|
KHÔNG
CHỈ V̀ CƠM ÁO HAY BÁNH M̀
Khủng hoảng Trung Đông và cơn sốt xăng dầu đang làm cho nhiều người suy nghĩ lại
mục tiêu ở đời với những khẩu quyết tư lợi, hạnh phúc, văn minh, tiến bộ. Rốt
ráo là câu hỏi ”để làm ǵ?” Kinh tế học như một khoa học đă tự hào ḿnh có câu
trả lời cho câu hỏi đó. Trong truyền thống xem quyền tư hữu là lư tưởng lẫn
trong truyền thống xem quyền tư hữu là nguyên nhân của phóng thể hay tha hóa sa
đọa. Lịch sử, chính trị, ư thức hệ thường chỉ chuyển dịch trên một trong hai
tuyến truyền thống đó, và thường dựa vào kinh tế học như kim chỉ nam. Nhưng có
thực Kinh Tế Học đă t́m thấy câu trả lời cho mục đích ở đời không?
Mời bạn đọc đến với bài viết dưới đây của Quán Như
Amartya
Sen, Nhân Chứng Từ Bên Trong
Quán
Như
Chúng ta đă lược qua những nhận định
và phê b́nh về nền tảng kinh tế từ những triết gia và các nhà đạo đức ví dụ như
của David Roy, một giáo sư triết lư. Các nhà kinh tế dĩ nhiên muốn bỏ ngoài tai
những lời chỉ trích của những ai không phải là ‘kinh tế gia’.
Sau đây, chúng ta thử xét qua lư luận
của một nhà kinh tế ‘đúng nghĩa’ được ấn chứng của các đồng nghiệp. Người đó
chính là Amartya Sen, người được giải Nobel về Kinh Tế năm 1998, hiện là Giáo Sư
kinh tế tại đại học Harvard. Sen là một nhân chứng từ bên trong. Sen sẽ nói về
những giả định nền tảng của kinh tế như động lực tư lợi và tính hợp lư và khoa
học của khoa kinh tế học. Đây đích thực là luận cứ của người ‘trong cuộc’, hay
nói theo ngạn ngữ Tây phương, từ ‘the horse’s mouth’.
Có mấy điểm đáng chú ư về Amartya Sen.
Ông gốc Ấn Độ, Giáo Sư về Kinh Tế và Triết Lư, chủ Tịch Hội Kinh Toán, chủ tịch
hội Kinh Tế Gia Ấn - Mỹ, cũng như hội kinh tế toàn cầu. Cũng như các nhân vật
nổi tiếng ở Ấn, ông là sản phẩm của nền giáo dục Anh (ĐH Cambridge). Sen chuyên
về kinh tế phát triển và kinh tế an sinh. Ấn Độ là quốc gia dân chủ lớn nhất
toàn cầu. Dù độc lập đă hơn nửa thế kỷ, phần lớn dân Ấn hiện nay vẫn chưa được
hưởng tiện nghi kinh tế tồi thiểu. Cho nên chẳng ai lấy làm lạ khi thấy Amartya
Sen viết nhiều về nguyên do bất b́nh đẳng như Về Bất B́nh Đẳng Kinh Tế
(On Economic Inequality) (1973, 1997), Nghèo Đói (Poverty and
Famines), Tài Nguyên, Giá Trị và Phát Triển (Resources, Values and
Development) (1984) Duyệt Xét Lại B́nh Đẳng (Equality Reexamined) (1992)
và hai tác phẩm ‘giải hoặc’ luận điệu của nhóm kinh tế Tân Cổ Điển - Neocons -
về động lực tư lợi và tính hợp lư của kinh tế học: Phát Triển như là Tự Do
(Developmemt as Freedom (1999) và Lư Tính và Tự Do (Rationality and
Freedom (2002). Phần lớn tài liệu và lập luận trong bài này dựa trên lập luận
của Amartya Sen trong Bàn Về Đạo Đức và Kinh Tế (On Ethics and Economics
(1987).
Đường Đi Không Hai
Cha đẻ của kinh tế tư bản, John Stuart
Mill, trong Principals of Political Economy, đă cảnh cáo là những
người nào muốn đi vào ngưỡng cửa kinh tế phải bỏ lại bên ngoài tất cả t́nh cảm
cá nhân, bao giờ cũng ghi nhớ động lực ‘nguyên chất, giản dị và cứng rắn’ của
các hoạt động kinh tế đă được tôn sùng từ thời Adams Smith: t́m mọi cách tăng
tối đa lợi tức cho ḿnh. Con người kinh tế là con người ‘có thực’, không phải là
triết nhân sống trên mây hay như hiền giả sống ở thời rạng đông của lịch sử,
thường được gọi là thời Trục, từ Đức Phật, Khổng Tử ở phương Đông, đến Socrate
hay Aristote ở phương Tây. Tuy nhiên các nhà kinh tế tân cổ điển chỉ muốn nhớ
những nguyên tắc nào của Adam Smith có thể biện minh lư thuyết tự do cạnh tranh
và bỏ quên những yếu tố đạo đức trong The Wealth of Nations, và cố t́nh
quên rằng Smith là Giáo Sư Triết Lư Đạo Đức tại đại học Glasgow và môn kinh tế
lúc đó được dạy ở Đại Học Cambridge như là môn ‘khoa học về đạo đức’!
