|
BIỂN KHỔ
Anthony Darlic
Không hiểu sao mà tiếng lịch sử thường làm liên tưởng đến
nước mắt, máu và đau thương chết chóc phân ly. Tuần lễ 7-15/8/2005 là một tuần
lễ nặng nề về hoài niệm lịch sử theo nghĩa ấy. Ngày 15/8/2005 là ngày kỷ niệm
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Cuộc chiến ngắn ngủi sáu năm này đă giết
55 triệu người, trong đó có 20 triệu người Nga.
Từ ba năm nay, thiên hạ điên đầu và thương cảm những nạn
nhân vô tội của những vụ nổ bom cảm tử ở New York, Bali, Baghdad, Kabul, Madrid,
London. Không biết những thương cảm này có nhớ ǵ đến thảm cảnh Hiroshima và
Nagazaki, hai thành phố đă được nếm cái vũ khí tối độc là bom hạch tâm mà con
người bày ra để dùng vào một chiến thuật tối độc đó là đánh đối thủ bằng cách
hành hạ những thường dân vô tội. Hiroshima với 340 ngàn dân th́ một nửa vừa chết
vừa bị thương. Trong số 210 ngàn dân Nagazaki th́ 150 ngàn vừa chết vừa bị
thương, số c̣n lại sống dở chết dở v́ phóng xạ. Toàn bộ dân Nagazaki hầu như bị
xóa sổ mặc dù Nagazaki không hề có tên trong danh sách các mục tiêu ăn bom. Thật
vậy, thành phố được chỉ định ăn bom là Kokura. Nhưng máy bay đến tọa độ Kokura
th́ sương mù che khuất mục tiêu nên phải ṿng về v́ sợ hết xăng. Trên đường về,
Nagazaki hiện ra dưới ánh sáng mặt trời. Hơ hớ mời gọi như cánh hoa đào trước
gió. Không lẽ đi không lại trở về không? Lại nữa đem quả bom 4 tấn rưỡi này trở
về hậu cứ cũng không được, không ném xuống Nhật th́ cũng phải ném xuống biển
thôi, cho nên Nagazaki hay Kokura th́ cũng Nhật cả. Thế là xong! Nhưng có thật
phải cần đến hai trái bom nguyên tử th́ mới buộc được Nhật đầu hàng? hay chỉ cần
một trái thôi cũng đủ? hoặc chẳng cần trái nào th́ Nhật cũng phải buông súng
thôi nhất là khi trước đó, 66 thành phố Nhật đă nếm mùi bom lửa trải thảm và
900.000 thường dân vô tội đă vong mạng?
Robert Lewis, phi công phụ của chiếc pháo đài bay B-29
ENOLA GAY chở bom đánh Hiroshima, khi nh́m thấy thành phố này ch́m trong biển
lửa đă thốt lên: Lạy Chúa tôi, chúng ta đang làm ǵ thế này? Câu than thở của
Lewis không hề được trả lời, bởi như tờ TIME số ngày 8/8/05 xác nhận giới lănh
đạo Mỹ không hề tra vấn ư tưởng ném bom [nguyên tử xuống Nhật].
Tây phương h́nh như chẳng học được ǵ qua bài học với cái
giá 10 triệu người chết và 20 triệu bị thương trong đại chiến thứ nhất kéo dài
bốn năm, nên chỉ hai mươi năm sau họ lại gây thêm một cuộc chiến nữa với 50
triệu thương vong và hai quả bom nguyên tử lần đầu tiên - và cầu mong là lần
cuối cùng - con người đem ra dùng với con người.
Rồi khi Nhật đầu hàng và chiến tranh thứ hai chính thức
kết thúc th́ nhân loại lại liều mạng kéo nhau vào cuộc thi đua vơ trang nguyên
tử để... ngăn chiến tranh và bảo vệ ḥa b́nh. Cuộc thi đua đó đă đẩy nhân loại
đến chỗ phải ăn chung ngủ chạ với gần 19.000 quả bom nguyên tử cất dấu rải rác
đâu đó mà phần Mỹ là 10.315, Nga 7.200, Trung Hoa 410, Pháp 350, Anh 200, Israel
100-170, India 75-110, Pakistan 50-110 và Bắc Cao 7-15. Nam Phi cũng từng chế
tạo được sáu quả bom, nhưng đă tự ư làm cho bom trở thành vô dụng. Số lượng bom
hạch tâm đó tạo nên chiến lược chết chùm – MAD, trâu chết ḅ cũng ngất ngư, và
quả thực phần nào cũng đă góp phần làm hạ hỏa những con gà điên ta đây. Đó là
thực chất của chiến tranh lạnh trong đó các đối thủ chính dùng kẻ khác để thay
ḿnh đánh nhau bằng vũ khí nóng. Cao điểm của cuộc chiến này là Cao Ly và Việt
Nam.
