|
Giải
Nobel y sinh học năm 2005: hành tŕnh về bệnh viêm nhiễm
Nguyễn Văn Tuấn
Theo thông lệ hàng năm, ngày 8
tháng 10 vừa qua, Hàn lâm viện Thụy Điển vừa công bố tên các nhà khoa học được
trao giải Nobel về sinh lí học hay y học (physiology or medicine). Năm nay, hai
người Úc được tuyển chọn để trao giải thưởng cao quí này: Bác sĩ chuyên gia về
hệ thống tiêu hóa Barry J. Marshall (54 tuổi) và bác sĩ chuyên gia bệnh lí học
J. Robin Warren (68 tuổi, đă nghỉ hưu). Thế giới y khoa có vẻ ngạc nhiên về
giải Nobel năm nay, bởi v́ trong mấy thập niên gần đây giải này thường được trao
cho các nhà khoa học Mĩ và Âu châu, và cũng tập trung vào các công tŕnh nghiên
cứu cơ bản. Nhưng lần này giải thưởng được trao cho hai nhà khoa học người Úc
và một công tŕnh nghiên cứu tương đối đơn giản.
Cả hai bác sĩ Marshall và Warren đều làm
việc tại một viện nghiên cứu có thể nói là “vô danh” thuộc Trường Đại học Tây Úc
(University of Western Australia) tại thành phố Perth, Úc châu. Cả hai cũng
chẳng phải là những nhà khoa học thuộc vào loại hàng đầu của Úc hay trên trường
quốc tế. Tuy nhiên, công tŕnh nghiên cứu của họ có tầm vóc lớn và quan trọng
cho thế giới: họ phát hiện vi khuẩn Helicobacter pylori (viết tắt là
H. Pylori) là thành tố gây bệnh loét tiêu hóa (peptic ulcer) hay viêm dạ dày
và một số ung thư. Đánh giá tầm quan trọng của phát hiện này, hội đồng khoa học
Hàn lâm viện Thụy Điển viết: “Khám phá vi khuẩn là nguyên nhân gây ra bệnh
loét tiêu hóa, một trong những bệnh phổ biến nhất của con người, đă mở ra một
định hướng nghiên cứu mới nhằm t́m ra những vi khuẩn khác có thể là nguyên nhân
gây ra các bệnh viêm măn tính.”
|
 |
|
Bác sĩ Robin
Warren (bên trái) và bác sĩ Barry Marshall (bên phải) là hai nhà khoa học Úc
được trao giải Nobel y sinh học năm 2005. Ảnh: Sydney Morning Herald. |
Hành tŕnh khám
phá
Thật ra, khám phá của Marshall và Warren
đă viết lại sách giáo khoa y học, và hành tŕnh đi đến đỉnh cao của vinh quang
là những chua cay và gay go. Qua hàng trăm năm nay, một trong những “giáo lí”
của y khoa là không có cái ǵ mọc lên từ dạ dày cả. Sách giáo khoa y khoa cho
đến nay vẫn cho rằng loét dạ dày hay loét đường ruột (một bệnh rất đau đớn cho
bệnh nhân) là bệnh phát sinh từ cách ăn uống, như ăn quá nhiều thức ăn gia vị
cay, chứa nhiều acid, hay ở trong t́nh huống tâm trạng căng thẳng. Thật vậy, mở
hầu như bất cứ từ điển y khoa nào, chúng ta có thể thấy vài hàng giải thích về
bệnh loét tiêu hóa như sau: là một chỗ thủng ở màng lót (niêm mạc) đường tiêu
hóa do niêm mạc bị pepsin và acid tiêu hóa; điều này có thể xảy ra khi pepsin và
acid nồng độ cao bất thường hay khi có vài cơ chế khác làm giảm đi các cơ chế
b́nh thường bảo vệ niêm mạc; có thể có vai tṛ của muối mật đặc biệt trong loét
bao tử.