Kinh tế càng ngày càng chiếm địa vị
quan trọng trong các đại học cũng như trong đời sống quốc gia, trở nên một khoa
học độc lập với triết lư trong gia đ́nh ‘khoa học xă hội’. Đến năm 1930, trong
tác phẩm An Essay on the Nature and Significance of Economic Science,
Lionel Robbins tuyên bố chính thức ‘đoạn tuyệt’ với triết lư, và nhất là với
nguyên tắc đạo đức.
Có hai nguồn ảnh hưởng quan trọng của
Kinh Tế và cả hai đều liên hệ mật thiết với chánh trị theo định nghĩa của
Aristote, dù theo hai hướng khác nhau. Khuynh hướng đầu xem Kinh Tế, cũng như
bất cứ một khoa nào khác, chỉ là một phương tiện phục vụ đời sống tập thể, cộng
đồng hay quốc gia. Trong thời khai nguyên của lịch sử, vài trăm năm trước và sau
Tây lịch, thời mà Đức Phật gọi là thời chánh pháp được truyền bá rộng răi,
Aristote đă viết trong tác phẩm Politics, xem chính trị là khoa chủ yếu
mà ông gọi là ‘the Master Art’ . Chính trị phải t́m cách tận dụng những ‘khoa
học” khác, trong đó có kinh tế. Cũng như các hiền triết thời Trục, Aristote nói
rất rơ về điểm này: “Tích tụ tài sản không phải là mục tiêu mà chúng ta t́m
kiếm; tài sản chỉ có ích khi được sử dụng vào mục đích khác”. Trong chương
trước, chúng tôi có nhắc đến câu hỏi tổng quát của Aristote, liên hệ không những
với kinh tế mà c̣n liên hệ đến đạo đức và tôn giáo: “Chúng ta nên sống đời ta
như thế nào?” Thái độ này, theo Amartya Sen, tương phản với động cơ hạn hẹp về
tư lợi mà kinh tế hiện đại luôn luôn nhấn mạnh.
Vấn đề đạo đức thứ hai liên hệ đến
quyền lợi cộng đồng. Dù được định nghĩa như thân nhân, láng diềng, đồng bào hay
nhân loại. Aristote phát biểu rơ ràng về điểm này trong Nicomachean Ethics:
“ làm lợi cho một cá nhân là một điều tốt, nhưng tốt hơn nữa là đóng góp cho
công ích của một tập thể hay quốc gia”. Vào thời các hiền nhân trong lúc rạng
đông của lịch sử Đông cũng như Tây, công ích tập thể bao giờ cũng được đem ra
làm tiêu chuẩn đo lường mọi hoạt động xă hội, trong đó có hoạt động kinh tế.
Nguồn thứ hai để ư đến hiệu năng của
các hoạt động kinh tế, đặt những mục tiêu như tăng hiệu năng công nhân, giảm chi
phí sản xuất, kiểm soát tiền tệ vân vân và t́m cách mô thức thực hiện các mục
tiêu đó. Đây là cơ sở tiếp liệu, kỹ thuật điều động các phương thức sản xuất, cổ
động tiêu thụ hay tăng trưởng. Các ‘chuyên viên’ kinh tế không để ư tới những
yếu tố phi kinh tế, như phung phí tài nguyên, tổn hại môi sinh, sự tan ră trong
mối liên hệ cá nhân, gia đ́nh hay xă hội. Thí dụ như chánh phủ hiện cầm quyền
tại Úc (2005) đề nghị thay đổi luật lao động để Úc có thể cạnh tranh hữu hiệu
với lao động của các nước khác. Trong tương lai, công nhân phải chấp nhận những
kỹ thuật để làm tăng hiệu năng, làm việc nhiều giờ hơn bằng cách đổi ngày nghỉ
hăng năm, giờ ăn trưa thành tiền. Hậu quả là công nhân về nhà chỉ có đủ th́ giờ
để ngủ, không có cả th́ giờ nh́n mặt hay gần gũi vợ con, không có một cuộc sống
gia đ́nh b́nh thường, chỉ v́ chánh phủ muốn nhân công có thể cạnh tranh trên thị
trường nhân dụng thế giới. Một thành quả mà lao động quốc tế phải tranh đấu hàng
thế kỷ mới đạt được, đó là số giờ lao động tối đa là 40 mỗi tuần, không cánh mà
bay, lẳng lặng biến mất. Số giờ làm việc trung b́nh của công nhân hiện nay ở Úc
là 50 giờ. Làm như thể con người sinh ra chỉ để làm việc kiếm tiền. Hiện có
phong trào, tuy c̣n trong giai đoạn phôi thai, bỏ các công việc căng thẳng và
làm việc nhiều giờ để t́m các công việc ít lương hơn nhưng ít ra cũng có đời
sống gia đ́nh b́nh thường. Phong trào nảy được gọi là ‘Downsizing’, do những
viên chức quản lư cao cấp khởi đầu, lư do giản dị v́ họ là những người có bằng
cấp cao, kinh nghiệm nhiều, nên có thể thay đổi công việc dễ dàng. Các công nhân
lao động trong các xưởng sản xuất không có cơ hội thay đổi công việc nên vẫn
tiếp tục ‘cày’ năm, sáu chục giờ mỗi tuần để cạnh tranh với lao động thế giới!
