WWW CHUYỂN LUÂN

 

Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm Mậu Tư-2008 Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

Trang chủ || Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
 

Góp nhặt cát đá

 

Tác giả

  Video clips
  Online số cũ từ 2003
  Các số báo trước 2003
   

 

Nối Kết:

      

   
  Tác phẩm chọn lọc
  Thầy Nhất Hạnh
   

CHUYỂN LUÂN SỐ THÁNG 08/2005

KHÔNG CHỈ V̀ CƠM ÁO HAY BÁNH M̀

Khủng hoảng Trung Đông và cơn sốt xăng dầu đang làm cho nhiều người suy nghĩ lại mục tiêu ở đời với những khẩu quyết tư lợi, hạnh phúc, văn minh, tiến bộ. Rốt ráo là câu hỏi ”để làm ǵ?” Kinh tế học như một khoa học đă tự hào ḿnh có câu trả lời cho câu hỏi đó. Trong truyền thống xem quyền tư hữu là lư tưởng lẫn trong truyền thống xem quyền tư hữu là nguyên nhân của phóng thể hay tha hóa sa đọa. Lịch sử, chính trị, ư thức hệ thường chỉ chuyển dịch trên một trong hai tuyến truyền thống đó, và thường dựa vào kinh tế học như kim chỉ nam. Nhưng có thực Kinh Tế Học đă t́m thấy câu trả lời cho mục đích ở đời không? Mời bạn đọc đến với bài viết dưới đây của Quán Như 

 

Amartya Sen, Nhân Chứng Từ Bên Trong

Quán Như

 

Chúng ta đă lược qua những nhận định và phê b́nh về nền tảng kinh tế từ những triết gia và các nhà đạo đức ví dụ như của David Roy, một giáo sư  triết lư. Các nhà kinh tế dĩ nhiên muốn bỏ ngoài tai những lời chỉ trích của những ai không phải là ‘kinh tế gia’.  

Sau đây, chúng ta thử xét qua lư luận của một nhà kinh tế ‘đúng nghĩa’ được ấn chứng của các đồng nghiệp. Người đó chính là Amartya Sen, người được giải Nobel về Kinh Tế năm 1998, hiện là Giáo Sư kinh tế tại đại học Harvard. Sen là một nhân chứng từ bên trong. Sen sẽ nói về những giả định nền tảng của kinh tế như động lực tư lợi và tính hợp lư và khoa học của khoa kinh tế học. Đây đích thực là luận cứ của người ‘trong cuộc’, hay nói theo ngạn ngữ Tây phương, từ ‘the horse’s mouth’.  

Có mấy điểm đáng chú ư về Amartya Sen. Ông gốc Ấn Độ, Giáo Sư về Kinh Tế và Triết Lư, chủ Tịch Hội Kinh Toán, chủ tịch hội Kinh Tế Gia Ấn - Mỹ, cũng như hội kinh tế toàn cầu. Cũng như các nhân vật nổi tiếng ở Ấn, ông là sản phẩm của nền giáo dục Anh (ĐH Cambridge). Sen chuyên về kinh tế phát triển và kinh tế an sinh. Ấn Độ là quốc gia dân chủ lớn nhất toàn cầu. Dù độc lập đă hơn nửa thế kỷ, phần lớn dân Ấn hiện nay vẫn chưa được hưởng tiện nghi kinh tế tồi thiểu. Cho nên chẳng ai lấy làm lạ khi thấy Amartya Sen viết nhiều về nguyên do bất b́nh đẳng như Về Bất B́nh Đẳng Kinh Tế (On Economic Inequality) (1973, 1997), Nghèo Đói (Poverty and Famines), Tài Nguyên, Giá Trị và Phát Triển (Resources, Values and Development) (1984) Duyệt Xét Lại B́nh Đẳng (Equality Reexamined) (1992) và hai tác phẩm ‘giải hoặc’ luận điệu của nhóm kinh tế Tân Cổ Điển - Neocons - về động lực tư lợi và tính hợp lư của kinh tế học: Phát Triển như là Tự Do (Developmemt as Freedom (1999) và Lư Tính và Tự Do (Rationality and Freedom (2002). Phần lớn tài liệu và lập luận trong bài này dựa trên lập luận của Amartya Sen trong Bàn Về Đạo Đức và Kinh Tế (On Ethics and Economics (1987). 

 

Đường Đi Không Hai

Cha đẻ của kinh tế tư bản, John Stuart Mill, trong Principals of Political Economy, đă cảnh cáo là những người nào muốn đi vào ngưỡng cửa kinh tế phải bỏ lại bên ngoài tất cả t́nh cảm cá nhân, bao giờ cũng ghi nhớ động lực ‘nguyên chất, giản dị và cứng rắn’ của các hoạt động kinh tế đă được tôn sùng từ thời Adams Smith: t́m mọi cách tăng tối đa lợi tức cho ḿnh. Con người kinh tế là con người ‘có thực’, không phải là triết nhân sống trên mây hay như hiền giả sống ở thời rạng đông của lịch sử, thường được gọi là thời Trục, từ Đức Phật, Khổng Tử ở phương Đông, đến Socrate hay Aristote ở phương Tây. Tuy nhiên các nhà kinh tế tân cổ điển chỉ muốn nhớ những nguyên tắc nào của Adam Smith có thể biện minh lư thuyết tự do cạnh tranh và bỏ quên những yếu tố đạo đức  trong The Wealth of Nations, và cố t́nh quên rằng Smith là Giáo Sư Triết Lư Đạo Đức tại đại học Glasgow và môn kinh tế lúc đó được dạy ở Đại Học Cambridge như là môn ‘khoa học về đạo đức’!  