Trong thế chiến thứ hai, Nhật nhảy vô ṿng chiến đă đem
lại chết chóc đau thương tàn phá cho Á châu và Việt Nam. Nhưng Nhật cũng đă châm
ng̣i cho cách mạng tự chủ Việt Nam khi gạt bỏ chính quyền đô hộ Pháp ở Đông
Dương.
Một trong những bài học chính của chiến tranh Việt Nam
cũng như chiến tranh Cao Ly là làm cho thiên hạ phải suy nghĩ khi muốn phát động
một cuộc chiến. Dần dần người ta nhận ra rằng với vũ khí nguyên tử th́ chỉ có
chiến bại chứ không hề có chiến thắng. Cường độ chiến tranh do đó đă hạ xuống.
Viện International Peace Research Institute ở Stockholm, Thụy Điển cho biết là
năm 2003 toàn cầu chỉ có 19 cuộc chiến lớn so với số 33 cuộc chiến năm 1991.
Dùng một tiêu chuẩn định lượng khác, tổ chức Project Ploughshares ở Canada cũng
đi đến một kết luận tương tự là năm 2003 chỉ có 36 cuộc chiến so với 44 cuộc
chiến năm 1995. Số người chết trong các cuộc chiến này cũng đổi thay. Trong thập
niên 1990, số thương vong tiêu chuẩn là từ 40.000 đến 100.000 trong khi số tiêu
chuẩn của năm 2002 là 15.000 và khi chiến tranh Iraq bùng nổ th́ số đó tăng lên
20.000 năm 2003. Tóm lại, số lượng cũng như cường độ chiến tranh đă giảm từ sau
thế chiến thứ 2. Dĩ nhiên, những ước tính và nghiên cứu hậu Đệ Nhị Thế Chiến này
đă không nói đến chiến tranh chiến tranh Cao Ly, chiến tranh Việt Nam và cuộc
nội chiến ở Congo khởi phát năm 1998. Cuộc nội chiến Congo là một trong những
cuộc chiến đẩm máu nhất khiến cho 3.8 triệu người chết, không phải chỉ v́ súng
đạn mà c̣n v́ đói và bệnh cho nên gần một nửa số nạn nhân là trẻ em. Congo trở
thành hỏa ngục trần gian chỉ v́ người ngoài thèm muốn kim cương, vàng và các tài
nguyên khác của cái xứ sở 60 triệu dân và rộng hàng thứ ba trên lục địa Phi châu
này.
Nhưng điều đáng nói là trong khi chiến tranh giảm thiểu
th́ con người lại đă chết v́ những lư do khác nhiều khi lăng xẹt.
Thật vậy, phúc tŕnh của tổ chức Health Grades Foundation
chuyên trách các tin tức về các dịch vụ y tế cho biết là hàng năm có 195.009
bệnh nhân đă bỏ mạng v́ những sơ hở nghề nghiệp có thể dễ dàng tránh được. Nói
thế khác, mỗi năm bác sĩ Mỹ đă giết khoảng 200 ngàn người v́ bất cẩn. Số tổng
kết của Health Grades Foundation đă tăng gấp đôi kết quả điều tra của American
Medical Institute năm 1999 cho rằng mỗi năm có khoảng từ 44. 000 đến 98.000 bệnh
nhân chết v́ những sai lầm nhân tạo. Như vậy phải chăng học vị Bác sĩ và dịch vụ
bảo hiểm y tế đă cấp môn bài cho một số thầy thuốc giết người vô tội vạ một cách
hợp pháp?