Vai tṛ của các chuyên viên kinh tế
càng ngày càng trở nên quan trọng v́ các mô thức kinh tế đă làm tăng hiệu năng
lao động, sản xuất, tiếp thị. Các nhà tâm lư được vận dụng vào kỹ nghệ quảng cáo
để quyến rũ tín đồ. Ngay cả trong siêu thị các nhà tâm lư nghiên cứu thói quen
của phụ nữ và trẻ em trong khi mua thức ăn. Kệ trên cao để hàng ǵ, kệ dưới để
hàng ǵ, kệ nào vừa tầm trẻ em thí phải để món hàng nào. Các nhà tâm lư này biết
rằng khi các em đ̣i mua bánh kẹo trong siêu thị, ít có cha mẹ nào nỡ ḷng từ
chối. Đó là chưa kể đạo quân ‘trừ bị’ không lồ trong kỹ nghệ quảng cáo. Thường
chúng ta hay nói các đài truyền h́nh không phải trả tiền. Ở một xă hội ca tụng
tư lợi, vinh danh ḷng tham lam, không làm ǵ có chuyện ‘ăn trưa không trả
tiền’. Người tiêu thụ chính là những người trả tiền điều hành và tiền lời hàng
năm cho các tổ hợp truyền h́nh.
Ngay từ thế kỷ 17 đă có những chuyên
viên kinh tế, như Sir William Petty, đă áp dụng toán học để tăng hiệu năng của
các hoạt động kinh tế. Nhưng đến thế kỷ 20,
khuynh hướng kỹ thuật lấn áp hoàn toàn. Trong số các giải Nobel về kinh tế từ
lúc bắt đầu (1969) đến năm 1996, số lượng các nhà kinh tế Mỹ (kể cả những người
nhập tịch Mỹ) là 24 trên 40, phần lớn là chuyên viên về kinh toán. Kinh toán
dùng phương pháp thống kể và phân tích toán học về các mối liên quan của các
hoạt động kinh tế. Các nhà kinh tế Âu Châu, gồm cả Anh, phần lớn xem kinh tế như
một phần của bối cảnh lịch sử thay v́ như một khoa học độc lập, như các chuyên
viên kinh toán mong muốn. Một kinh tế gia Anh, quê hương của Smith, Sir John
Hicks, và một số kinh tế gia Đức, có khuynh hướng nghiên về kinh tế hoạch định,
hơn là chánh sách tự do mậu dịch của các neocons Mỹ. Sự tương phản vẫn c̣n căng
thẳng cho đến nay, mắc dù hai bên đều đồng ư quá tŕnh toàn cầu hóa.
Một điều lư thú là Amartya Sen có nhắc
đến một quyển sách viết về ‘khoa học làm giàu’ do một Bộ Trưởng dưới thời Hoàng
đế Chandragupta thuộc triều đại Mauryan, Kautilya. Tác giả này không ai khác hơn
là cháu nội của Hoàng đế A Dục! Kautila thảo luận về đủ mọi vấn đề, từ xây dựng
làng xă đến việc thâu thuế, từ việc bảo quản kế toán đến ngăn ngừa tham nhũng,
từ chánh sách ngoại giao đến t́m cách gây ảnh hưởng các phe phái thù nghịch.
Kautila cũng đề nghị dùng những biện pháp cứng rắn, không t́nh cảm như trong
kinh tế hiện đại. Ngay cả các tác phẩm của Socrate hay Aristote cũng không đề
cập đầy đủ chi tiết về kinh tế cụ thể như tác phẩm của Kautila, người cùng thời
với Aristote. Kautilya đáng được gọi là chuyên viên kinh tế tiên phong.
Amartya Sen nh́n nhận rằng các chuyên
viên kinh tế đă thành công trong việc giúp tăng hiệu năng và đạt đến những mục
tiêu cần thiết như tăng năng xuất lao động, lợi tức, khai thác trị trường vân
vân…, nhất là thuyết ‘Quân b́nh tổng quát” (general equilibrium theory) trong
liên hệ sản xuất và thị trường, cho thấy hoạt động kinh tế bị chi phối bởi nhiều
động lực hỗ tương cùng một lúc. Nhờ hiểu rơ các động lực ảnh hưởng lên hoạt động
kinh tế, những biện pháp tương ứng được đề nghị. Sen đưa ra thí dụ về nạn đói
kém. Nạn đói kém trên thực tế không liên hệ với mức cung cầu, nghĩa là mức thiếu
hụt thực phẩm không gây ra đói kém, mà v́ những chính sách về giá cả trong các
quốc gia sản xuất dư thừa. Vào cuối thập niên 70, nông gia Úc đă sát hại hàng
ngàn gia súc rồi đem chôn chỉ để duy tŕ mối quân b́nh giả tạo giữa cung và cầu
và do đó để giữ giá, trong khi trên thế giới có hàng triệu người thiếu dinh
dưỡng hay chết đói. Theo quan điểm đạo đức, đây là hành động bất nhân. Những
các kinh tế gia không xét đến các yếu tố ‘phi kinh tế’ trong khi đưa ra quyết
định. Họ lư luận là nếu không giết gia súc rồi đem chôn để giảm mức cung th́
hàng loạt nông gia sẽ bị phá sản. Cứu các nông gia Úc khỏi bị phá sản, về
mặt kinh tế, quan trọng hơn là cứu hàng tiệu người bị thiếu ăn. Viết tới đây tôi
liên tưởng đến nạn đói năm Ất Dậu (1945) ở Việt Nam. Nhiều người cho là lúc đó
lúa gạo miền Nam dư thừa, và nạn đói là do hậu quả của chánh sách thực dân và
các chánh quyền hợp tác với ngoại quốc, hơn là v́ thiếu thực phẩm. Hy vọng có
nhà kinh tế lịch sử nghiên cứu lại giai đọan này, dựa trên dữ kiện và con số
đáng tin.
