|
Alexandre
Yersin và Việt Nam
Nguyễn Văn Tuấn
Trong ngành vi
sinh học (microbiology) Yersin là một trong những tên tuổi lịch sử, v́ chính ông
là người phát hiện vi khuẩn bệnh dịch hạch (mang tên
Yersinia pestis).
Trên trường quốc tế, tên ông thường gắn liền với Việt Nam: nói đến Yersin là
nói đến Việt Nam. Có thể nói Yersin là một nhà khoa học Việt Nam, v́ tên tuổi và
sự nghiệp của ông gắn liền với Việt Nam, và Việt Nam là quê hương thứ hai của
ông. Thế nhưng so với sự nghiệp và công trạng khoa học đồ sộ của ông, sách vở
viết về ông vẫn c̣n rất khiêm tốn. Điều may mắn là dù Yersin đă qua đời gần 60
năm về trước, nhưng ông đă để lại gần 1000 lá thư, và t́m hiểu những lá thư này
cho chúng ta thấy đằng sau tên vi khuẩn là một con người, một người nhân hậu đă
để lại một di sản quí báu chẳng những cho Việt Nam mà c̣n cho cả thế giới.
Cuộc đời và sự nghiệp
Alexandre Emile
John Yersin sinh ngày 22 tháng 9 năm 1863 tại làng Lavaux, Quận Vaud, bên bờ hồ
Geneva, Thụy Sĩ. Sau khi theo học trung học phổ thông ở
Lausanne,
ông sang Paris theo học y khoa tại Đại học
Marburg. Năm
1888, Yersin hoàn tất luận án tiến sĩ y khoa với đề tài bệnh lao (La
tuberculose expérimentale, type Yersin). Luận
án được đánh giá cao và ông được thưởng huy chương đồng, nhưng ông nhận một cách
miễn cưỡng. Trong thời gian theo học y khoa, trong
một tai nạn bị chảy máu tay khi ông làm giải phẫu trên xác tử thi chết v́ bệnh
dại, ông được tiếp xúc với
Pierre-Paul-Emile Roux
(1853-1933), một nhà khoa học nổi tiếng thời đó đang theo đuổi một công tŕnh
nghiên cứu về phương pháp chữa trị bệnh dại. Roux cứu sống Yersin bằng cách tiêm
thuốc do chính Roux bào chế. Sau khi tốt nghiệp, Yersin được Roux thu nhận vào
làm việc với vai tṛ phụ tá nghiên cứu. Năm 1889, Yersin c̣n được giao thêm một
nhiệm vụ dạy học môn vi sinh học tại Viện Pasteur.
Thời
gian làm phụ tá cho Giáo sư Roux, Yersin c̣n có cơ hội làm tại Bệnh viện nhi
đồng (Hôpital des
Enfants-Malades), nơi mà bệnh
bạch hầu đang là một vấn nạn y tế lớn lúc đó. Yersin thuyết phục Roux nên nghiên
cứu về bệnh này. Roux và Yersin tiến hành một số thí nghiệm trên chuột, và từ đó
phát triển phương pháp truy t́m
toxine diphthérique
(độc tố bạch hầu) từ nước tiểu của bệnh nhân. Tiến thêm một
bước, Yersin và Roux phát triển vắc-xin thành công dùng cho việc chữa trị bệnh
bạch hầu. Đây là một khám phá đầu tiên và một cống hiến quan trọng của Yersin
cho vi sinh học. Lúc bấy giờ,
sinh học đang ở trong một “Thời đại vàng son của vi khuẩn học” – “Golden Age of
Bacteriology”, một cuộc cách mạng về tiêm chủng và vắc-xin.
Với một thành
tích đầy hứa hẹn như thế, ai cũng thấy Yersin có một tương lai sáng sủa trong
khoa học. Ấy thế mà ông lại quyết định bỏ sự nghiệp nghiên cứu trước sự kinh
ngạc của người thầy (Roux) để “Đông du”. Yersin xin nghỉ việc từ Viện Pasteur và
đệ đơn xin làm y sĩ cho
Công ti vận chuyển đường biển,
Messageries Maritimes.
Ngày 5/3/1890, ông được kêu lên phỏng vấn, và đem theo một lá thư giới thiệu
của Louis Pasteur. Với một người giới thiệu nổi tiếng như thế, Công ti lập tức
nhận Yersin vào làm, dù ông chưa bao giờ có kinh nghiệm đi biển bao giờ.