Kinh tế càng ngày càng chiếm địa vị quan trọng trong các đại học cũng như trong đời sống quốc gia, trở nên một khoa học độc lập với triết lư trong gia đ́nh ‘khoa học xă hội’. Đến năm 1930, trong tác phẩm An Essay on the Nature and Significance of Economic Science, Lionel Robbins tuyên bố chính thức ‘đoạn tuyệt’ với triết lư, và nhất là với nguyên tắc đạo đức.  

Có hai nguồn ảnh hưởng quan trọng của Kinh Tế và cả hai đều liên hệ mật thiết với chánh trị theo định nghĩa của Aristote, dù theo hai hướng khác nhau. Khuynh hướng đầu xem Kinh Tế, cũng như bất cứ một khoa nào khác, chỉ là một phương tiện phục vụ đời sống tập thể, cộng đồng hay quốc gia. Trong thời khai nguyên của lịch sử, vài trăm năm trước và sau Tây lịch, thời mà Đức Phật gọi là thời chánh pháp được truyền bá rộng răi, Aristote đă viết trong tác phẩm Politics, xem chính trị là khoa chủ yếu mà ông gọi là ‘the Master Art’ . Chính trị phải t́m cách tận dụng những ‘khoa học” khác, trong đó có kinh tế. Cũng như các hiền triết thời Trục, Aristote nói rất rơ về điểm này: “Tích tụ tài sản không phải là mục tiêu mà chúng ta t́m kiếm; tài sản chỉ có ích khi được sử dụng vào mục đích khác”. Trong chương trước, chúng tôi có nhắc đến câu hỏi tổng quát của Aristote, liên hệ không những với kinh tế mà c̣n liên hệ đến đạo đức và tôn giáo: “Chúng ta nên sống đời ta như thế nào?” Thái độ này, theo Amartya Sen, tương phản với động cơ hạn hẹp về tư lợi mà kinh tế hiện đại luôn luôn nhấn mạnh. 

Vấn đề đạo đức thứ hai liên hệ đến quyền lợi cộng đồng. Dù được định nghĩa như thân nhân, láng diềng, đồng bào hay nhân loại. Aristote phát biểu rơ ràng về điểm này trong Nicomachean Ethics: “ làm lợi cho một cá nhân là một điều tốt, nhưng tốt hơn nữa là đóng góp cho công ích của một tập thể hay quốc gia”. Vào thời các hiền nhân trong lúc rạng đông của lịch sử Đông cũng như Tây, công ích tập thể bao giờ cũng được đem ra làm tiêu chuẩn đo lường mọi hoạt động xă hội, trong đó có hoạt động kinh tế.  

Nguồn thứ hai để ư đến hiệu năng của các hoạt động kinh tế, đặt những mục tiêu như tăng hiệu năng công nhân, giảm chi phí sản xuất, kiểm soát tiền tệ vân vân và t́m cách mô thức thực hiện các mục tiêu đó. Đây là cơ sở tiếp liệu, kỹ thuật điều động các phương thức sản xuất, cổ động tiêu thụ hay tăng trưởng. Các ‘chuyên viên’ kinh tế không để ư tới những yếu tố phi kinh tế, như phung phí tài nguyên, tổn hại môi sinh, sự tan ră trong mối liên hệ cá nhân, gia đ́nh hay xă hội. Thí dụ như chánh phủ hiện cầm quyền tại Úc (2005) đề nghị thay đổi luật lao động để Úc có thể cạnh tranh hữu hiệu với lao động của các nước khác. Trong tương lai, công nhân phải chấp nhận những kỹ thuật để làm tăng hiệu năng, làm việc nhiều giờ hơn bằng cách đổi ngày nghỉ hăng năm, giờ ăn trưa thành tiền. Hậu quả là công nhân về nhà chỉ có đủ th́ giờ để ngủ, không có cả th́ giờ nh́n mặt hay gần gũi vợ con, không có một cuộc sống gia đ́nh b́nh thường, chỉ v́ chánh phủ muốn nhân công có thể cạnh tranh trên thị trường nhân dụng thế giới. Một thành quả mà lao động quốc tế phải tranh đấu hàng thế kỷ mới đạt được, đó là số giờ lao động tối đa là 40 mỗi tuần, không cánh mà bay, lẳng lặng biến mất. Số giờ làm việc trung b́nh của công nhân hiện nay ở Úc là 50 giờ. Làm như thể con người sinh ra chỉ để làm việc kiếm tiền. Hiện có phong trào, tuy c̣n trong giai đoạn phôi thai, bỏ các công việc căng thẳng và làm việc nhiều giờ để t́m các công việc ít lương hơn nhưng ít ra cũng có đời sống gia đ́nh b́nh thường. Phong trào nảy được gọi là ‘Downsizing’, do những viên chức quản lư cao cấp khởi đầu, lư do giản dị v́ họ là những người có bằng cấp cao, kinh nghiệm nhiều, nên có thể thay đổi công việc dễ dàng. Các công nhân lao động trong các xưởng sản xuất không có cơ hội thay đổi công việc nên vẫn tiếp tục ‘cày’ năm, sáu chục giờ mỗi tuần để cạnh tranh với lao động thế giới!  