Tôi xin lấy một thí dụ nữa để cho thấy
động cơ hành động của người b́nh thường phức tạp hơn là động cơ đơn giản như
quyền lợi cá nhân: nạn tham nhũng. Tham nhũng xảy ra bất cứ một quốc gia nào,
dân chủ hay độc tài, tư bản hay cộng sản. Ngày xưa dưới thời Đệ nhị Cộng Hoà,
Thủ Tướng Trần Văn Hương xem việc t́m người tham chánh như ‘ra chợ mua cá’. Có
cá tươi, cá ương. Nhưng ông già gân tuyên bố một câu bất hủ: “Nếu loại hết người
tham nhũng ra ngoài chánh phủ, tôi lấy ai làm việc”. Ngày nay dưới chế độ xă hội
chủ nghĩa, lẽ ra phải trung thành với chủ trương của Marx bênh vực người nghèo
khó và áp bức, từ báo chí đến đài truyền h́nh đến Quốc Hội, ai cũng lo ngại nạn
tham nhũng đă trở nên căn bệnh trầm kha, hết ‘thuốc chữa’. Có nhiều người chống
chế độ đương thời, tuyên bố hiện nay nạn tham nhũng gấp ‘trăm’ lần con số ‘cá
ương’ trong chế độ cũ. Tôi không có con số tin cậy để kết luận, nhưng cũng như
mọi người, tin rằng tham nhũng có thể là mối đe dọa đến quá tŕnh phát triển
kinh tế và ‘đổi mới’ về chánh trị, nếu có. Tại sao các viên chức nhà nước tham
nhũng?
Nguyên nhân tham nhũng có thể do lương
công nhân viên không đủ sống, có thể v́ ḷng tham (hey! Greed is Good!),
có thể ‘thượng bất chánh, hạ tất loạn’, người trên ăn được th́ cấp dưới tội ǵ
không ăn. Có thể không có hệ thống tư pháp công minh, nên nhiều người ăn hối lộ
mà không thấy ai bị trừng trị cả. Có thể là thiếu hệ thống đạo đức và khi cả xă
hội bị khủng hoảng ư thức hệ, không ai tin vào hành vi đạo đức nữa. Ngay cả
những người tượng trưng cho đạo đức, như các tu sĩ tôn giáo cũng tham nhũng (tôi
chỉ giới hạn vào tu sĩ Phật Giáo khi theo dơi các bài pháp thoại của Thầy Nhất
Hạnh trong chuyến về Việt Nam và một số sa môn tại Úc). Có một giải pháp nào hữu
hiệu không? Tôi xin nhắc tới nguyên tắc căn bản của Phật Giáo Nhập Thế: chuyển
hoá cá nhân và chuyển hóa xă hội là hai yếu tố không thể tách rời được. Nhà làm
luật đặt ra đạo luật bài trừ tham nhũng, nhà tôn giáo tạo điều kiện cho tín đồ
chuyển hóa tâm linh. Định chế không làm người ta tốt, nhưng không có định chế
th́ không xong. Nguyên nhân tham nhũng không đơn giản như những người muốn tô
vẻ, bảo rằng hễ có “dân chủ’ lá hết tham nhũng! Cứ nh́n các nước ‘dân chủ’ (sic)
Á Châu như Thái Lan, Mă Lai, Indonesia, Singapore và ngay cà các nước dân chủ
Tây Phương, đâu cũng có nạn tham nhũng. Ở Tiểu Bang New South Wales Úc, chánh
phủ thành lập Ủy Ban ICAC bài trừ tham nhũng. Có tham nhũng nên chánh phủ mới
lập Ủy Ban Bài Trừ Tham Nhũng, nếu không lập ra chi cho tốn tiền. Khi thảo luận
đến quá tŕnh toàn cầu hóa, tôi sẽ trở lại vấn đề tham nhũng ở các nước dân chủ
Tây Phương. Động cơ duy nhất mà các nhà kinh tế hiện đại hay nhắc tới là bản
tính tham lam là một yếu tố quyết định một cá nhân hành động tham nhũng, nhưng
nguyên nhận của hành động này trùng trùng, không thể quy chiếu về một nguyên
nhân duy nhất, như độc tài hay dân chủ.
