|
CÁI NH̀N LỊCH SỬ VỀ BIẾN
CỐ 1963
Phong trào vận động của Phật giáo năm 1963 là một hiện thực lịch sử. Một trong
những người có thẩm quyền trí thức để nói về phong trào này là Vũ ngự Chiêu, (Tiến
sĩ Sử học/Tiến sĩ Luật học). Bài viết này là một đóng góp cho khóa hội thảo về
HT Quảng Đức tại Saigon mấy tháng trước đây. Bài viết này có thể coi là một thủ
bản có giá trị cho những nghiên cứu tương lai về quan hệ tay ba Phật giáo -
Chính quyền Miền Nam Việt Nam - Chính quyền Hoa Kỳ trong khi t́nh h́nh Việt Nam
đi vào một khúc quanh với những hậu quả không lường trước được. Xin
giới thiệu cùng bạn đọc.
Chuyển Luân
Vài Cảm Nghĩ Về Thượng
Tọa Thích Quảng Đức
VŨ NGỰ CHIÊU
42
năm đă trôi qua từ mùa Pháp nạn 1963. Hội thảo về cuộc tự thiêu bi tráng của
Thượng Tọa Thích Quảng Đức (1890-1963) ngày 11 tháng 6 năm 1963 là một việc làm
đầy khích lệ, dù hơi muộn màng. Đây là một trong ba biến cố gây chấn động dư
luận thế giới và làm rung chuyển chế độ Ngô Đ́nh Diệm (1954-1963).
I.
TÀI LIỆU: ĐĂ KHÁ ĐẦY ĐỦ.
Tài liệu văn khố Mỹ và Việt Nam đă bắt đầu mở ra cho những nhà nghiên cứu.
A.
Tài liệu văn khố Mỹ giúp soi sáng chính sách Phật Giáo của Mỹ, và quan điểm của
chính phủ Ngô Đ́nh Diệm về cuộc tranh đấu của Phật Giáo. Đặc biệt, văn khố Mỹ
giúp thấy rơ hơn liên hệ Mỹ-Việt trong giai đoạn 1961-1963, cùng lập trường chao
đảo của họ Ngô, khiến bang giao Mỹ-Việt xấu đi. (Xem Chính Đạo, 'Phiến Cộng'
Trong Dinh Gia Long, Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng (Văn Hóa, 2004)
Qua những tài liệu đă giải mật, các viên chức Mỹ-đặc biệt là cố vấn An Ninh Quốc
Gia McGeorge Bundy và các viên chức Bộ Ngoại Giao-bày tỏ thiện cảm với Ủy Ban
Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo, và không ngừng áp lực Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm phải
giải quyết mau chóng các nguyện vọng của Phật Giáo. Thậm chí, Ngoại trưởng Dean
Rusk từng đe dọa sẽ công khai tuyên bố tách biệt khỏi chính sách tôn giáo của
Việt Nam Cộng Ḥa.
B.
Trung tâm Lưu Trữ Quốc Gia [TTLTQG] 2 tại Thành Phố Hồ Chí Minh (Sài G̣n) có ít
nhất 60-70 hồ sơ về Phậât Giáo miền Nam thuộc kho [fonds] Phủ Tổng Thống Đệ Nhất
Cộng Ḥa (HS 7941, 8500- 8541) và Phủ Thủ Tướng Việt Nam Cộng Ḥa (HS 29229,
29368-29369, 29371-29372, v.. v...). [Xem Phụ Bản I]
Trở ngại đáng kể cho các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp là phải có giấy giới thiệu
chính thức từ một cơ quan đối tác trong nước. Thêm nữa, v́ các Trung tâm Lưu trữ
thuộc quyền quản lư của Bộ Nội Vụ, việc xin phép tham khảo và sao chụp tư liệu
tốn rất nhiều th́ giờ cũng như ‘rất nguyên tắc’ (phải phù hợp xít xao với đề tài
nghiên cứu).
C.