Nhưng không phải chiến tranh, không phải nội chiến, không
phải đói kém bệnh tật đă giết người một cách kinh khủng. Cái giết người một cách
khủng khiếp nhất là chính là con ma Tự Tử! Đó là kết luận của thông tấn AFP ngày
15/9/2004 về một phúc tŕnh của Tổ Chức Y Tế Quốc Tế [WHO] của Liên Hiệp Quốc.
Trong hội nghị quốc tế thường niên lần thứ hai về ngăn
ngừa tự tử do WHO và hội Pḥng ngừa Tự tử Quốc tế (International Association for
Suicide Prevention, IASP) đồng tổ chức ở Genève hồi tháng 9/2004, WHO đă đưa ra
một phúc tŕnh cho thấy hàng năm có khoảng từ 10 đến 20 triệu người tính chuyện
kết liễu đời ḿnh hay trốn nợ đời và trong số đó có khoảng 1 triệu người ...
thành công! Con số này c̣n lớn hơn cả số nạn nhân chiến tranh và tội ác sát nhân
gộp lại. Tệ trạng này nếu không được ngăn ngừa th́ đến năm 2020 số người chết v́
chán sống hàng năm có thể leo lên 1 triệu rưỡi.
Ai muốn chết? Tại sao muốn chết? Chết bằng cách nào? Đó là
những câu hỏi đáng làm mọi người suy nghĩ, kể cả những người hết ham sống.
Điểm đầu tiên đáng ghi nhận là đàn bà ham tự tử hơn đàn
ông, nhưng đàn ông khi đă muốn chết th́ chắc chắn là... thành công hơn đàn bà.
Phải chăng v́ đàn bà yếu đuối, không bạo tay, không liều như đàn ông?
Dù ǵ đi nữa th́ cũng mừng cho các bà. Bởi, không có cái
ǵ vô duyên bằng tự tử. Dĩ nhiên phải phân biệt tự tử với quyết tử hay cảm tử,
bao hàm một quyết định hy sinh cho một mục tiêu được xem là cao hơn chính cuộc
đời của người tự hi sinh. Con người tự hào hơn thú vật ở chỗ làm thật hay làm
giả, chơi hay thiệt, đều có mục đích, đều biết kết quả hành động của ḿnh. Và
mục đích hay kết quả đó con người có thể tiên liệu được. Tự tử th́ chẳng có mục
đích ǵ, và cũng không tiêu liệu được kết quả là ǵ. Cho nên, tự tử th́ tội
nghiệp thật, đáng thương thật nhưng tội nghiệp mấy đi nữa th́ cũng phải nói đó
là một cái chết lảng xẹt. Tự tử là một cách quỵt nợ đời. Bắt phong trần phải
phong trần, trả kiếp này khỏi trả kiếp sau.
Thứ hai, tuổi tác. Thông thường người lớn tuổi tự tử nhiều
hơn choai choai, con nít. Thế nhưng, điều nghịch thường gần đây là lớp trẻ tuổi
từ 15 đến 25 lại ham tự tử hơn hạng lớn tuổi. Phải chăng v́ lớp trẻ thường nhạy
cảm với những nguyên nhân đưa đến tự tử như nghèo túng, thất nghiệp, thất t́nh,
bất măn hay bế tắc trong công việc? Ngoài những nguyên nhân chính vừa kể, huyết
thống, rượu chè, nghiện ngập, thời thơ ấu bị lạm dụng hay xúc phạm t́nh dục, cô
độc, u uất, điên khùng cũng là những nguyên nhân đưa đến tự tử.
Thứ ba, điều đáng ghi nhận là tỷ lệ tự tử cao nhất là
những nước Đông Âu, đặc biệt là Nga và Ukraine. Thấp nhất là các nước Nam Mỹ,
các quốc gia Hồi giáo và các nước Á châu. Các nước Phi châu th́ chưa có những
thống kê cụ thể khả tín.