Tháng 9 năm
1890, Yersin đi xe lửa đến Marseille và từ đó xuống tàu
Oxus
đi Sài G̣n. Yersin đến Sài G̣n ngày 15/10/1890, và ngay sau đó được giao nhiệm
vụ mới trên tàu
Volga
chuyên chở hàng qua lại giữa Sài G̣n và Manila (Phi Luật Tân). Nhiệm vụ trên tàu
Volga
rất đơn giản và có khi nhàm chán,
ông chỉ việc kiểm tra sức khỏe thủy thủ đoàn và cấp giấy chứng nhận y tế. Do đó,
Yersin có rất nhiều thời gian để học về hàng hải và hải đồ (cartography) dưới sự
chỉ dẫn của các thuyền trưởng. Chính những kinh nghiệm học hỏi trên tàu
Volga
đă giúp ông trong công cuộc thám hiểm trong nội địa Đông
Dương sau này. Trên tàu
Volga,
Yersin c̣n t́m cách học tiếng Việt để ông có thể nói chuyện với thủy thủ đoàn mà
phần lớn là người Việt Nam.
Đầu năm 1891
Công ti
Messageries
hủy bỏ các chuyến tàu giữa Sài G̣n và Manila, Yersin được thuyên chuyển sang làm
việc trong các chuyến tàu giữa Sài G̣n và Hải Pḥng. Tuyến đường mới này giúp
ông khám phá thêm về Việt Nam. Ông c̣n bỏ tiền ra mua một chiếc ca-nô để đi thám
hiểm các vùng sâu xa khác trong Việt Nam. Trong các chuyến thám hiểm ở những
vùng hẻo lánh, ông trị bệnh cho dân làng hoàn toàn miễn phí. Ḷng nhân đạo của
ông được thể hiện qua một lá thư ông viết về nhà ở Thụy Sĩ: “Tôi
không thể nào đ̣i tiền từ một bệnh nhân.” Mùa
Thu năm 1891, hợp đồng của Yersin với công ti
Messageries
chấm dứt, và ông bắt đầu dành hết th́ giờ để theo đuổi “nghề ” thám hiểm.
Mùa Đông năm
1892 Yersin trở về Âu châu để thăm viếng gia đ́nh ở Thụy Sĩ và gặp gỡ các đồng
nghiệp cũ ở Paris, nơi mà ông mô tả “thời
tiết … quả là khắc nghiệt ghê gớm, buồn chán, và lạnh quá.” Khi
hay tin ông về Paris, Émile Roux hoan hỉ chờ đón Yersin tiếp tục nghiên cứu với
ông, nhưng Yersin đă quyết định bỏ sự nghiệp nghiên cứu khoa học ở Pháp. Quyết
định của Yersin không phải v́ thời tiết giá lạnh, mà v́ “Đối
với một người đă từng nếm mùi tự do như tôi, đời sống trong pḥng thí nghiệm ở
Paris quả là một nhà tù. Nghiên cứu khoa học rất ư là thú vị, nhưng ông Pasteur
từng nói rất chính xác rằng muốn làm người thiên tài trong pḥng thí nghiệm
người đó phải có tiền nhiều để không phải sống trong cảnh thiếu thốn.”
Tuy nhiên, với sự tiến cử của Roux, Hiệp hội Địa lí Pháp (French Geographic
Society) vinh danh Yersin bằng một bằng tưởng thưởng về chuyến thám hiểm ở Phnom
Penh. Trong chuyến quay lại Paris lần này, Yersin cho biết ông được dùng một bữa
cơm tối với Louis Pasteur, và được Pasteur “tỏ
ư vui mừng về những chuyến thám hiểm của tôi.”
Đối với Yersin được dùng bữa cơm và được Pasteur khen ngợi là một vinh dự.