Thay v́ thu hẹp động cơ hành động vào
yếu tố đơn giản, nếu mô thức kinh tế hiện đại để ư đến những yếu tố đạo đức và
xă hội khác, theo Amartya Sen, những mô thức kinh tế này c̣n có thể thực hiện
hữu hiệu nhiều mục tiêu hơn nữa. Giải thích hành vi của con người bằng những mô
thức đơn giản ‘kích thích-phản ứng’ như trong behaviourism đă quá lỗi
thời. Behaviourism phủ nhận khả năng phán đoán và chọn lựa của homo
sapiens. Đối với Phật giáo, chọn lựa (hành) là bước khởi đầu của việc tạo
nghiệp - hay giải nghiệp. Để chọn lựa sáng suốt cần cả hai yếu tố từ bi và trí
tuệ. Để người khác chọn hay chọn lựa dùm ḿnh, là ‘định mệnh’, không phải là
nghiệp theo lời dạy của đức Phật . Có trời mà cũng có ta.
Cũng như Schumacher, Amartya Sen noi
đến những liên hệ kinh tế như một người giảng pháp thoại. Giả sử chúng ta chấp
nhận tư lợi thông thường là động cơ chính trong hoạt động kinh tế và ảnh
hưởng mạnh mẽ nhất đến chọn lựa, khi h́nh thành một mô thức, nhà kinh tế phải
xét đến những yếu tố khác cũng có ảnh hưởng việc h́nh thành quyết định. Nếu các
yếu tố này không được ‘factor in’ như các nhà kinh tế thường nói, mô thức
phân tích kinh tế sẽ không tránh được sai lầm. Phật giáo gọi đó là duyên khởi,
‘cái này có th́ cái kia có’ trong mạng lưới trùng trùng. Lư thuyết gần gũi nhất
với thuyết duyên khởi được Joanna Macy gọi là Systems theory. Mạng lưới trùng
trùng này mới giải thích đầy đủ chọn lựa hành động, thí dụ như hiện tượng tham
nhũng. Dù trong bất cứ chế độ nào, dân chủ hay độc tài, đông hay tây, đều có
tham nhũng, nhưng cũng có nhiều người quyết liệt từ chối tham nhũng. Cho
rằng tham nhũng chỉ bắt nguồn từ một chế độ chánh trị nào đó, là chưa hiểu ǵ về
lư duyên khởi của nhà Phật.
Hành Vi Kinh Tế và Chọn Lựa Hợp Lư
Giả định hành vi kinh tế là hành vi
‘hợp lư’ là một trong những giả định căn bản trong kinh tế hiện đại. Muốn hợp lư
th́ phải loại bỏ các yếu tố ‘phi-kinh tế’ như t́nh cảm đạo đức hay xă hội. Cái
ǵ tăng lợi lộc là kinh tế, cái ǵ không sinh lợi là phi-kinh tế.
Tuy nhiên cuộc đời vốn đa diện và phức
tạp, không phải lúc nào mọi người cũng hành động hợp lư, nghĩa là chọn lựa những
hành động cốt làm tăng tối đa quyền lợi của ḿnh. Chúng ta có lúc lầm lỗi, rồi
sửa đổi và hy vọng chọn lựa lần tới có thể khá hơn. Chọn lựa hợp lư là ư niệm
chỉ có trong sách giáo khoa hơn là trong đời sống hàng ngày. Chọn lựa không phải
lúc nào cũng chỉ bị chi phối bởi quyền lợi cá nhân. Tôi trở lại hiện tượng tham
nhũng. Thường thường thấy lợi th́ ai cũng ham, nhưng không phải ai cũng tham
nhũng. Có thể họ không có tham nhũng v́ sợ luật pháp, không ở trong địa vị có
thể ṿi vĩnh, không được phe đảng quyền thế che chở, nhưng cũng có những người
nhất quyết không tham nhũng v́ yêu nước, thấy đó là đại họa cho dân tộc về lâu
về dài, được giáo dục trong gia đ́nh có truyền thống trọng nghĩa khinh tài và
cha ông họ là những người luôn giữ ḷng trong sạch trong bất cứ hoàn cảnh nào,
‘bần tiện bất năng di’. Tôi c̣n nhớ ở miền Nam trong lúc chiến tranh leo thang
trong khi tướng tá tham nhũng có hệ thống, có hai bác sĩ quân y cầm lựu đạn ngồi
trước thềm Quốc Hội, đ̣i hỏi chánh phủ đương thời phải có biện pháp chống tham
nhũng, nếu không, theo họ nghĩ, miền Nam sẽ không thể nào chiến thắng. Có thể đó
là thái độ điên rồ của tuổi trẻ trong sạch, phi-kinh tế (họ có thể gia nhậm hàng
ngũ tham nhũng), những không ai không ngă mũ kính phục khí tiết của hai y sĩ
này. Thu hẹp động cơ hành động vào lư do duy nhất là tư lợi, không chịu ‘factor
in’ những động cơ khác, khiến kinh tế cũng như bất cứ khoa nào khác, nghèo nàn.