Nhưng vào đầu thập niên 1980s, bác sĩ
Warren để ư thấy sự có mặt của vi khuẩn ở niêm mạc của dạ dày của khoảng phân
nửa bệnh nhân có sinh thiết. Sau đó, bác sĩ Marshall, lúc đó là một y sĩ trẻ
thực tập tại pḥng thí nghiệm của Warren, tham gia vào công tŕnh nghiên cứu, và
thành công trong việc cấy trồng được một vi khuẩn mà ông đặt tên là
Campylobacter pyloridis v́ ông nghĩ là nó thuộc họ vi khuẩn Campylobacter.
Nhưng sau này, vi khuẩn này được biết là thuộc họ Helibacter, cho nên nó có tên
mới là vi khuẩn H. pylori. Thế nhưng, dạo đó chẳng có ai trong giới y
khoa tin vào thuyết vi khuẩn là nguyên nhân của bệnh loét dạ dày! Khi bác sĩ
Warren và Marshall nộp báo cáo trong một hội nghị y khoa tại Úc, vị chủ tịch hội
nghị không cho công bố, v́ ông tin rằng cái thuyết “ngược đời” đó là một sai
lầm!
Đến năm 1982, để thuyết phục đồng nghiệp,
bác sĩ Marshall (lúc đó mới 32 tuổi) quyết định làm thí nghiệm trên chính cơ thể
của ông. Ông nuốt ống soi dạ dày (gastroscope) vào bụng để bác sĩ đồng nghiệp
Warren có thể nh́n thấy dạ dày ông mà làm sinh thiết để chứng minh rằng ông
không bị nhiễm vi khuẩn H. pylori. (Xin nhắc lại các bạn đọc không quen
với y khoa, sinh thiết là một phẫu thuật nhỏ nhằm cắt một phần nhỏ trong một cơ
phận nào đó, như dạ dày chẳng hạn. Sinh thiết nói chung là an toàn nhưng cũng
có trường hợp có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của bệnh nhân). Bác sĩ
Marshall phải đợi đến 10 ngày sau, khi các chỗ dạ dày (được lấy sinh thiết) lành
lặn, ông uống vi khuẩn H. pylori vào bụng. Ba ngày sau, ông ngă bệnh,
nôn ói liên tục, lúc nào cũng cảm thấy no nê, và hơi thở th́ hôi thối không chịu
được! Mười ngày sau, ông lại nuốt ống soi dạ dày để bác sĩ Warren lại làm sinh
thiết, và chứng minh rằng chính vi khuẩn H. pylori là thủ phạm gây bệnh
loét dạ dày. Sau khi được điều trị bằng thuốc kháng sinh, ông hết bệnh. Thí
nghiệm độc đáo này thuyết phục Marshall và Warren rằng loét dạ dày là do vi
khuẩn gây ra, chứ không phải do acid hay do tâm trạng căng thẳng mà ra như sách
giáo khoa viết.
Đến nay, qua hàng ngàn nghiên
cứu, giới y khoa biết rằng quả thật vi khuẩn H. pylori là thủ phạm của
khoảng 80% đến 90% các trường hợp loét dạ dày, và các trường hợp này đă có thể
điều trị một cách nhanh chóng và dễ dàng bằng thuốc kháng sinh. (Tuy nhiên, rất
nhiều người -- có thể 50% -- trong chúng ta là “chủ nhà” của vi khuẩn H. pylori,
nhưng chỉ 10% đến 15% trong số này bị bệnh loét). Nhờ vào khám phá của Marshall
và Warren mà bệnh loét dạ dày, loét đường ruột không c̣n là bệnh măn tính nữa.
Vai tṛ của viêm
Khám phá của Marshall và
Warren không chỉ có ư nghĩa và tiềm năng trong việc điều trị bệnh loét dạ dày,
loét ruột, mà c̣n làm cho chúng ta phải suy nghĩ nhiều hơn về vai tṛ của viêm
đối với các bệnh măn tính khác như ung thư dạ dày và bệnh tim. Thật vậy, có một
yếu tố có triển vọng giải thích một số trường hợp bệnh tim, nhưng không có bao
nhiêu người tin vào, nếu không muốn nói là có nhiều người phản đối: đó là viêm.