Vai tṛ của các chuyên viên kinh tế càng ngày càng trở nên quan trọng v́ các mô thức kinh tế đă làm tăng hiệu năng lao động, sản xuất, tiếp thị. Các nhà tâm lư được vận dụng vào kỹ nghệ quảng cáo để quyến rũ tín đồ. Ngay cả trong siêu thị các nhà tâm lư nghiên cứu thói quen của phụ nữ và trẻ em trong khi mua thức ăn. Kệ trên cao để hàng ǵ, kệ dưới để hàng ǵ, kệ nào vừa tầm trẻ em thí phải để món hàng nào. Các nhà tâm lư này biết rằng khi các em đ̣i mua bánh kẹo trong siêu thị, ít có cha mẹ nào nỡ ḷng từ chối. Đó là chưa kể đạo quân ‘trừ bị’ không lồ trong kỹ nghệ quảng cáo. Thường chúng ta hay nói các đài truyền h́nh không phải trả tiền. Ở một xă hội ca tụng tư lợi, vinh danh ḷng tham lam, không làm ǵ có chuyện ‘ăn trưa không trả tiền’. Người tiêu thụ chính là những người trả tiền điều hành và tiền lời hàng năm cho các tổ hợp truyền h́nh. 

Ngay từ thế kỷ 17 đă có những chuyên viên  kinh tế, như Sir William Petty, đă áp dụng toán học để tăng hiệu năng của các hoạt động kinh tế. Nhưng đến thế kỷ 20, khuynh hướng kỹ thuật lấn áp hoàn toàn. Trong số các giải Nobel về kinh tế từ lúc bắt đầu (1969) đến năm 1996, số lượng các nhà kinh tế Mỹ (kể cả những người nhập tịch Mỹ) là 24 trên 40, phần lớn là chuyên viên về kinh toán. Kinh toán dùng phương pháp thống kể và phân tích toán học về các mối liên quan của các hoạt động kinh tế. Các nhà kinh tế Âu Châu, gồm cả Anh, phần lớn xem kinh tế như một phần của bối cảnh lịch sử thay v́ như một khoa học độc lập, như các chuyên viên kinh toán mong muốn. Một kinh tế gia Anh, quê hương của Smith, Sir John Hicks, và một số kinh tế gia Đức, có khuynh hướng nghiên về kinh tế hoạch định, hơn là chánh sách tự do mậu dịch của các neocons Mỹ. Sự tương phản vẫn c̣n căng thẳng cho đến nay, mắc dù hai bên đều đồng ư quá tŕnh toàn cầu hóa. 

Một điều lư thú là Amartya Sen có nhắc đến một quyển sách viết về ‘khoa học làm giàu’ do một Bộ Trưởng dưới thời Hoàng đế Chandragupta thuộc triều đại Mauryan, Kautilya. Tác giả này không ai khác hơn là cháu nội của Hoàng đế A Dục! Kautila thảo luận về đủ mọi vấn đề, từ xây dựng làng xă đến việc thâu thuế, từ việc bảo quản kế toán đến ngăn ngừa tham nhũng, từ chánh sách ngoại giao đến t́m cách gây ảnh hưởng các phe phái thù nghịch. Kautila cũng đề nghị dùng những biện pháp cứng rắn, không t́nh cảm như trong kinh tế hiện đại. Ngay cả các tác phẩm của Socrate hay Aristote cũng không đề cập đầy đủ chi tiết về kinh tế cụ thể như tác phẩm của Kautila, người cùng thời với Aristote. Kautilya đáng được gọi là chuyên viên kinh tế tiên phong.   

