầu một phái đoàn chuyên gia y tế đi thăm một ṿng các nước Á châu, kể cả
Việt Nam chúng ta, để t́m hiểu t́nh h́nh pḥng chống ra sao. Vị bộ trưởng này
khi về lại Mĩ tỏ ra quan tâm đến kế hoạch pḥng chống cúm gia cầm ở Á châu chưa
sẵn sàng v́ chủ yếu là thiếu phương tiện và tài lực.
Thực hư của vấn đề dịch cúm gia cầm phải dựa vào sự thật
khoa học, chứ chắc chắn không thể t́m thấy trong các bản tin trên các hệ thống
truyền thông quốc tế, dù là trích dẫn ư kiến từ các chuyên gia hay giáo sư đại
học. Thật ra, những ư kiến của chuyên gia, dù là chuyên gia hàng đầu, có giá
trị khoa học thấp nhất trong các loại bằng chứng y học. Thành ra, trước những
hoang mang và bất định như trên, có lẽ chúng ta cần b́nh tĩnh xem qua vài sự
thật khoa học để đi đến nh́n vấn đế một cách -- hi vọng là -- hợp lí hơn.
Có ba nhóm virút cúm được gọi tắt là nhóm A, B và C. Các
virút thuộc nhóm C thường t́m thấy trong con người nhưng chúng không có tác hại
lớn, ngoại trừ gây ra vài rối loạn cấp tính đường hô hấp, khả năng gây tử vong
cho bệnh nhân cực thấp. Các virút trong nhóm B (cũng hay thấy trong con người)
có thể nguy hiểm hơn, v́ thỉnh thoảng chúng có thể gây nên một nạn dịch, và nạn
nhân thường là trẻ em. Nhưng các virút thuộc nhóm A là đáng gờm hơn hết, bởi v́
chúng có thể đột biến một cách nhanh chóng thành những virút có khả năng kháng
nguyên (antigenic), có nghĩa là chúng có thể tiến hóa thành những virút mà hệ
thống miễn nhiễm của con người không nhận ra được (và không có khả năng pḥng
chống chúng).
Virút đang lan hành hiện nay là H5N1 thuộc nhóm virút A.
Sở dĩ có mẫu tự H và N là v́ cấu trúc sinh học của virút gồm có hai nhóm
protein: hemagglutinin (H) và neuraminidase (N). H có 16 chi với mă danh H1 đến
H16. N có 9 chi với mă danh N1 đến N9. Virút H5N1 là một dạng trong thuộc
nhóm mang kháng nguyên bề mặt HN này. Virút H5N1 có thể biến hóa thành virút
khác cùng nhóm, nhưng khả năng biến hóa đó chúng ta vẫn chưa biết ra sao.
Virút thuộc chi H1, H2 và H3 đă được biết có lưu truyền
trong con người từ 100 năm qua, và do đó chúng ta có thuốc pḥng chống chúng.
Nhưng virút H5 th́ vẫn c̣n là một “kẻ thù” xa lạ đối với hệ thống miễn nhiễm của
con người, và hiện nay chúng ta chưa có thuốc pḥng chống cụ thể. Những thuốc
như tamiflu chỉ pḥng chống cúm nhóm H2 và H3 là chủ yếu, và nghiên cứu lâm sàng
cho thấy hiệu quả của thuốc này -- nói một cách thành thật -- cũng chẳng mấy cao.
Một cơn đại dịch có thể xảy ra không?
Dư luận quần chúng hoang mang xoay quanh câu
hỏi trên, v́ một cơn đại dịch có thể làm chết hàng triệu người. Chẳng những làm
chết người mà dịch cúm trong bối cảnh toàn cầu hóa c̣n làm tổn hại đến kinh tế
quốc gia và kinh tế thế giới.
Có ba điều kiện để một virút có thể gây ra một đại dịch
toàn cầu: điều kiện thứ nhất là virút đó phải có khả năng đột biến thành một
virút mới; điều kiện 2 là virút phải có khả năng tái tạo hay đột biến một khi
xâm nhập vào cơ thể con người; và điều kiện 3 là virút phải có khả năng truyền
nhiễm giữa con người.
Về điều kiện thứ nhất, có thể nói virút H5N1
đă hội đủ điều kiện. Virút này đă gây bệnh cho hàng triệu chim và gia cầm trong
vùng Đông Nam Á. Thoạt đầu H5N1 gây ra vài triệu chứng không mấy nghiêm trọng
cho gia cầm, nhưng sau đó virút tiến hóa nhanh chóng và trở nên nguy hiểm hơn và
tỉ lệ tử vong trong gà bị nhiễm lên đến 100%! Cũng có khả năng virút H5N1 lây
truyền từ gia cầm sang con người, nhất là những người trực tiếp tiếp xúc với gia
cầm. Đại đa số nạn nhân chết v́ bị nhiễm (hay nghi ngờ bị nhiễm) virút H5N1
thường là những nông dân trong các nông trại hay thường xuyên đụng chạm với gà
vịt hàng ngày. Cũng cần nhắc lại rằng nạn dịch năm 1918 ở Tây Ban Nha cho thấy
virút H1N1 cũng bắt đầu nhiễm gia cầm và từ đó lây truyền sang con người.