Con chó Pavlov có thể nhỏ nước miếng khi nghe tiếng chuông, nhưng con người biết
suy nghĩ và phản tỉnh, homo sapiens, có thể nghe ‘chày ḱnh’ tỉnh giấc. Có nhiều
thiền sư chỉ cần nghe tiếng sỏi dội trong bụi tre cũng có thể tỉnh giác nữa là
tiếng chuông.
Các nhà kinh tế hiện đại đă dùng tiêu
chuẩn nào để định tính hợp lư của hành động kinh tế? Có hai tiêu chuẩn được đề
ra để biện minh cho tính ‘hợp lư’. Thứ nhất là lúc nào cũng chọn lựa giống nhau,
trước sau như nhất và thứ hai, chọn lựa phải có tính ‘kinh tế’, nghĩa là luôn
luôn phải nghĩ tới quyền lợi riêng của ḿnh.
Tuy nhiên một người lầm lẫn nhiều lần
vẫn là một người lầm lẫn nhiều lần (ví dụ lần nào cũng từ chối hối lộ), chọn lựa
trước sau như nhất không thể là điều kiện cần và đủ của tính hợp lư! Yếu tố này
do đó phải kết hợp với yếu tố tư lợi mới thành định nghĩa tính hợp lư trong kinh
tế hiện đại. Đến đây chúng ta mới hiểu tại sao các nhà kinh tế hiện đại neocons
cứ nhất định kéo Adam Smith đứng sau lưng làm hậu thuẫn cho ḿnh.
Có thể yếu tố tư lợi chi phối phần
lớn các chọn lựa kinh tế và quả thực là một điều phi lư khi t́m cách phủ nhận
yếu tố này, tuy nhiên biện luận là những yếu tố khác ngoài yếu tố tư lợi đều phi
lư là một lư luận quái dị! Nếu định nghĩa hợp lư là hành động có thể làm tăng
tối đa mục tiêu mà một người muốn nhắm tới, và nếu một người muốn nhàn nhă và
hạnh phúc và không xem tích lũy tài sản là mục đích tối hậu của đời ḿnh, họ có
thể chọn những hành động phi-kinh tế (như không hối lộ hay bon chen) và chọn lựa
trước sau vẫn giống nhau (tiếp tục từ chối tham nhũng và bon chen), những chọn
lựa này được phải xem là hợp lư. Nói các khác, không thể nào tránh được câu hỏi
về ư nghĩa tối hậu của đời người khi chọn lựa, trong lĩnh vực ngoài kinh tế hay
trong kinh tế. Như ví dụ mà Gandhi nói về chính trị: nó như con rắn quấn quanh
ḿnh, có muốn tránh cũng không tránh được!
Có người thích giàu có, có người thích
danh vọng, có người xem ư nghĩa của đời ḿnh là phục vụ người khác, và để đạt
tới các mục đích đó, họ có thể không bao giờ chọn những hành động chỉ v́ quyền
lợi riêng của ḿnh. Trong khi chúng ta không thể phủ nhận có nhiều người
lúc nào cũng hành động ích kỷ cho quyền lợi riêng, có nhiều người khác
xem tiền bạc như mây nổi, có đó mất đó, càng giàu càng mất an lạc. Có người chỉ
muốn ở đời như nhà văn, nghệ sĩ, có người chỉ muốn làm việc cứu tế người đói ăn
ở các nước chậm phát triển, và có những người nhất quyết chọn con đường tâm
linh. Không thể gọi những chọn lựa của họ là không ‘hợp lư’. Nếu thế, chúng ta
không có văn hoá, nghệ thuật hay tâm linh nữa. Cứ tưởng tượng cả thế giới chỉ
c̣n là những người háu ăn như ngạ quỷ, cả đời chỉ lao tâm khổ trí để dành
dựt miếng ăn với người khác. Homo economicus chính ra là ngạ quỷ trong
cảnh giới tệ hại nhất trong lục đạo, địa ngục.
Nhà kinh tế học George Stigler trong
Economics or Ethics, cho rằng hiện chúng ta đang ở trong thời đại thông
tin và mọi người do đó đều có đủ dữ kiện và ‘thông minh’ để theo đuổi quyền lợi
riêng tư của chính ḿnh. Stigler tiên đoán là nếu thực hiện trắc nghiệm khách
quan giữa hai yếu tố tư lợi và đạo đức, chắc chắn là hành động tư lợi sẽ thắng
trong hầu hết các trường hợp. Stigler sau đó thú nhận là khó ḷng thực hiện được
thử nghiệm khách quan v́ có quá giá trị đạo đức khác nhau. Tuy nhiên nếu dùng
hai tiêu chuẩn đối nghịch ‘vị kỷ’ và ‘vị tha’ các thử nghiệm này cũng có thể
thực hiện được, thay v́ chỉ quyết đoán như Stigler. Chỉ hơn 10 năm sau, nhà tâm
lư học Daniel Kahdeman đă thi hành được các thử nghiệm này và khám phá là trên
thực tế, những chọn lựa thường dựa trên nhận thức cá nhân (t́nh cảm) hơn là trên
lư trí. Cũng nhờ đó Daniel Kahdeman đă chia giải Nobel về kinh tế với Vernon L
Smith. Thế nhưng các neocons vẫn tiếp tục tuyên bố tư lợi là động cơ duy nhất
trong hoạt động kinh tế dù các thử nghiệm đă cho thấy kết quả phức tạp hơn
nhiều.