Amartya Sen nh́n nhận rằng các chuyên viên kinh tế đă thành công trong việc giúp tăng hiệu năng và đạt đến những mục tiêu cần thiết như tăng năng xuất lao động, lợi tức, khai thác trị trường vân vân…, nhất là thuyết ‘Quân b́nh tổng quát” (general equilibrium theory) trong liên hệ sản xuất và thị trường, cho thấy hoạt động kinh tế bị chi phối bởi nhiều động lực hỗ tương cùng một lúc. Nhờ hiểu rơ các động lực ảnh hưởng lên hoạt động kinh tế, những biện pháp tương ứng được đề nghị. Sen đưa ra thí dụ về nạn đói kém. Nạn đói kém trên thực tế không liên hệ với mức cung cầu, nghĩa là mức thiếu hụt thực phẩm không gây ra đói kém, mà v́ những chính sách về giá cả trong các quốc gia sản xuất dư thừa. Vào cuối thập niên 70, nông gia Úc đă sát hại hàng ngàn gia súc rồi đem chôn chỉ để duy tŕ mối quân b́nh giả tạo giữa cung và cầu và do đó để giữ giá, trong khi trên thế giới có hàng triệu người thiếu dinh dưỡng hay chết đói. Theo quan điểm đạo đức, đây là hành động bất nhân.  Những các kinh tế gia không xét đến các yếu tố ‘phi kinh tế’ trong khi đưa ra quyết định. Họ lư luận là nếu không giết gia súc rồi đem chôn để giảm mức cung th́ hàng loạt nông gia sẽ bị phá sản. Cứu các nông gia Úc khỏi bị phá sản, về mặt kinh tế, quan trọng hơn là cứu hàng tiệu người bị thiếu ăn. Viết tới đây tôi liên tưởng đến nạn đói năm Ất Dậu (1945) ở Việt Nam. Nhiều người cho là lúc đó lúa gạo miền Nam dư thừa, và nạn đói là do hậu quả của chánh sách thực dân và các chánh quyền hợp tác với ngoại quốc, hơn là v́ thiếu thực phẩm. Hy vọng có nhà kinh tế lịch sử nghiên cứu lại giai đọan này, dựa trên dữ kiện và con số đáng tin. 

Tôi xin lấy một thí dụ nữa để cho thấy động cơ hành động của người b́nh thường phức tạp hơn là động cơ đơn giản như quyền lợi cá nhân: nạn tham nhũng. Tham nhũng xảy ra bất cứ một quốc gia nào, dân chủ hay độc tài, tư bản hay cộng sản. Ngày xưa dưới thời Đệ nhị Cộng Hoà, Thủ Tướng Trần Văn Hương xem việc t́m người tham chánh như ‘ra chợ mua cá’. Có cá tươi, cá ương. Nhưng ông già gân tuyên bố một câu bất hủ: “Nếu loại hết người tham nhũng ra ngoài chánh phủ, tôi lấy ai làm việc”. Ngày nay dưới chế độ xă hội chủ nghĩa, lẽ ra phải trung thành với chủ trương của Marx bênh vực người nghèo khó và áp bức, từ báo chí đến đài truyền h́nh đến Quốc Hội, ai cũng lo ngại nạn tham nhũng đă trở nên căn bệnh trầm kha, hết ‘thuốc chữa’. Có nhiều người chống chế độ đương thời, tuyên bố hiện nay nạn tham nhũng gấp ‘trăm’ lần con số ‘cá ương’ trong chế độ cũ. Tôi không có con số tin cậy để kết luận, nhưng cũng như mọi người, tin rằng tham nhũng có thể là mối đe dọa đến quá tŕnh phát triển kinh tế và ‘đổi mới’ về chánh trị, nếu có. Tại sao các viên chức nhà nước tham nhũng? 

Nguyên nhân tham nhũng có thể do lương công nhân viên không đủ sống, có thể v́ ḷng tham (hey! Greed is Good!), có thể ‘thượng bất chánh, hạ tất loạn’, người trên ăn được th́ cấp dưới tội ǵ không ăn. Có thể không có hệ thống tư pháp công minh, nên nhiều người ăn hối lộ mà không thấy ai bị trừng trị cả. Có thể là thiếu hệ thống đạo đức và khi cả xă hội bị khủng hoảng ư thức hệ, không ai tin vào hành vi đạo đức nữa. Ngay cả những người tượng trưng cho đạo đức, như các tu sĩ tôn giáo cũng tham nhũng (tôi chỉ giới hạn vào tu sĩ Phật Giáo khi theo dơi các bài pháp thoại của Thầy Nhất Hạnh trong chuyến về Việt Nam và một số sa môn tại Úc). Có một giải pháp nào hữu hiệu không? Tôi xin nhắc tới nguyên tắc căn bản của Phật Giáo Nhập Thế: chuyển hoá cá nhân và chuyển hóa xă hội là hai yếu tố không thể tách rời được. Nhà làm luật đặt ra đạo luật bài trừ tham nhũng, nhà tôn giáo tạo điều kiện cho tín đồ chuyển hóa tâm linh. Định chế không làm người ta tốt, nhưng không có định chế th́ không xong. Nguyên nhân tham nhũng không đơn giản như những người muốn tô vẻ, bảo rằng hễ có “dân chủ’ lá hết tham nhũng! Cứ nh́n các nước ‘dân chủ’ (sic) Á Châu như Thái Lan, Mă Lai, Indonesia, Singapore và ngay cà các nước dân chủ Tây Phương, đâu cũng có nạn tham nhũng. Ở Tiểu Bang New South Wales Úc, chánh phủ thành lập Ủy Ban ICAC bài trừ tham nhũng. Có tham nhũng nên chánh phủ mới lập Ủy Ban Bài Trừ Tham Nhũng, nếu không lập ra chi cho tốn tiền. Khi thảo luận đến quá tŕnh toàn cầu hóa, tôi sẽ trở lại vấn đề tham nhũng ở các nước dân chủ Tây Phương.  Động cơ duy nhất mà các nhà kinh tế hiện đại hay nhắc tới là bản tính tham lam là một yếu tố quyết định một cá nhân hành động tham nhũng, nhưng nguyên nhận của hành động này trùng trùng, không thể quy chiếu về một nguyên nhân duy nhất, như độc tài hay dân chủ.    