Tháng 1 năm 1893, Yersin quay trở lại Sài
G̣n. Lần này, Yersin được giao cho một chức vụ đúng với sở thích và ngành nghề
ḿnh : làm cao ủy y tế thuộc địa. Một trong những qui định của công việc là phải
mặc quân phục và hành xử nghiêm chỉnh trong các buổi lễ. Nhưng Yersin không thể
nào tuân hành theo qui định này, v́ ông không thích mặc đồng phục.“Điều
làm tôi khó chịu là những người thuộc cấp phải chào tôi theo cung cách quân sự,
và tôi cũng phải chào các quan
cấp cao hơn tôi theo cung cách như thế. Tôi không thể nào đi ra ngoài mà không
phải dơ tay chào. Lúc nào tôi cũng phải bận tâm làm sao đừng đi ngang qua mấy
ông đại tá, đại úy”. Ông muốn
thoát khỏi Sài G̣n. Để thực hiện ư định này, ông tổ chức những đợt thám hiểm các
vùng rừng núi thuộc miền Trung Việt Nam. Những cuộc thám hiểm của ông thường gặp
phải khó khăn, v́ mưa gió, śnh bùn, và lụt lội. Trong một chuyến thám hiểm ông
phải đổi cái máy hát mua ở Thụy Sĩ để có một con voi dùng làm chuyên chở hàng
hóa và dụng cụ.
Trong thập niên 1890s, nạn dịch
cúm hoành hành ở miền Nam Trung Quốc và bắt đầu lan truyền xuống Đông Dương. Năm
1894 cơn dịch lớn xảy ra ở Hồng Kông, với khoảng 150.000 người mắc bệnh, và tỉ
lệ tử vong lên đến 95%. Yersin được Nhà cầm quyền thuộc địa gửi đến Hồng Kông để
nghiên cứu.
Ngày 15/6/1894, Yersin đến Hồng
Kông, và chứng kiến một cảnh tượng tang tóc. Đường xá chật chội đông người thuở
nào nay trống trơn ; đám tang khắp nơi ; những cuộc an táng vội vă... Ba ngày
trước đó, Shibasaburo Kitasato, một nhà khoa học danh tiếng người Nhật, cũng đến
Hồng Kông để nghiên cứu về bệnh dịch. Với sự yểm trợ tài lực dồi dào của chính
quyền thuộc địa Anh, Kitasato thành lập pḥng thí nghiệm trong bệnh viện Kennedy
Town. Trong khi đó, Yersin chỉ có một cái kính hiển vi. Người Anh cũng không cho
ông khám nghiệm tử thi.
Sau đó, Yersin được giới thiệu đến
gặp Kitasato, và được Kitasato cho làm “quan sát viên”, tức chỉ đứng nh́n nhóm
của Kitasato giảo nghiệm tử thi chứ không được trực tiếp nhúng tay vào. Yersin
hết sức ngạc nhiên về phương pháp làm việc của Katasato: họ khám nghiệm máu rất
kĩ càng và cẩn thận giảo nghiệm các cơ phận của tử thi, nhưng họ lại bỏ qua chỗ
sưng bạch hạch (bubo) !
Sau 5 ngày làm
quan sát viên, Yersin rất bực bội v́ cảm thấy ḿnh chẳng làm được ǵ. Ông quyết
định làm một việc mà y học ngày nay xem là …bất chính. Ông nhờ người thông ngôn
gốc Ư vốn có cảm t́nh với Pháp hối lộ những thủy thủ người Anh để mua cho ông
vài xác chết (v́ lúc đó các thủy thủ này có nhiệm vụ vận chuyển xác chết). Ngày
20/6/1894 Yersin có được 1 xác chết và bắt tay vào làm việc ngay. Ông cắt phần
sưng bạch hạch và lập tức dùng kính hiển vi khám nghiệm. Ông phát hiện “une
véritable purée de microbe”
– tức một vết mờ nhạt có h́nh cái que với hai đầu tṛn. Khi thử nghiệm với
Gram stain,
kết quả âm tính, nhưng với
baccillus stain
th́ dương tính. Sau khi làm thí
nghiệm trên 5 con chuột khác, kết quả tương tự. Hai ngày sau, Yersin báo cho
chính quyền thuộc địa Anh biết về phát hiện của ḿnh. Người Anh lúc đó mới cho
phép ông chính thức khám nghiệm tử thi trực tiếp. Lúc này, nhóm của Kitasato
cũng bắt đầu quay sang khám nghiệm phần sưng bạch hạch và tuyên bố rằng họ đă
phát hiện ra vi khuẩn gây bệnh bạch hầu.