Hiện tượng lớp trẻ tự tử trong khối Đông Âu là một điều
đáng cho người Việt ưu tư. Tuổi trẻ thường cao vọng, thích hưởng thụ, cho nên kỳ
vọng thành công cũng cao vời hơn ngựi thuộc các hạng tuổi khác. Kỳ vọng và cao
vọng đó một khi va chạm thực tế đắng cay gắt gắt th́ dĩ nhiên thất vọng sẽ tràn
trề, rất dễ quất sụm người trong cuộc. Hiện tượng tự tử của thanh niên Nhật là
một điêu đáng suy gẫm. Ngày 28/11/2004, thông tín viên của hăng AP ở Tokyo đă
loan một tin như sau: Bốn người ở Tokyo nghéo tay nhau để chết. Four
Die In Tokyo Suicide Pact. Bốn người này đă chết ngạt từ từ với những ḷ than
hồng trong một căn pḥng dán bít hết cửa ngơ bằng băng keo. Hiện tượng rủ nhau
cùng chết của thanh niên thiếu nữ Nhật đă đạt đến số báo động là 32.000 trong
năm 2004. Tuần trước đó, sáu người cũng chết bằng ḷ lửa trong xe hơi đóng kín.
Thanh niên thiếu nữ Nhật cũng lên Internet để rủ nhau chết chùm cho có bạn. Từ
tháng 1/2003 đến tháng 6/2004, đă có 45 người chết bằng cách đó. Tại sao những
thanh niên thiếu nữ Nhật chán sống? Tại sao một quốc gia từng sản xuất những phi
công thần phong, từng bị cái nhục đầu hàng sau niềm đau v́ hai quả bom nguyên tử
giờ đây lại cũng là quốc gia sản xuất ra những kẻ tràn nhựa sống rủ nhau trốn nợ
đời? Nhật là nước giàu nhất thế giới, không thua ǵ Mỹ dù dân số chỉ bằng nửa Mỹ,
sao Nhật không đủ cung phụng, không đủ quyến rũ đối với những người trẻ ham sống?
Đó không chỉ là những câu hỏi cho riêng người Nhật mà thôi...
Thứ tư, theo một phúc tŕnh tập thể của
MH Swahn, KM Lubell, và TR Simon
thuộc phân viện pḥng ngừa bạo động của National Center for Injury Prevention
and Control, th́ sát nhân và tự tử liên hệ chặt chẽ với bạo động. Ở Mỹ, sát nhân
và tự tử là nguyên nhân trọng yếu thứ nh́ và thứ ba gây ra chết chóc cho lứa
tuổi từ 13 đến 19. Năm 2001, các nhà nghiên cứu này đă khảo sát trên 11.815 học
sinh toàn quốc từ lớp 9 đến lớp 12 là trong năm qua có bao giờ họ định tự tử hay
có bao giờ dính líu đến chuyện ẩu đả không? Phân tích các câu trả lời của đám
học sinh này, các nhà nghiên cứu trên đă kết luận: số trả lời là trong năm qua
đă định tự tử và có dính vào các vụ ẩu đả đông gấp bốn lần số nhận là có ư định
tự tử nhưng không hề nhúng tay vào chuyện bạo hành. Thứ hai, số học sinh thú
nhận có ư định tự tử và có đánh nhau th́ đông gấp hai lần [61.5%] số bảo
là không hề nghĩ đến chuyện tự tử [30.3%].
Chiến tranh và ḥa b́nh, sướng và khổ, giàu và nghèo,
thù và bạn nhiều khi chỉ là hai mặt của một thực tại như hai phía của bàn tay.
Sống và chết cũng thế, biên giới rất rơ rệt nhưng cũng rất mù mờ như qua mắt của
những thanh niên Nhật khoái chết chùm, hay những thanh niên Đông Âu hằng mơ
tưởng một cuộc sống được vẽ vời qua Playboy, Penthouse... Thế kỷ qua, nhân loại
đă thoát khỏi những bức xúc của chiến tranh nóng ngót nửa thế kỷ, rồi chiến
tranh lạnh trong bốn mươi năm, có điều kiện để nghĩ đến một tương lai không sợ
phải chết chùm từ khi khối Đông Âu giải thể. Tại sao t́nh trạng đó không thể kéo
dài, tại sao xung đột ư thức hệ phải tiếp tục bằng chiến tranh tôn giáo? Người
Việt Nam đă thoát khỏi cơn biến động bom đạn, đă qua khỏi cơn bĩ cực đói kém, sẽ
đối phó thế nào với những buồn chán no đủ và những cơn khủng hoảng phồn vinh
hưởng thụ trong một hoàn cảnh quốc tế chớp ḷa v́ những quả bom biết đi?
|
|