Thay v́ thu hẹp động cơ hành động vào yếu tố đơn giản, nếu mô thức kinh tế hiện đại để ư đến những yếu tố đạo đức và xă hội khác, theo Amartya Sen, những mô thức kinh tế này c̣n có thể thực hiện hữu hiệu nhiều mục tiêu hơn nữa. Giải thích hành vi của con người bằng những mô thức đơn giản ‘kích thích-phản ứng’ như trong behaviourism đă quá lỗi thời.  Behaviourism  phủ nhận khả năng phán đoán và chọn lựa của homo sapiens. Đối với Phật giáo, chọn lựa (hành) là bước khởi đầu của việc tạo nghiệp - hay giải nghiệp. Để chọn lựa sáng suốt cần cả hai yếu tố từ bi và trí tuệ. Để người khác chọn hay chọn lựa dùm ḿnh, là ‘định mệnh’, không phải là nghiệp theo lời dạy của đức Phật . Có trời mà cũng có ta.   

Cũng như Schumacher, Amartya Sen noi đến những liên hệ kinh tế như một người giảng pháp thoại. Giả sử chúng ta chấp nhận tư lợi thông thường là động cơ chính trong hoạt động kinh tế và ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến chọn lựa, khi h́nh thành một mô thức, nhà kinh tế phải xét đến những yếu tố khác cũng có ảnh hưởng việc h́nh thành quyết định. Nếu các yếu tố này không được ‘factor in’ như các nhà kinh tế thường nói, mô thức phân tích kinh tế sẽ không tránh được sai lầm. Phật giáo gọi đó là duyên khởi, ‘cái này có th́ cái kia có’ trong mạng lưới trùng trùng. Lư thuyết gần gũi nhất với thuyết duyên khởi được Joanna Macy gọi là Systems theory. Mạng lưới trùng trùng này mới giải thích đầy đủ chọn lựa hành động, thí dụ như hiện tượng tham nhũng. Dù trong bất cứ chế độ nào, dân chủ hay độc tài, đông hay tây, đều có tham nhũng, nhưng cũng có nhiều người quyết liệt từ chối tham nhũng. Cho rằng tham nhũng chỉ bắt nguồn từ một chế độ chánh trị nào đó, là chưa hiểu ǵ về lư duyên khởi của nhà Phật.

 

Hành Vi Kinh Tế và Chọn Lựa Hợp Lư

Giả định hành vi kinh tế là hành vi ‘hợp lư’ là một trong những giả định căn bản trong kinh tế hiện đại. Muốn hợp lư th́ phải loại bỏ các yếu tố ‘phi-kinh tế’ như t́nh cảm đạo đức hay xă hội. Cái ǵ tăng lợi lộc là kinh tế, cái ǵ không sinh lợi là phi-kinh tế. 

Tuy nhiên cuộc đời vốn đa diện và phức tạp, không phải lúc nào mọi người cũng hành động hợp lư, nghĩa là chọn lựa những hành động cốt làm tăng tối đa quyền lợi của ḿnh. Chúng ta có lúc lầm lỗi, rồi sửa đổi và hy vọng chọn lựa lần tới có thể khá hơn. Chọn lựa hợp lư là ư niệm chỉ có trong sách giáo khoa hơn là trong đời sống hàng ngày. Chọn lựa không phải lúc nào cũng chỉ bị chi phối bởi quyền lợi cá nhân. Tôi trở lại hiện tượng tham nhũng. Thường thường thấy lợi th́ ai cũng ham, nhưng không phải ai cũng tham nhũng. Có thể họ không có tham nhũng v́ sợ luật pháp, không ở trong địa vị có thể ṿi vĩnh, không được phe đảng quyền thế che chở, nhưng cũng có những người nhất quyết không tham nhũng v́ yêu nước, thấy đó là đại họa cho dân tộc về lâu về dài, được giáo dục trong gia đ́nh có truyền thống trọng nghĩa khinh tài và cha ông họ là những người luôn giữ ḷng trong sạch trong bất cứ hoàn cảnh nào, ‘bần tiện bất năng di’. Tôi c̣n nhớ ở miền Nam trong lúc chiến tranh leo thang trong khi tướng tá tham nhũng có hệ thống, có hai bác sĩ quân y cầm lựu đạn ngồi trước thềm Quốc Hội, đ̣i hỏi chánh phủ đương thời phải có biện pháp chống tham nhũng, nếu không, theo họ nghĩ, miền Nam sẽ không thể nào chiến thắng. Có thể đó là thái độ điên rồ của tuổi trẻ trong sạch, phi-kinh tế (họ có thể gia nhậm hàng ngũ tham nhũng), những không ai không ngă mũ kính phục khí tiết của hai y sĩ này. Thu hẹp động cơ hành động vào lư do duy nhất là tư lợi, không chịu ‘factor in’ những động cơ khác, khiến kinh tế cũng như bất cứ khoa nào khác, nghèo nàn. Con chó Pavlov có thể nhỏ nước miếng khi nghe tiếng chuông, nhưng con người biết suy nghĩ và phản tỉnh, homo sapiens, có thể nghe ‘chày ḱnh’ tỉnh giấc. Có nhiều thiền sư chỉ cần nghe tiếng sỏi dội trong bụi tre cũng có thể tỉnh giác nữa là tiếng chuông.   