Theo sau là một
cuộc tranh căi ồn ào ai là người đầu tiên đă khám phá ra
plague bacillus. Có
người cho rằng Yersin và Katasato một cách độc lập cùng khám phá ra vi khuẩn. Cho
đến nay vẫn có một số sách giáo khoa đề là
Kitasato-Yersin
bacillus. Nhưng
qua các bài báo của Katasato và b́nh luận của các cộng sự viên với Katasato, kết
quả
Gram stain
mà Katasato tuyên bố là
plague bacillus
thực là
streptococcus. Song,
trong các thư từ để lại Yersin có vẻ chẳng quan tâm ǵ đến cuộc tranh luận “ai
trước”, mà vẫn tiếp tục nghiên cứu
[1].
Năm sau đó
(1895) Yersin trở về lại Paris. Dựa vào kết quả nghiên cứu ở Hồng Kông, ông
cùng với cộng sự viên phát triển thành công vắc-xin chống bệnh dịch. Năm 1896,
vắc-xin này được dùng để chữa trị thành công một học sinh nhà ḍng người Trung
Quốc. Sau khi quay về Việt Nam, ông thành lập viện nghiên cứu lấy tên người thầy
cũ, gọi tên là
Pasteur Institute – Viện Pasteur.
Viện Pasteur gồm
có một bệnh viện, một trung tâm sản xuất vắc-xin, pḥng thí nghiệm, và đài thiên
văn.
Nhà thám hiểm
Trong thời gian làm công chức và
theo tàu đi lại giữa Sài G̣n và Hải Pḥng, Yersin thực hiện nhiều cuộc thám hiểm. Năm
1891 trong một lần thám hiểm vùng Tây Nguyên Việt Nam, ông khám phá ra nhiều
điều bí ẩn tại đây và phát hiện một vùng đất ôn đới mà sau này chúng ta biết là
Đà Lạt.
Trong một
chuyến thám hiểm khác, Yersin bị liên lụy vào một vụ nổi loạn của dân chúng địa
phương chống lại nhà cầm quyền thuộc địa. Ngày 18 tháng 6 năm 1893, 56 tù nhân
Việt Nam vượt ngục từ nhà tù Phan Rí và tham gia với các nhóm phản kháng khác
trong một cuộc nổi dậy nhằm lật đổ chính quyền tỉnh. Người Pháp khống chế thành
công cuộc nổi dậy, nhưng đạo quân nổi loạn thoát khỏi tỉnh và tái tổ chức. Các
nhóm này băng qua các rặng núi để đến Phan Rang tiến hành một cuộc đảo chính
khác. V́ không biết được những sự kiện này, Yersin đến làng
Bo Kraan
một tuần sau đó. Dân làng báo cho ông biết rằng có khoảng 30 người nổi loạn đă
vượt qua đây trong đêm qua. Với thói quen liều lĩnh, Yersin quyết định ra tay
chận đứng cuộc nổi dậy ! Ngày hôm sau, ông rời Bo Kraan cùng với những người
Việt tùy tùng trung thành với ông, và băng qua núi. Sau 12 giờ đi trong mưa,
đoàn ông đối đầu với nhóm nổi loạn tại làng
Pho Tan Ngam.
Yersin muốn bắt người đứng đầu nhóm nổi loạn làm tù binh.
Yersin bao vây và dồn người đứng
đầu nhóm nổi loạn vào một căn cḥi, nhưng trong giây phút cuối, những người Việt
tùy tùng của ông chạy trốn, và chỉ một ḿnh ông phải đối diện với kẻ thù ! Những
chi tiết trong câu chuyện chỉ là những chữ do chính Yersin ghi chép, do đó rất
khó mà biết được đây là một câu chuyện nói khoác hay là một câu chuyện có thật. Theo
Yersin, ông đe doạ kẻ thù ông với cây súng lục nhưng họ tấn công ông trước khi
ông có th́ giờ nổ súng. Sau một hồi quần nhau, Yersin bị thương nhẹ ở tay mặt và
bị ăn một báng súng. May mắn thay, những người nổi loạn không giết ông, họ bỏ
mặc ông đó rồi rời hiện trường, có lẽ họ nghĩ ông là một nhân vật cao cấp trong
quân đội Pháp và sợ bị trả thù. Mười ngày sau đó, tại một vùng gần thị xă Nha
Trang, dân quân người Việt bắt trọn nhóm nổi loạn. Yersin chụp h́nh những người
đứng đầu cuộc nổi loạn trước khi họ bị xử tử. Bằng một mô tả sinh động, Yersin
cho biết người đao phủ phải chém đến 4 lần mới chặt được đầu của Thouk, một thủ
lănh trong cuộc nổi loạn
[2].