Nhà bảo tàng chùa Từ Đàm cũng có nhiều tài liệu quan trọng. Ít nhất một học giả
Việt đă sử dụng các tư liệu này. (Lê Cung)
D.
Văn khố Pháp, nhất là Bộ Ngoại Giao, cũng đă mở. (Fonds Cambodge-Laos-Vietnam).
(Xem Chính Đạo, Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng (Houston: Văn Hóa, 2004; Idem, Việt
Nam Niên Biểu, 19391945, Tập I-C:1955-1963 (Houston: Văn Hóa, 1997)
E.
Không kém quan trọng là báo cáo của Ủy Ban Điều tra LHQ tường tŕnh về sự vi
phạm nhân quyền tại Nam Việt Nam (7/12/1963). [UN/GA Doc. A/5630, 7/12/1963
(Item 77) ]
Xem thêm: HS29372: UBLP PhậtGiáo, 1963-1964
F.
Hầu hết các tác nhân lịch sử đă viết hồi kư: Thích Trí Quang (Xá lợi trái tim Bồ
Tát Quảng Đức), Thích Tâm Châu, Vũ Văn Mẫu, Đỗ Mậu, Trần Văn Đôn, v.. v...
G.
Thiếu sót chăng là tài liệu văn khố Đảng Cộng Sản Việt Nam và Đảng Cộng Sản
Trung Hoa. Một vấn nạn không thể không tra vấn là vai tṛ của Đảng CSVN và cơ
quan t́nh báo hải ngoại Trung Cộng. Những khoen nối thiếu sót này có lẽơ phải
chờ đợi ở những khám phá mới của các nhà nghiên cứu mai hậu.
II. THỜI GIAN CŨNG ĐĂ KHÁ DÀI, ĐỦ ĐỂ DỊU LẠI NHỮNG XÚC ĐỘNG.
Kiêu khí đại thắng hay mối hờn oán mất đi một lănh tụ đă phần nào phai nhạt.
Đại đa số các tăng ni, Phật tử từng tham dự phong trào tranh đấu 1963 đều đă
ngoài hay suưt soát thất tuần, ĺa đời, bị cô lập trong nước hay lưu vong hải
ngoại. Những vị c̣n sống không thể không đánh giá lại phong trào tranh đấu, nhất
là sự hy sinh mạng sống cho Phật Pháp của Thượng tọa Quảng Đức và sáu vị tăng ni
khác-Kết quả chung cuộc của phong trào Phật giáo 1963 là một chế độ độc tài giáo
phiệt, kiêu đạo, kiêu dân bị sụp đổ nhưng lại tiếp nối bằng chế độ kiêu Tướng,
kiêu binh, và rồi dân chủ nhân dân xây dựng bằng mũi súng và công lư nhân dân.
Những người Ki-tô giáo thông minh và b́nh thường-dù không chấp nhận sự tự hủy
như một đức hạnh-khó thể phủ nhận hạnh Bồ tát của các vị tăng ni đă có dũng cảm
tự nguyện tử đạo. Trường hợp Thượng Tọa Quảng Đức c̣n đặc biệt hơn. Thượng Tọa
đà có hơn 60 năm tu tập, lập nên gần 30 cảnh chùa suốt hai miền Trung-Nam, và
từng hoạt động hăng say cho việc thiết lập và mở mang Tổng Hội Phật Giáo Việt
Nam trong nhiều thập niên. Đó là chưa nói đến hàng trăm ngàn, hàng triệu Phật tử,
sinh viên, học sinh chịu cảnh giết chóc, đánh đập, tra tấn nên thương tật, tù
đầy. Nếu chế độ Ngô Đ́nh Diệm không lâm vào
�cơn
điên rồ của một gia đ́nh cai trị chưa từng thấy từ ngày [sụp đổ của] Nga Hoàng,�
cuộc nội chiến 1954-1975 đă có thể có một kết cuộc khác.
III. TRỞ NGẠI LỚN NHẤT LÀ CHỨNG BỆNH ‘CẬN THỊ LỊCH SỬ.’
A.