Các nhà kinh tế hiện đại đă dùng tiêu chuẩn nào để định tính hợp lư của hành động kinh tế? Có hai tiêu chuẩn được đề ra để biện minh cho tính ‘hợp lư’. Thứ nhất là lúc nào cũng chọn lựa giống nhau, trước sau như nhất và thứ hai, chọn lựa phải có tính ‘kinh tế’, nghĩa là luôn luôn phải nghĩ tới quyền lợi riêng của ḿnh.  

Tuy nhiên một người lầm lẫn nhiều lần vẫn là một người lầm lẫn nhiều lần (ví dụ lần nào cũng từ chối hối lộ), chọn lựa trước sau như nhất không thể là điều kiện cần và đủ của tính hợp lư! Yếu tố này do đó phải kết hợp với yếu tố tư lợi mới thành định nghĩa tính hợp lư trong kinh tế hiện đại. Đến đây chúng ta mới hiểu tại sao các nhà kinh tế hiện đại neocons cứ nhất định kéo Adam Smith đứng sau lưng làm hậu thuẫn cho ḿnh.  

 Có thể yếu tố tư lợi chi phối phần lớn các chọn lựa kinh tế và quả thực là một điều phi lư khi t́m cách phủ nhận yếu tố này, tuy nhiên biện luận là những yếu tố khác ngoài yếu tố tư lợi đều phi lư là một lư luận quái dị! Nếu định nghĩa hợp lư là hành động có thể làm tăng tối đa mục tiêu mà một người muốn nhắm tới, và nếu một người muốn nhàn nhă và hạnh phúc và không xem tích lũy tài sản là mục đích tối hậu của đời ḿnh, họ có thể chọn những hành động phi-kinh tế (như không hối lộ hay bon chen) và chọn lựa trước sau vẫn giống nhau (tiếp tục từ chối tham nhũng và bon chen), những chọn lựa này được phải xem là hợp lư. Nói các khác, không thể nào tránh được câu hỏi về ư nghĩa tối hậu của đời người khi chọn lựa, trong lĩnh vực ngoài kinh tế hay trong kinh tế. Như ví dụ mà Gandhi nói về chính trị: nó như con rắn quấn quanh ḿnh, có muốn tránh cũng không tránh được! 

Có người thích giàu có, có người thích danh vọng, có người xem ư nghĩa của đời ḿnh là phục vụ người khác, và để đạt tới các mục đích đó, họ có thể không bao giờ chọn những hành động chỉ v́ quyền lợi riêng của ḿnh. Trong khi chúng ta không thể phủ nhận có nhiều người lúc nào cũng hành động ích kỷ cho quyền lợi riêng, có nhiều người khác xem tiền bạc như mây nổi, có đó mất đó, càng giàu càng mất an lạc. Có người chỉ muốn ở đời như nhà văn, nghệ sĩ, có người chỉ muốn làm việc cứu tế người đói ăn ở các nước chậm phát triển, và có những người nhất quyết chọn con đường tâm linh. Không thể gọi những chọn lựa của họ là không ‘hợp lư’. Nếu thế, chúng ta không có văn hoá, nghệ thuật hay tâm linh nữa. Cứ tưởng tượng cả thế giới chỉ c̣n là những người háu ăn như ngạ quỷ, cả đời chỉ lao tâm khổ trí để dành dựt miếng ăn với người khác. Homo economicus chính ra là ngạ quỷ trong cảnh giới tệ hại nhất trong lục đạo, địa ngục.  

Nhà kinh tế học George Stigler trong Economics or Ethics, cho rằng hiện chúng ta đang ở trong thời đại thông tin và mọi người do đó đều có đủ dữ kiện và ‘thông minh’ để theo đuổi quyền lợi riêng tư của chính ḿnh. Stigler tiên đoán là nếu thực hiện trắc nghiệm khách quan giữa hai yếu tố tư lợi và đạo đức, chắc chắn là hành động tư lợi sẽ thắng trong hầu hết các trường hợp. Stigler sau đó thú nhận là khó ḷng thực hiện được thử nghiệm khách quan v́ có quá giá trị đạo đức khác nhau. Tuy nhiên nếu dùng hai tiêu chuẩn đối nghịch ‘vị kỷ’ và ‘vị tha’ các thử nghiệm này cũng có thể thực hiện được, thay v́ chỉ quyết đoán như Stigler.  Chỉ hơn 10 năm sau, nhà tâm lư học Daniel Kahdeman đă thi hành được các thử nghiệm này và khám phá là trên thực tế, những chọn lựa thường dựa trên nhận thức cá nhân (t́nh cảm) hơn là trên lư trí. Cũng nhờ đó Daniel Kahdeman đă chia giải Nobel về kinh tế với Vernon L Smith. Thế nhưng các neocons vẫn tiếp tục tuyên bố tư lợi là động cơ duy nhất trong hoạt động kinh tế dù các thử nghiệm đă cho thấy kết quả phức tạp hơn nhiều. 