Thử đưa ra một giả thuyết: điểm khởi đầu của quá tŕnh phát sinh bệnh tim là
viêm động mạch do nhiễm trùng.
Đă từ lâu, giới khoa học ghi nhận rằng
viêm động mạch là bước đầu tiên trong quá tŕnh phát bệnh vữa xơ động mạch,
nhưng họ tin rằng sự tổn hại này là do cholesterol gây nên. Nhưng có thể viêm
động mạch xảy ra trước, rồi mới đến cholesterol tích tụ sau. Có vài bằng chứng
có vẻ nhất quán với quan điểm này. Trong thỏ, người ta phát hiện là một khi
vành động mạch bị vỡ, không có mảng (plaque), dù chúng có độ cholesterol rất
cao. Dĩ nhiên, viêm động mạch có thể phát sinh bằng nhiều cách, chẳng hạn như
qua hóa chất từ thuốc lá (khói thuốc là một chất kích thích trong máu). Các nhà
khoa học Pháp từng chứng minh rằng trong chuột, khi được đặt vào môi trường
không khí ô nhiễm, hệ thống tuần hoàn bị hư hại. Sự “hư hại” này xuất hiện dưới
h́nh thức những mảng rất giống với vữa xơ động mạch. Ngoài ra, c̣n có yếu tố di
truyền: các mảng thường xảy ra trong chuột không có protein IL-10. Chuột không
có khả năng sản xuất IL-10 có động mạch bị nghẽn cao gấp 30 lần (và nguy cơ vành
động mạch bị vỡ cao gấp 4 lần) so với chuột có IL-10. Khoảng 10% con người
thiếu IL-10 và có thể những người này rất dễ bị nhiễm vi khuẩn.
Một vi khuẩn được chú ư nhiều nhất là
Chlamydia pneumoniae, thường được gọi là TWAR. Vi khuẩn này tấn công và lưu
truyền trong con người qua ho, và hắt hơi. Trong những người ở độ tuổi 20, xác
suất mang vi khuẩn này khoảng 50%. Từ phổi, vi khuẩn này có thể “quá giang”
tiểu thực bào để vào động mạch. Trong thập niên 1990s, giới khoa học ghi nhận
rằng những người bị bệnh tim mạch thường có độ kháng thể TWAR rất cao, tức là họ
đă từng bị nhiễm vi khuẩn nhiều lần trước khi bị bệnh. Ngoài ra, DNA và protein
của vi khuẩn này thường xuất hiện trong các mảng đóng phía ngoài của vành động
mạch, thậm chí có trường hợp vi khuẩn sống cũng được t́m thấy trong đó. Trong
một nghiên cứu ở Ḥa Lan, dấu hiệu vi khuẩn được t́m thấy trong khoảng 60% đến
79% trường hợp động mạch bị nghẽn, và ít khi nào t́m thấy trong các động mạch
b́nh thường. Nhưng, một vài nghiên cứu khác không t́m thấy dấu hiệu của vi
khuẩn này trong những động mạch bị nghẽn!
Xu hướng gia tăng bệnh tim trong đầu thế
kỉ 20 và suy giảm trong thời gian gần đây được ví von như là một bệnh dịch, bởi
v́ quá tŕnh phát triển bệnh này có vẻ đi theo một quá tŕnh thường t́m thấy
trong bệnh dịch, nhưng với một thời gian lâu dài hơn bệnh dịch. Có thể bệnh tim
thực sự là một bệnh dịch theo cách hiểu thông thường, hơn là một cách nói ví
von. Nhiễm vi khuẩn có thể giải thích tại sao tỉ suất tử vong v́ bệnh tim giảm
một cách nhanh chóng, và sự suy giảm đó không nằm trong ḱ vọng của chúng ta.
Những loại thuốc trụ sinh loại kiềm khuẩn như tetracyline được đưa vào y tế công
cộng cùng thời với tỉ suất tử vong bắt đầu suy giảm.