Lẫn lộn giữa Sự thực sử học và cảm nhận lịch sử.
Phần lớn những điều đă viết về Quảng Đức đều khó thoát khỏi hai trường phái:
cung văn [hagiographies] và đào mộ.
1.
Cung văn:
a.
Quan điểm và cách giải thích của giới Phật Giáo miền Nam (Trí Quang, Nhất Hạnh);
hoặc,
b.
Những người thiện cảm: Vũ Hoàng Chương, các sinh viên và thanh niên Phật tử, v..
v...
2.
Đào mộ:
Quan điểm và cách giải thích của chính quyền Ngô Đ́nh Diệm cùng tàn dư Cần Lao-Ki-tô
-
drugged [chích thuốc]:
Chính Tổng thống Kennedy cũng đặt vấn đề thực chăng bị thuốc. Các cố vấn của
Kennedy cho rằng niềm tin tôn giáo quá đủ cho việc này.
Cơ
quan tuyên truyền của chính phủ Diệm và tàn dư Cần Lao hải ngoại thỉnh thoảng
nhắc lại cáo buộc vô căn này.
-
thiêu đốt một sư, nướng chả một sư
Theo Trần Thị Lệ Xuân, đây là việc barbecue a monk [nướng chả một ông sư], với
xăng nhập cảng.
-
bị b́nh nghị để cưỡng ép các vị chân tu tự thiêu
Theo Ngô Đ́nh Nhu, đây là một vụ thiêu đốt Thượng tọa Quảng Đức của một nhóm sư
săơi muốn lợi dụng tôn giáo khuynh đảo chính phủ. Họ dùng phương pháp b́nh nghị
để cưỡng ép các vị chân tu phải lần lượt tự thiêu để họ liên tục khai thác bên
cạnh những xác chết đó hầu thực hiện những âm mưu chính trị của họ. [tr. 7] Có
người bật quẹt đốt Quảng Đức v́ hộp quẹt trong người Thượng tọa bị ướt, không
cháy. Vị sư đưa hộp quẹt cho một người khác đốt Quảng Đức sau này hối hận bỏ
trốn, bị lùng bắt để thủ tiêu. (VNCH, UBLBĐTACL, Biên bản số 62: Phiên họp của
UBLBĐTACL tại Dinh Gia Long ngày 23/8/1963, tr. 6-12; PTT/1CH, HS 8278)
-
cố sát
Ngô Đ́nh Thục cho rằng đây là một vụ cố sát.
-
án mạng oan uổng:
Ngay tối ngày 11/6/1963, Diệm đọc diễn văn kêu gọi đồng bào [thủ đô] hăy b́nh
tĩnh nhận định t́nh thế, sáng suốt xét mọi vấn đề trên căn bản lương tri và ái
quốc. Thông báo Ủy Ban Liên bộ và phái đoàn Phật Giáo đă bắt đầu tiếp xúc từ
ngày 5/6/1963 và từ hôm sau, 12/6, hai bên sẽ tiếp tục thảo luận. Rất đỗi đau
ḷng khi thấy do sự tuyên truyền quá khích che dấu sự thật, gieo sự hoài nghi về
thiện chí của chánh phủ, khiến một số người bị đầu độc gây một án mạng oan uổng.
Long trọng cam kết rằng "sau lưng Phật Giáo trong nước hăy c̣n có Hiến Pháp
nghĩa là có tôi" [Buddhism in Vietnam finds its fundamental safeguard in the
Constitution of which I personally am the guardian]. (Lời kêu gọi của Tổng thống
Việt Nam Cộng Ḥa, PTT/1CH, HS 8501 & 8511; NYT, 12/6/1963)
B.
Một cái nh́n khách quan, khoa học:
Cuộc tự thiêu của Thích Quảng Đức tự nó là một biến cố phục vụ và hoằng dương
Phật Pháp
1.
Nó vượt trên vấn đề
�giáo
kỳ�
từ ngày 6/5/1963 tới 10/6/1963.
2.