Sự thành công của kinh tế thị trường thực ra không chứng tỏ là do động cơ của chọn lựa các thành viên trong nền kinh tế đó. Sự thành công của kinh tế Nhật chẳng hạn cho thấy kết quả ngược lại. Đạo đức Nhật Bản, trong đó công nhân và ban quản lư đă chấp nhận ‘hy sinh’ quyền lợi cá nhân và chỉ phục vụ quyền lợi của công ty. Nhà kinh tế Nhật, Michio Morishima nh́n nhận ‘đạo đức Nhật Bản’ là một phản đề của động cơ tư lợi. Có vài nhà kinh tế khác khi t́m cách so sánh sự phát triển kinh tế của các con rồng Á Châu, nghĩ rằng đạo đức Khổng giáo có thể đóng một vai tṛ tương tự như ‘đạo đức Tin Lành’ trong sự thành công kinh tế. Dĩ nhiên lănh tụ Á Châu, như Lư Quang Diệu và các nhà lănh đạo Trung Quốc đă dùng ‘đạo đức Á Châu’ để biện chính cho hành động giới hạn các quyền cá nhân.  

Không chấp nhận tư lợi là động cơ duy nhất trong hoạt động kinh tế không có nghĩa là xác nhận phủ nhận phần lớn con người hành động theo tư lợi, nhưng Amartya Sen chỉ muốn lưu ư là con người hành động thúc đẩy bởi nhiều động lực phức tạp khác nhau và những động lực này cần được ‘factor in’ thay v́ loại bỏ ra ngoài. 

Trong các cộng đồng  xă hội như gia đ́nh, làng xóm và rộng hơn, dân tộc, con người hy sinh quyền lợi cá nhân của ḿnh cho tập thể, hay t́m cách dung ḥa quyền lợi cả hai bên. Đạo đức Khổng Mạnh luôn nhấn mạnh đến quyền lợi của tập thể. Xuất tức là ‘nhập’ thế, chú trọng cương thường, an bang tế thế, cho đám đông. Khi ‘xử’ tức là trở lại con người riêng tư, giống như căn bản của đạo Phật nhập thế, chuyển hoá tâm linh - chuyển hóa xă hội. Các thí dụ về thái độ thung dung tựu nghĩa của nhà Nho đầy dẫy trong lịch sử cận đại của chúng ta.  

Hai vấn nạn căn bản của giả định ‘con người tham lam’ của kinh tế chú trọng đến hai vấn đề chính: một, trên thực tế, có phải lúc nào con người cũng thực sự hành động v́ động cơ ích kỷ hay không và hai, hành động ích kỷ có đưa đến những hiệu năng kinh tế mong muốn không? Những ǵ xảy ra trên thực tế cho thấy nền tảng này cũng chỉ là những giả định nhắm biện minh cho chánh sách laissez faire của kinh tế tư bản, kinh tế toàn cầu và thường gán cho tư tưởng của cha đẻ của kinh tế, Adam Smith. Nhưng thực sự đây có phải là tư tưởng của Smith không?

 

Nỗi Hàm Oan của Adam Smith

Phần lớn đồ đệ của Smith đều gán động cơ tư lợi vào miệng thầy ḿnh, nhưng chủ trương của Smith thực sự là ǵ ? 

Trong một bài diễn văn giải thích tư tưởng của Smith, Smith’s Travel on the Ship of State, Stigler xác định “tư lợi không phải lúc nào cũng thúc đẩy hành động, nhưng nó chi phối hành động của đa số người trong mọi giai cấp”. Trong The Theory of Moral Sentiments, Smith dùng chữ Prudence,  không dùng chữ ‘self interest’ và không thể đồng hóa hai từ ngữ này được. Định nghĩa Prudence của Smith có hai phần: một, dựa trên lư luận và hiểu biết, và hai, dựa vào quan niệm self command phát nguyên từ phái Khắc kỷ (Stoics) và không chỉ có nghĩa ‘tư lợi’ và cũng không đồng nghĩa với ư niệm ‘self-love’ mà Smith hay dùng. Ảnh hưởng của phái Khắc kỷ khá đậm đà trong tư tưởng Smith, khi ông định nghĩa hành vi tốt: cảm t́nh với người khác sym-pathy và tự chế. Smith nói rơ trong The Theory of Moral Sentiments (trang 140)

Theo quan niệm của phái Khắc kỷ, con người không nên xem ḿnh là một cá nhân biệt lập với người khác, nhưng như là một công dân của thế giới, một thành viên trong thiên nhiên bao la. Con người phải sẵn sàng hy sinh quyền lợi nhỏ nhoi riêng của ḿnh   

Tôi dùng khổ chữ bold italics cho câu nói của Smith nói ‘từ miệng con ngựa’ cha đẻ của kinh tế hiện đại! Mặc dù khuyến khích prudence và sympathy, khuyến khích sự cân bằng giữa quyền lợi cá nhân và những đặc tính có ích cho ‘nhân loại, công lư, độ lượng và tinh thần công cộng’ ( Moral Sentiments trang 189), tại sao các ‘đồ đệ’ của Smith lại gán cho thầy chủ trương ‘tự lợi’ để tăng hiệu năng kinh tế? 