Tương tự, vi khuẩn H. pylori cũng
có thể đóng vai tṛ quan trọng trong việc chữa trị ung thư dạ dày. Thật ra,
H. pylori đă từng được xem là một thành tố gây bệnh ung thư dạ dày có tên là
MALT (mucosa-associated lymphoid tissue). Loại ung thư này thường được kiềm chế
bằng cách dùng thuốc kháng sinh để diệt vi khuẩn H. pylori trong dạ dày.
Bệnh này rất phổ biến vào đầu thế kỉ 20, thế nhưng đến sau thập niên 1950s th́
bệnh này không c̣n phổ biến như trước nữa, dù không ai biết nguyên nhân tại
sao. Có lẽ việc sử dụng thuốc kháng sinh là một yếu tố làm giảm tỉ lệ bệnh ung
thư dạ dày chăng? Có thể lắm!
Hành tŕnh về bệnh viêm
Có thể nói giải Nobel y sinh học năm nay
là một thể hiện của hành tŕnh về nguồn, quay về với thuyết viêm
(inflammation). Trong ṿng 200 năm qua, bệnh tật được phân loại thành 3 nhóm:
bệnh truyền nhiễm, bệnh do di truyền mà ra, và bệnh do môi trường gây ra. Đầu
thế kỉ 19, phát triển y học xoay quanh việc chinh phục những bệnh truyền nhiễm.
Trong thời gian đầu thế kỉ 20 đến giữa thể kỉ 20, khi các nghiên cứu về các tác
nhân truyền nhiễm chuyển từ nghiên cứu về vi khuẩn sang nghiên cứu vi-rút, khái
niệm về di truyền bệnh tật đă bắt đầu nhen nhúm. Cho đến khi khám phá cấu trúc
DNA và sau đó, nghiên cứu về di truyền học đă trở thành một cái mốt thời thượng
trong y học. Theo sau di truyền học là những phát triển phi thường về sinh học
phân tử (molecular genetics) và tế bào học dẫn đến những nghiên cứu tinh vi về
cơ chế gây bệnh xuất phát từ đột biến DNA và tương tác giữa DNA với môi trường.
Giải Nobel y sinh học được trao từ năm
1901, tính đến nay đă hơn 100 năm. Nh́n qua các công tŕnh khoa học được trao
giải này cũng có thể cho ra một một khái niệm về quá tŕnh tiến bộ của y học
theo khuynh hướng mà tôi vừa nêu trên. Từ những nghiên cứu có tính lâm sàng
tương đối “sơ sài” (so với tŕnh độ kĩ thuật ngày nay), nghiên cứu y khoa đă
tiến sâu vào lĩnh vực cơ bản nhất của con người như di truyền phân tử học và
sinh học phân tử. Năm 1901, ông Emil Adolf von Behring (người Đức) đoạt giải
này v́ đă các công tŕnh nghiên cứu và chữa trị bệnh bạch hầu. Hàn lâm viện
Thụy Điển đánh giá công tŕnh này rất cao, họ viết: “[qua nghiên cứu này],
ông đă mở ra một hướng đi mới trong lĩnh vực y khoa, và bằng cách đó, đă cho các
y sĩ một vũ khí hữu hiệu để chinh phục bệnh tật và sự tử vong.” Năm 1902,
giải thưởng được trao cho một nhà khoa học người Anh, ông Ronald Ross v́ công
tŕnh nghiên cứu liên quan tới bệnh sốt rét. Những năm sau đó, các khoa học
được tặng giải thưởng nhờ vào nghiên cứu liên quan tới bệnh lao (1905; Robert
Koch, người Đức), sốt ban (typhus) (1928; Charles Nicolle, người Pháp); phân
loại máu (1930; Karl Landsteiner, người Mĩ), bệnh truyền nhiễm (1945; Alexender
Fleming, Mĩ; Ernst Boris Chain, Anh; Howard Walter Florey, Úc), sốt vàng (1951;
Max Theiler, người Mĩ), chữa trị bệnh lao bằng thuốc streptomycin (1952; Salman
Abraham Waksman, Mĩ).