Nhấn mạnh hơn vào tinh thần và nguyên tắc của 5 nguyện vọng ngày 10/5/1963 cùng
bản Phụ Đính ngày 23/5/1963: Tự do tín ngưỡng và b́nh quyền tôn giáo.
3.
Trong ba biến cố cao điểm của phong trào Phật Giáo năm 1963-cái chết của Phật tử
đêm 8/5 tại Huế, cuộc tự thiêu của Quảng Đức ngày 11/6 và chiến dịch
�vét
chùa�
ngày 20-21/ 8/1963-đây là biến cố duy nhất phong trào Phật Giáo tranh đấu giữ
thế chủ động. Nếu muốn xếp hạng cuộc tự thiêu này như một thứ vũ khí tranh đấu,
nó là vũ khí của người yếu chống lại kẻ mạnh và ác, là ánh sáng của lương tâm
soi rơ những góc cạnh xấu xí, dơ bẩn của quyền lực thế nhân, là ngọn lửa hâm
nồng, nếu không phải đun sôi ḍng máu lạnh của đám đông đang bưng tai, bịt mắt,
co ro trong ngục tối đen lạnh của sự sợ hăi bạo quyền. Nó có tác dụng mănh liệt
hơn tuyệt thực, mít tinh, biểu t́nh, khẩu hiệu, truyền đơn-nó phá vỡ sự dửng
dưng của dư luận quốc tế.
4.
Cuộc tự thiêu của Thích Quảng Đức khiến thay đổi hẳn thái độ của người thường
được các nhà lănh đạo ngoại quốc mô tả như a religious fanatic hay a Catholic
mystic.
a.
Thái độ sơ khởi của chính phủ Diệm là hạn chế hậu quả tai hại [damage control]
của chỉ thị cấm treo cờ Phật Đản và tội ác chiến tranh [war crimes] và tội ác
chống lại nhân quyền [crimes against Human Rights] của chế độ sau vụ thảm sát
thường dân ở Huế tối ngày 8/5/1963: nhân nhượng vừa phải, và thương thuyết trên
thế mạnh.
[Ngụy
tạo tin tức (lựu đạn, rồi ḿn plastic), trút mọi trách nhiệm cho Việt Cộng
Thứ Bảy, 18/5/1963:
*
Sài-G̣n: Đại sứ Nolting gặp Diệm. Nolting yêu cầu Diệm thỏa măn nguyện vọng của
Phật giáo để ổn định t́nh h́nh. Diệm cần chịu trách nhiệm về biến cố ở Huế, bồi
thường cho nạn nhân, và tái khẳng định chính sách b́nh quyền tôn giáo và không
kỳ thị. (Đề nghị này Nolting đă tŕnh về BNG ngày 18/5 và được Rusk chấp thuận
ngày 21/5; FRUS, 1961-1963, III:312)
Diệm không có thái độ rơ rệt và muốn kéo dài thời gian. Theo Diệm:
-
Biến cố ở Huế là do các lănh tụ Phật giáo khích động;
-
Những người chết ở Huế là do lựu đạn, do Cộng sản hay những người chống đối chế
độ ném, không phải người của chính phủ;
-
Một số lănh đạo Phật giáo lợi dụng biến cố ở Huế để củng cố thế lực trong nội bộ
Giáo hội;
-
Vấn đề Phật giáo không quá nghiêm trọng như Mỹ tưởng nghĩ. (FRUS, 1961-1963,
III:314)
Dù
được xem những khúc phim về cuộc đàn áp-chứng minh quân lính của Sỹ bắn vào Phật
tử-Diệm không thay đổi lập trường.(Gravel, II:226)
[Diệm
tiếp xúc với phái đoàn đại diện Phật Giáo ngày 15/5/1963, nhưng trốn trách nhiệm.
[Dùng
vũ lực đàn áp
Đặc biệt là tại Huế và Sài G̣n. Dùng Nhảy Dù, Cảnh sát chiến đấu, Mật vụ, chó
berger, và ngay cả blister gas khiến 67 sinh viên, học sinh, Phật tử bị thương;
phong tỏa người biểu t́nh trong ṿng rào kẽm gai.