Về điều kiện thứ hai, hiện nay chúng ta đă có
bằng chứng sơ khởi cho thấy virút H5N1 có thể gây tử vong cho
con người. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, cho đến nay, đă có
117 trường hợp bệnh nhân bị nhiễm virút H5N1, và trong số này 60 người đă không
may chết v́ tiếp xúc (hay t́nh nghi có tiếp xúc) với virút. Tuy số liệu trên
cho thấy nguy cơ tử vong từ virút H5N1 khá cao, nhưng trong thực tế nguy cơ có
lẽ thấp hơn nhiều, bởi v́ có thể có nhiều trường hợp tử vong v́ vi khuẩn và
thiếu thuốc kháng sinh (chứ không phải do H5N1 trực tiếp gây ra), và cũng không
thể loại trừ khả năng có nhiều trường hợp bị nhiễm nhẹ nhưng không được báo cáo.
Về điều kiện thứ ba, cho đến nay chúng ta vẫn
chưa có bằng chứng ǵ cho thấy virút H5N1 truyền từ người sang người. Các
chuyên gia bệnh truyền nhiễm vẫn chưa thể kết luận ǵ về nguy cơ truyền nhiễm
giữa con người có xảy ra hay không, và nếu xảy ra th́ tần suất sẽ là bao nhiêu.
Nói tóm lại, trong 3 điều kiện cho một nạn
dịch lớn, virút H5N1 đă hội đủ 1,5 điều kiện. Do đó, có thể nói rằng những tiên
đoán về một nạn dịch lớn xảy ra trong năm nay hay năm tới với hàng triệu người
sẽ chết xem ra không có cơ sở khoa học vững vàng. Các chuyên gia hàng đầu về
bệnh truyền nhiễm nhấn mạnh rằng một nạn dịch H5N1 sẽ khó có khả năng xảy ra
trong năm nay. Các chuyên gia hàng đầu trên thế giới về bệnh truyền nhiễm và
virút học cũng nhất trí rằng một cơn đại dịch xảy ra vào năm nay hay năm tới là
không tưởng.
Ngừa bệnh hơn chữa bệnh
Tuy khả năng về một cơn đại dịch xảy ra trong năm tới rất
thấp, nhưng trong thực tế, không ai có thể tiên đoán chính xác được tương lai,
và sự thật về khả năng đột biến của H5N1 là một mối quan tâm lớn. Có thể nghĩ
đến 3 t́nh huống trong tương lai: một là H5N1 sẽ tiến hóa (hay đột biến) để có
khả năng lan truyền từ người sang người qua ḥa nhập với các virút khác trong
con người; hai là qua đường truyền nhiễm (khi con người bị bệnh truyền nhiễm,
virút H5N1 có thể đột biến để thích nghi với cơ thể con người); và ba là H5N1 có
thể trở nên trung ḥa với cơ thể con người. Trong ba t́nh huống, virút H5N1 đều
có thể trở nên một tác nhân gây bệnh nguy hiểm. Thành ra, đứng trên quan điểm y
tế công cộng, pḥng bệnh vẫn hơn là chữa bệnh. V́ thế một số chiến lược cần
phải được đề ra và thảo luận:
Thứ nhất là vắc-xin. Bản chất
của cúm gia cầm và truyền nhiễm, do đó, vắc-xin là một biện pháp hàng đầu và hữu
hiệu nhất ở mức độ cộng đồng. Trong quá khứ, chính v́ thiếu vắc-xin, cho
nên con số tử vong v́ các nạn dịch lên đến hàng triệu. Tuần vừa qua, các nhà
khoa học Việt Nam tuyên bố đă sản xuất thành công vắc-xin pḥng chống H5N1, và
đó là một tin mừng, một phát triển rất tích cực. Hiện nay, Việt Nam đang tích
cực theo chiều hướng pḥng ngừa bằng vắc-xin, và đó là một đường hướng hoàn toàn
hợp lí. Ở Úc, các giới chức y tế đang có kế hoạch chích ngừa vắc-xin cho toàn
dân số (20 triệu người), nhưng ở nước ta, một kế hoạch qui mô như thế tốn kém
rất nhiều, do đó có thể tập trung công tác vắcxin pḥng ngừa ở các đối tượng có
nguy cơ cao như trẻ em và người có tuổi.
Thứ hai là tăng cường trữ lượng thuốc chống
virút. Hiện nay, có hai loại thuốc được xem là có khả năng pḥng chống virút
hữu hiệu: đó là M2 ion channel blockers (tức amatadine và rimantadine), và NA
inhibitors (như zanamivir và oseltamivir). Thuốc amatadine và rimantadine có
hiệu năng ngăn chận hoạt động protein M2 trong hầu hết virút cúm. C̣n thuốc
zanamivir và oseltamivir th́ có hiệu năng làm vô hiệu hóa khả năng tái biến của
virút cúm trong khi bệnh nhân bị bệnh truyền nhiễm, và qua đó làm cho virút
không có cơ hội xâm nhập vào các tế bào khác của cơ thể.