Bắt đầu từ năm 1958, nghiên cứu về di
truyền học đă được sự chú ư của Hàn lâm viện Thụy Điển qua việc trao giải thưởng
cho ba nhà khoa học người Mĩ, George Wells Beadle, Edward Lawrie Tatum, và
Joshua Lederberg, v́ đă có công khám phá ra một qui luật quan trọng trong di
truyền học vi khuẩn (genetic recombinant). Năm 1961, ba nhà khoa học Francis
Harry Compton Crick (Anh), James Dewey Watson (Mĩ) và Maurice Hugh Frederick
Wilkins (Anh) chiếm giải Nobel do khám phá nổi tiếng về cấu trúc DNA, làm tiền
đề cho hàng triệu nghiên cứu và tiến bộ về sinh học y khoa sau này.
Kể từ đó, giải thưởng nghiên về các công
tŕnh mang bản chất sinh học phân tử và di truyền. Năm 1978, Hàn lâm viện Thụy
Điển trao giải thưởng cho ba nhà khoa học Werner Arber (Thụy sĩ), Daniel Nathans
(Mĩ) và Hamilton O. Smith (Mĩ) do đă có công khám phá ra các enzymes và những
ứng dụng vào nghiên cứu di truyền học. Sự tiến bộ trong sinh học phân tử và di
truyền học những năm gần đây phần lớn nhờ vào các kĩ thuật PCR (polymerase chain
reaction) do hai nhà khoa học Mĩ (Kary Mullis) và Canada (Michael Smith) khám
phá, và đă được trao giải thưởng Nobel về hóa học vào năm 1993. Kể từ năm 1999
cho đến nay th́ giải này vẫn được trao tặng cho một công tŕnh mang nặng tính
chất sinh học phân tử, nhất là các công tŕnh liên quan đến tế bào học. Nói tóm
lại tính từ 1950s đến nay, giải Nobel y sinh học chỉ trao cho các công tŕnh
nghiên cứu cơ bản, chứ chưa có công tŕnh nghiên cứu lâm sàng nào.
Rồi đến năm nay (2005), Hàn lâm viện Thụy
Điển làm cho giới khoa học ngạc nhiên bằng cách trao giải thưởng cao quí này cho
một công tŕnh nghiên cứu liên quan đến bệnh viêm, một công tŕnh mang tính
nghiên cứu lâm sàng. Đây quả là một thể hiện “về nguồn”, về nguồn bệnh viêm.
Qua giải thưởng lần này, có lẽ những giáo sư trong Hàn lâm viện Thụy Điển muốn
nhắc nhở thế giới rằng bệnh truyền nhiễm vẫn c̣n đe dọa chúng ta mở mức độ toàn
cầu. Những đợt dịch cúm SARS và cúm gia cầm gần đây là một cảnh báo rằng những
bệnh truyền nhiễm vẫn c̣n tồn tại (chứ chưa được xóa bỏ như một giới chức y tế
Mĩ từng tuyên bố đầy tự tin rằng "Bây giờ
chúng ta có thể nói rằng bệnh truyền nhiễm đă được khống chế hoàn toàn. Đă đến
lúc chúng ta đóng sổ căn bệnh này.")
Mấy năm gần đây, một số nhà
khoa học chất vấn tính thiết thực của giải Nobel y sinh học, v́ họ cho rằng giải
thưởng này chỉ ghi nhận những công tŕnh nghiên cứu cơ bản, và càng ngày càng xa
rời thực tế của khoa học lâm sàng. Có người thậm chí đề nghị một giải thưởng y
sinh học khác thiết thực hơn! Năm nay, giải thưởng Nobel y sinh học đă ghi nhận
một công tŕnh khoa học lâm sàng thiết thực, và đă không phụ ḷng ông Nobel khi
ông viết trong di chúc rằng giải thưởng nên dành cho “những ai có cống hiến đem
lại phúc lợi lớn cho con người.”
|
|