[Nghi
ngờ cuộc tranh đấu có bàn tay CS & ngoại bang:
-
Dị ứng với cuộc tấn công tuyên truyền của Hà Nội & MTGPMN.
-
Dị ứng với sự can thiệp tích cực của Ṭa Đại sứ Mỹ và Oat-shinh-tân
(Phải
giải quyết ngay bằng không sẽ tự tách biệt khỏi chính sách tôn giáo của Diệm).
-
Dị ứng với sự ủng hộ phong trào Phật Giáo của dư luận thế giới.
b.
Ngọn lửa Quảng Đức khiến Diệm thay đổi thái độ [dưới áp lực mạnh của Ṭa Đại sứ
Mỹ]:
-
Chấp nhận kư Thông cáo chung 16/6/1963 [thành tín hay không. đây là một chiến
thắng cho Phật Giáo]
-
Hạn chế sự chống đối của những thành phần quá khích như Lệ Xuân [từ ngày
17/6/1963 đă công khai đả kích Thông Cáo Chung và t́m mọi cách cản trở việc thực
thi].
5.
Nhưng bỗng xuất hiện một biến cố vượt ngoài phong trào tranh đấu: Việc bổ nhiệm
Henry Cabot Lodge, người nổi danh
�vua
đảo chính,�
làm Tân Đại sứ [Diệm được hỏi ư kiến ngày 22/6/1963].
6.
Tiếp đó và song song là:
a.
Âm mưu của De Gaulle và Lalouette nhằm
�trung
lập hóa�
Đông Dương-không chỉ để
�phá
Mỹ�
mà chủ yếu v́ quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp.
b.
Những lời tuyên bố của Hồ Chí Minh về một chính phủ liên hiệp, trung lập, trên
căn bản Hiệp định Genève 1954, và nằm ngoài vùng ảnh hưởng Mỹ [để bảo đảm sự an
toàn cho cửa ngơ chiến lược phía Đông Nam của Trung Cộng].
c.
Nhất Linh Nguyễn Tường Tam uống thuốc độc tự tử
[Di
ngôn ngày 7/7/1963 của Nhất Linh và sự nhập cuộc của sinh viên học sinh. Cùng
với cái chết của Quảng Đức, đây là mồi lửa thứ hai thiêu hủy chế độ nhà Ngô.
Theo bản tin Đài VOA ngày 9/7/1963, ngày 7/7, Nhất Linh để lại di ngôn: Đời tôi
có lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần
tử đối lập Quốc Gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất về tay Cộng Sản. Tôi
chống đối sự đó và tự hủy ḿnh cũng như Ḥa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để
cảnh cáo những người trà đạp mọi thứ tự do. (PTT/1CH, HS 8500)
d.
Không kém quan trọng, chiến dịch khai thác cuộc tranh đấu của Phật Giáo của Hà
Nội: Một
�món
quà từ trên trời rơi xuống,�
theo lời Nguyễn Hữu Thọ.
-
Mít tinh, tuyên cáo đả kích Mỹ-Diệm và ủng hộ cuộc tranh đấu của Phật Giáo trước
dư luận quốc nội cũng như quốc tế.
-
Xâm nhập cán bộ vào các đô thị và phong trào tranh đấu
-
Gia tăng hoạt động quân sự, đánh phá các đồn bót và Ấp chiến lược.
-
Khoét sâu sự khác biệt giữ chính quyền miền Nam và Phật Giáo.