Thứ ba là cần phải tăng cường truy t́m các
trường hợp bị nhiễm virút H5N1. Một biện pháp có lẽ hữu hiệu nhất là phát hiện
bệnh nhân kịp thời để tách li bệnh nhân trước khi lan truyền sang người khác.
Theo tôi, nên phát động một chương tŕnh thử nghiệm nước bọt hay thử máu của các
bệnh nhân có những triệu chứng liên quan đến nhiễm virút cúm tại tất cả các bệnh
viện trong cả nước.
Thứ tư là tăng cường hợp tác quốc tế. Thật ra các trung
tâm y tế ở nước ta đă và đang hợp tác với các tổ chức y tế thế giới. Nhưng cũng
cần tăng cường hợp tác nghiên cứu với các nước có kinh nghiệm về pḥng chống
dịch cúm như Thụy Sĩ, Úc, Mĩ và Pháp. Vấn đề pḥng chống cúm gia cầm, do đó,
không chỉ hạn chế trong các nước Á châu hay nước ta, mà các nước Tây phương cũng
phải chứng tỏ họ nên có trách nhiệm hợp tác và giúp đỡ các nước nghèo khó như
nước ta.
Không nên hoảng hốt !
Xu hướng đưa tin về dịch cúm gia cầm làm cho thế giới hốt
hoảng. Một số người đă vội vàng tuyên bố một cơn đại dịch sẽ xảy ra nay mai với
hàng trăm triệu người chết. Theo tôi, đó là một tiên đoán quá vội vàng và thiếu
cơ sở khoa học, bởi v́ không ai biết trước nạn dịch sẽ bùng phát hay được khống
chế như thế nào; không ai biết được có bao nhiêu người bị ảnh hưởng. Tuy nhiên,
chúng ta biết rằng y học thế kỉ 21 khác với y học đầu thế kỉ 20. Việc so sánh
về khả năng dịch cúm gia cầm H5N1 với nạn dịch năm 1918 ở Tây Ban Nha có vẻ
gượng ép v́ không đúng chỗ. Vào thời đó (1918) Âu châu đang bị suy yếu kinh tế
sau 4 năm chiến tranh, và việc phát triển các phương tiện cấp cứu cũng như
vắc-xin chống cúm rất hạn chế.
Trường hợp bệnh SARS là một ví dụ gần nhất nhưng mang tính
cổ điển nhất. Khi bệnh SARS được phát hiện vào năm ngoái, WHO và một số chính
phủ Tây phương tiên đoán sẽ có hàng triệu người chết và nền kinh tế toàn cầu sẽ
bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nhưng cho đến nay, thống kê cho thấy chưa đến 800
người không may bị chết trong số 8400 người bị bệnh SARS. Con số tử vong tuy
c̣n nhỏ nhưng vẫn là một sự mất mát lớn, nhưng không thể nói đó là một đại dịch
được.
Nên nhớ rằng dịch cúm gia cầm chưa phải là một vấn nạn,
bởi v́ so với các cúm khác th́ cúm gia cầm chỉ là một vấn đề nhỏ. Mỗi năm có
khoảng 250.000 đến 500.000 người chết v́ bệnh cúm trên thế giới; khoảng 1 đến
2,7 triệu người, phần lớn ở Phi châu, chết v́ bệnh sốt rét; ngay cả bệnh lao (vâng,
bệnh lao) vẫn giết chết gần 2 triệu người hàng năm, và 98% những người chết v́
lao sống trong các nước đang phát triển; tai nạn giao thông (kể cả tai nạn xe
tàu) giết chết 300.000 người Á châu hàng năm, v.v... Phải đặt vấn đề “cúm gia
cầm” trong bối cảnh như thế để chúng ta nhận thức rằng chúng ta c̣n nhiều vấn đề
lớn và nghiêm trọng khác.
Virút và bệnh tật đă, đang và sẽ tồn tại cùng chúng ta
trong cuộc sống; chúng ta không có cách nào loại trừ chúng hoàn toàn. Vấn đề
không phải là t́m cách loại trừ chúng (v́ không thể làm được), nhưng phải học
cách sống với chúng một cách sáng suốt. Có khi chúng ta phải chấp nhận một mức
độ nguy hiểm của cuộc sống đa chiều. Mức độ nguy hiểm có thể chấp nhận được tùy
thuộc vào nhận thức của từng cá nhân, và trong trường hợp này, lí trí là một
phương tiện không thể thiếu được trong cuộc sống mới. Nhận thức về những rủi ro
như dịch cúm gia cầm là một điều cần thiết. Nhưng nhận thức như thế là để chúng
ta biết những điều không nên hành động, chứ không phải để hốt hoảng.
|