Sau này, Yersin được thăng chức và
trở thành một trong những quan chức cao cấp nhất trong chính quyền thuộc địa ở
Đông Dương. Ông thực hiện nhiều cuộc khảo cứu không chỉ ở Đông Dương mà c̣n đi
đến các vùng xa xôi như Mumbai bên Ấn Độ. Ngoài việc thám hiểm ông c̣n điều hành
một mạng lưới pḥng thí nghiệm và trung tâm tiêm chủng ngừa khắp Việt Nam. Ông
chủ trương và thực hiện các chiến dịch chống sốt rét bằng cách cung cấp quinine
cho người dân bản xứ. Ông tham gia làm việc cho Trung tâm Khí tượng Đông Dương,
nghiên cứu làm bản đồ, và hải đồ cho ngành hàng hải Việt Nam. Ông c̣n giới
thiệu phương pháp trồng trọt cây cao su tại Việt Nam, đem lại những món lời
khổng lồ cho các công ti cao su Pháp như Michelin, nhưng cũng làm khổ không biết
bao nhiêu công nhân Việt Nam trong các đồn điền cao su như thế.
Năm
1940, Yersin quay lại Pháp lần cuối trong t́nh trạng sức khỏe đang trên đà suy
sụp. Nhưng chỉ lưu lại Pháp một năm ; năm 1941 ông quay về Nha Trang, mảnh đất
ông yêu quí. Ngày
1 tháng 3 năm 1943, Yersin đau bệnh và qua đời một cách cô đơn tại nhà riêng ở
Suối Giao (Nha Trang), thọ 79 tuổi. Trong di chúc để lại, ông muốn được chôn cất
tại Nha Trang để gần những người ông yêu mến. Cho đến nay, cứ đến ngày 1 tháng 3
hàng năm,
dân chúng trong vùng vẫn viếng mộ ông để tỏ ḷng mến mộ và
kính phục cho một tấm ḷng khoa học và nhân đạo.
Trong danh sách những người Pháp
có ảnh hưởng lớn đến lịch sử Việt Nam, có lẽ Yersin là một người mà công trạng
và di sản của ông chẳng những không ai chất vấn mà c̣n được mến mộ. Tại một số
thành phố lớn như Đà Lạt, Hà Nội, hay Thành phố Hồ Chí Minh đều có một con đường
mang tên ông. Di sản khoa học của ông vẫn c̣n tồn tại với những trường mang tên
ông, và nhất là Viện Pasteur. Yersin c̣n là hiệu trưởng đầu tiên của Trường Đại
học Y Hà Nội
[3]. Yersin là một nhà khoa học đă đem
cái tên Việt Nam và Nha Trang vào lịch sử vi sinh học trên thế giới.
Chú thích:
[1] Chi tiết
về việc làm của Yersin tại Hồng Kông được trích dẫn từ bài viết “Alexandre
Yersin and the plague bacillus” của Tom Solomon, đăng trên [Tập san] Journal of
Tropical Medicine and Hygiene năm 1995, số 98, trang 209-12.
[2] Chi tiết
về vụ Yersin dính dáng vào cuộc nổi loạn được trích trong bài luận văn
“Alexandre Yersin and his adventures in Vietnam” (Alexandre Yersin và cuộc mạo
hiểm ở Việt Nam) của Giáo sư William Burns, đăng trên Tập san y học của Welcome
Trust, Anh.
[3]
Yersin được Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer bổ nhiệm làm hiệu trưởng Trường
Đại học Y Đông Dương vào ngày 8 tháng 1 năm 1902. Đến ngày 1 tháng 3 năm 1902
trường mới đi vào hoạt động. Nhưng v́ bất đồng ư kiến trong việc điều hành
trường, ông chỉ giữ chức này trên 2 năm, ông từ chức vào ngày 9 tháng 7 năm 1904
để quay về làm việc tại Viện Pasteur ở Nha Trang.
Trích Diễn Đàn số tháng 9/2005
www.diendan.org
|
|