Sự thành công của kinh tế thị trường
thực ra không chứng tỏ là do động cơ của chọn lựa các thành viên trong nền kinh
tế đó. Sự thành công của kinh tế Nhật chẳng hạn cho thấy kết quả ngược lại. Đạo
đức Nhật Bản, trong đó công nhân và ban quản lư đă chấp nhận ‘hy sinh’ quyền lợi
cá nhân và chỉ phục vụ quyền lợi của công ty. Nhà kinh tế Nhật, Michio Morishima
nh́n nhận ‘đạo đức Nhật Bản’ là một phản đề của động cơ tư lợi. Có vài nhà kinh
tế khác khi t́m cách so sánh sự phát triển kinh tế của các con rồng Á Châu, nghĩ
rằng đạo đức Khổng giáo có thể đóng một vai tṛ tương tự như ‘đạo đức Tin Lành’
trong sự thành công kinh tế. Dĩ nhiên lănh tụ Á Châu, như Lư Quang Diệu và các
nhà lănh đạo Trung Quốc đă dùng ‘đạo đức Á Châu’ để biện chính cho hành động
giới hạn các quyền cá nhân.
Không chấp nhận tư lợi là động cơ duy
nhất trong hoạt động kinh tế không có nghĩa là xác nhận phủ nhận phần lớn con
người hành động theo tư lợi, nhưng Amartya Sen chỉ muốn lưu ư là con người hành
động thúc đẩy bởi nhiều động lực phức tạp khác nhau và những động lực này cần
được ‘factor in’ thay v́ loại bỏ ra ngoài.
Trong các cộng đồng xă hội như gia
đ́nh, làng xóm và rộng hơn, dân tộc, con người hy sinh quyền lợi cá nhân của
ḿnh cho tập thể, hay t́m cách dung ḥa quyền lợi cả hai bên. Đạo đức Khổng Mạnh
luôn nhấn mạnh đến quyền lợi của tập thể. Xuất tức là ‘nhập’ thế, chú
trọng cương thường, an bang tế thế, cho đám đông. Khi ‘xử’ tức là trở lại con
người riêng tư, giống như căn bản của đạo Phật nhập thế, chuyển hoá tâm linh -
chuyển hóa xă hội. Các thí dụ về thái độ thung dung tựu nghĩa của nhà Nho đầy
dẫy trong lịch sử cận đại của chúng ta.
Hai vấn nạn căn bản của giả định ‘con
người tham lam’ của kinh tế chú trọng đến hai vấn đề chính: một, trên thực tế,
có phải lúc nào con người cũng thực sự hành động v́ động cơ ích kỷ hay không và
hai, hành động ích kỷ có đưa đến những hiệu năng kinh tế mong muốn không? Những
ǵ xảy ra trên thực tế cho thấy nền tảng này cũng chỉ là những giả định nhắm
biện minh cho chánh sách laissez faire của kinh tế tư bản, kinh tế toàn
cầu và thường gán cho tư tưởng của cha đẻ của kinh tế, Adam Smith. Nhưng thực sự
đây có phải là tư tưởng của Smith không?
Nỗi Hàm Oan của Adam Smith
Phần lớn đồ đệ của Smith đều gán động
cơ tư lợi vào miệng thầy ḿnh, nhưng chủ trương của Smith thực sự là ǵ ?
Trong một bài diễn văn giải thích tư
tưởng của Smith, Smith’s Travel on the Ship of State, Stigler xác định
“tư lợi không phải lúc nào cũng thúc đẩy hành động, nhưng nó chi phối
hành động của đa số người trong mọi giai cấp”. Trong The Theory of
Moral Sentiments, Smith dùng chữ Prudence, không dùng chữ ‘self
interest’ và không thể đồng hóa hai từ ngữ này được. Định nghĩa Prudence
của Smith có hai phần: một, dựa trên lư luận và hiểu biết, và hai, dựa vào quan
niệm self command phát nguyên từ phái Khắc kỷ (Stoics) và không chỉ có
nghĩa ‘tư lợi’ và cũng không đồng nghĩa với ư niệm ‘self-love’ mà Smith
hay dùng. Ảnh hưởng của phái Khắc kỷ khá đậm đà trong tư tưởng Smith, khi ông
định nghĩa hành vi tốt: cảm t́nh với người khác sym-pathy và tự chế.