Một trong những đoạn văn của Smith được trích dẫn nhiều nhất là đọan nhận xét về vai tṛ khác nhau trong xă hội, trong đó Smith nhận xét là ‘không phải v́ ḷng tốt của ngưới bán thịt, người cất rượu hay người thợ bánh ḿ mà chúng ta có bữa ăn tối, ai cũng tự thương ḿnh, không phải v́ người khác, họ không có ư muốn cung cấp nhu cầu cần thiết cho chúng ta, mà được lợi lạc khi làm các nghề đó” (trang 26-7). Nhưng đọc kỹ tinh thần đoạn đó, Smith chỉ muốn giải thích những hoán chuyển kinh tế xảy ra như thế nào và lợi ích của việc phân chia lao động trong xă hội, và là chủ đề của chương đó. Dĩ nhiên là ai cũng lo cho ḿnh self love, nhưng Smith nhận xét thêm là tôn trọng lợi ích chung giữa các nghề khác nhau thay v́ chỉ lo ḿnh, có thể đóng góp phần ḿnh cho một xă hội tốt. Các đệ tử của Smith trích dẫn có chọn lựa, đầy thiên kiến và ngoài toàn đoạn văn.      

Trong khi bàn về phái hưởng thụ Epicure, Smith chỉ trích thái độ giảm lược nguyên nhân của các hiện tượng bằng một yếu tố duy nhất. Éo le thay, các đồ đệ gán cho ông những ǵ mà ông chỉ trích người khác. Đó là thái độ giảm lược động lực kinh tế vào một nguyên nhân duy nhất: làm lợi tối đa cho cá nhân.  

Smith chỉ biện hộ cho quyền lợi cá nhân trong trường hợp đặc biệt, như vai tṛ của thương gia trong các nạn đói. Dù thương gia hay đầu cơ tích trữ khi hàng hóa khan hiếm và bán hàng với giá thất cao, không thể đổ lỗi cho họ gây ra nạn đói, mà nguyên nhân chính là nạn khan hiếm thực phẩm. Smith không đồng ư việc cấm hay giới hạn buôn bán, nhưng không có chỗ nào trong tác phẩm The Moral Sentiments cho thấy Smith phản đối việc t́m biện pháp giúp đỡ người nghèo. 

Các đệ tử của Smith hoặc chú giải lầm lẫn hoặc cố t́nh quên lăng những yếu tố đạo đức khác trong việc giải thích động lực kinh tế, chỉ v́ muốn cổ vỏ cho chánh sách laissez faire của ông. Ngoài yếu tố tư lợi, Smith c̣n chủ trương làm giảm nghèo khổ, nhắc tới sự cần thiết của ḷng thương cảm … không được các đệ tử của Smith nhắc tới. Smith là giáo sư về Triết Lư Đạo Đức, không phải là người vô cảm với đói kém hay nghèo khổ. Theo Amartya Sen, đây là một điều thiếu sót lớn trong  kinh tế hiện đại.     

Tuy nhiên việc cổ vỏ cho tư lợi trong kinh tế hiện đại ngày càng trở thành nghệ thuật sử dụng khẩu hiệu trong quảng cáo. Giống như các neocons hiện lập đi lập lại các khẩu hiệu như ‘ democracy, freedom and civilized world’ trong khi phát động chiến tranh Iraq! Nhận thấy được mối hàm oan này, nhiều nhà kinh tế đă t́m cách giải oan cho Smith:

 

Adam, Adam, Adam Smith

Listen what I charge you with!

Didn’t you say

In the class one day

That selfishness was bound to pay?

 

Nếu đội mồ sống lại, Smith có lẽ sẽ trả lời: ‘Not quite!” 

 

Quán Như

 

Sách đọc trước khi viết:

Inoue, Shinichi. Putting Buddhism to Work. Kodansha International Ltd, Tokyo, 1997, Japan.

Macy, Joanna. Mutual Causality in Buddhism and General Systems Theory. State University of New York Press 1991, NY, USA

Sen, Amartya. On Ethics and Economics. Blackwell Publishing, 2003, Oxford, UK.

Sen, Amartya. Development as Freedom. Anchor Book. 1999, New York.

 

Muốn tham khảo thêm xin đọc:

Sen, Amartya. Rationality and Freedom. Harvard University Press, 2002, USA.

Sen, Amartya. On Economic Inequality. Clarendon Paperbacks, Oxford University Press. 1997, UK.

Sen, Amartya. Inequality Reexamined. Harvard University Press, New York, 2000.  

Bài trong tháng

Biển khổ
Chưa bao giờ buồn thế
Con hơn cha
Cảm nghĩ về Hoà thượng Quảng Đức
Don't intimidate us
Generation split over music tours
Goodbye Westy
Huyền thoại trăm trứng
Khánh Trường
La vang lễ hội
Mục Kiền Liên
Nhân chứng từ bên trong
Những ngộ nhận danh xưng tốn kém
Thư gửi Giáo hoàng
Vụ gây rối
Điều trị dựa vào màu da?

 

 

   

Copyright Chuyển Luân 2005

Designed by HT MEDSOFT

CHUYỂN LUÂN ONLINE