Smith nói rơ trong The Theory of Moral
Sentiments (trang 140):
Theo quan niệm của phái Khắc kỷ, con người
không nên xem ḿnh là một cá nhân biệt lập với người khác, nhưng như là một công
dân của thế giới, một thành viên trong thiên nhiên bao la. Con người phải sẵn
sàng hy sinh quyền lợi nhỏ nhoi riêng của ḿnh
Tôi dùng khổ chữ bold italics cho
câu nói của Smith nói ‘từ miệng con ngựa’ cha đẻ của kinh tế hiện đại! Mặc dù
khuyến khích prudence và sympathy, khuyến khích sự cân bằng giữa quyền lợi cá
nhân và những đặc tính có ích cho ‘nhân loại, công lư, độ lượng và tinh thần
công cộng’ ( Moral Sentiments trang 189), tại sao các ‘đồ đệ’ của Smith lại
gán cho thầy chủ trương ‘tự lợi’ để tăng hiệu năng kinh tế?
Một trong những đoạn văn của Smith được trích
dẫn nhiều nhất là đọan nhận xét về vai tṛ khác nhau trong xă hội, trong đó
Smith nhận xét là ‘không phải v́ ḷng tốt của ngưới bán thịt, người
cất rượu hay người thợ bánh ḿ mà chúng ta có bữa ăn tối, ai cũng tự
thương ḿnh, không phải v́ người khác, họ không có ư muốn cung cấp nhu cầu cần
thiết cho chúng ta, mà được lợi lạc khi làm các nghề đó” (trang 26-7). Nhưng
đọc kỹ tinh thần đoạn đó, Smith chỉ muốn giải thích những hoán chuyển kinh tế
xảy ra như thế nào và lợi ích của việc phân chia lao động trong xă hội, và là
chủ đề của chương đó. Dĩ nhiên là ai cũng lo cho ḿnh self love, nhưng
Smith nhận xét thêm là tôn trọng lợi ích chung giữa các nghề khác nhau thay v́
chỉ lo ḿnh, có thể đóng góp phần ḿnh cho một xă hội tốt. Các đệ tử của Smith
trích dẫn có chọn lựa, đầy thiên kiến và ngoài toàn đoạn văn.
Trong khi bàn về phái hưởng thụ Epicure, Smith
chỉ trích thái độ giảm lược nguyên nhân của các hiện tượng bằng một yếu tố duy
nhất. Éo le thay, các đồ đệ gán cho ông những ǵ mà ông chỉ trích người khác. Đó
là thái độ giảm lược động lực kinh tế vào một nguyên nhân duy nhất: làm lợi tối
đa cho cá nhân.
Smith chỉ biện hộ cho quyền lợi cá nhân trong
trường hợp đặc biệt, như vai tṛ của thương gia trong các nạn đói. Dù thương gia
hay đầu cơ tích trữ khi hàng hóa khan hiếm và bán hàng với giá thất cao, không
thể đổ lỗi cho họ gây ra nạn đói, mà nguyên nhân chính là nạn khan hiếm thực
phẩm. Smith không đồng ư việc cấm hay giới hạn buôn bán, nhưng không có chỗ nào
trong tác phẩm The Moral Sentiments cho thấy Smith phản đối việc t́m biện
pháp giúp đỡ người nghèo.
Các đệ tử của Smith hoặc chú giải lầm lẫn hoặc
cố t́nh quên lăng những yếu tố đạo đức khác trong việc giải thích động lực kinh
tế, chỉ v́ muốn cổ vỏ cho chánh sách laissez faire của ông. Ngoài yếu tố
tư lợi, Smith c̣n chủ trương làm giảm nghèo khổ, nhắc tới sự cần thiết của ḷng
thương cảm … không được các đệ tử của Smith nhắc tới. Smith là giáo sư về Triết
Lư Đạo Đức, không phải là người vô cảm với đói kém hay nghèo khổ. Theo Amartya
Sen, đây là một điều thiếu sót lớn trong kinh tế hiện đại.
Tuy nhiên việc cổ vỏ cho tư lợi trong kinh tế
hiện đại ngày càng trở thành nghệ thuật sử dụng khẩu hiệu trong quảng cáo. Giống
như các neocons hiện lập đi lập lại các khẩu hiệu như ‘ democracy, freedom and
civilized world’ trong khi phát động chiến tranh Iraq! Nhận thấy được mối hàm
oan này, nhiều nhà kinh tế đă t́m cách giải oan cho Smith:
Adam, Adam, Adam Smith
Listen what I charge you with!
Didn’t you say
In the class one day
That selfishness was bound to pay?
Nếu đội mồ sống lại, Smith có lẽ sẽ trả lời:
‘Not quite!”
Quán Như
Sách đọc trước khi viết:
Inoue, Shinichi. Putting Buddhism to Work.
Kodansha International Ltd,
Tokyo, 1997, Japan.
Macy, Joanna. Mutual Causality in Buddhism
and General Systems Theory. State University of New York Press 1991, NY, USA
Sen, Amartya. On Ethics and Economics.
Blackwell Publishing, 2003, Oxford, UK.
Sen, Amartya. Development as Freedom.
Anchor Book. 1999, New York.
Muốn tham khảo thêm xin đọc:
Sen, Amartya. Rationality and Freedom.
Harvard University Press, 2002, USA.
Sen, Amartya. On Economic Inequality.
Clarendon Paperbacks, Oxford University Press. 1997, UK.
Sen, Amartya. Inequality Reexamined.
Harvard University Press, New York, 2000.
|
|