Thứ Hai, 15/7/1963:
*
Sài-G̣n: Có tin MTGPMN kêu gọi binh sĩ và Cảnh sát ủng hộ 5 nguyện vọng của
THPGVN. (HS 8501)
*
Liên Khu V: Hội nghị Khu Ủy Khu V mở rộng [tới ngày 31/7/1963]
Nghị Quyết: [VKĐTT, 24:895-954] Cần phải và có khả năng kiềm chế địch trong loại
chienâá tranh thứ ba và thắng địch trong loại chiến tranh ấy.[tr. 907]
trường kỳ kháng chiến, đánh địch trường kỳ, giành thắng lợi từng phần [tr. 908]
ở
miền núi, đấu tranh vơ trang là chính [tr. 910]
ở
đồng bằng, đấu tranh chính trị, vũ trang song song.[tr.910]
ởû
đô thị đấu tranh chính trị là chủ yếu, có kết hợp đấu tranh vũ trang trong một
mức độ nhất định.[tr. 911]
�trước
mắt ra sức nuôi dưỡng mở rộng cuộc đấu tranh của đồng bào Phật Giáo và nhân dân
các tầng lớp chống địch đàn áp Phật Giáo, chia rẽ các tôn giáo.�
[tr. 942] (Huế: thuộc Liên tỉnh 1 của Khu V)
Khu VI [tháng 10/1963]:
cần chú ư tranh thủ xây dựng cơ sở trong tín đồ Phật Giáo và từng mặt liên minh
hành động tiến tới nắm một số sư săi tiến bộ, có uy tín trong giới Phật Giáo,
cũng như phải tích cực tranh thủ xây dựng những phấn tử lớp trên . . . có xu
hướng tiến bộ để tiến tới h́nh thành Mặt Trận lâm thời của thành phố. (VKĐTT,
24:989)
Tất cả những yếu tố trên dẫn đến chiến dịch vét chùa và ban hành thiết quân luật
đêm 20-21/8/1963: Đây là một chiến thắng lớn của Phật Giáo, v́ anh em họ Ngô đă
công khai đương đầu với Mỹ, trong một cuộc đương đầu chỉ có thua- qua chính sách
đàn áp Phật Giáo, như một biểu hiệu của thái độ không ăn được th́ đạp đổ và dằn
mặt Đại sứ Lodge; tạo cơ hội cho Lodge bắt đầu kế hoạch đảo chính.
Những chiếc đinh khác đóng thêm lên nắp quan tài Đệ Nhất Cộng Ḥa:
[e. Maneli vận động gặp Nhu
[f. India dàn xếp cho đại diện Ngô Đ́nh Diệm (Trần Văn Dĩnh) gặp đại diện Hà Nội
ở New Dehli vào khoảng trung tuần tháng 11/1963. (Hammer)
Từ
đó, kiêu binh không xếp hàng một mà tranh giành, gấu ó nhau chạy đua vào Dinh
Gia Long. Chính trường xuất hiện những lănh tụ (sic) ham mê đá gà, xem vũ khỏa
thân, cờ bạc, rượu chè, trai gái.
IV. QUAN ĐIỂM CHÍNH TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA NHỮNG MỤC TIÊU CHÍNH TRỊ GIAI ĐOẠN.
Nghiên cứu về Phật Giáo tại nội địa Việt Nam, nhất là phong trào tranh đấu 1963,
rất khó khách quan và khoa học.
A.
Có khuynh hướng bắt tôn giáo phải nằm trên chiếc giường của tên tướng cướp duy
vật biện chứng Marxist-Leninist. Việc xếp hạng Phật Giáo cổ truyền vẫn được duy
tŕ, nhưng hai cách xếp hạng khác, có yếu tố quyết định, bấât di bất dịch: Phật
giáo yêu nước (Phe ta) và Phật Giáo phản động (Ngụy).
B.
Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất Việt Nam, mà đại đa số vốn chống Cộng, hoặc
không-cộng-sản, vẫn chưa được nh́n nhận. Mặc dù một thiểu số tăng ni được trọng
dụng, nhiều tăng ni tranh đấu năm 1963 đă bị cải tạo và quản chế. Có người đă
chết trong tù ngục CS. Những danh tăng như Thích Quảng Độ hay Thích Huyền Quang
vẫn bị coi như bất hợp pháp, bị cô lập, chỉ định cư trú và liên tục bị giám sát,
nhục mạ. Mới đây, Thượng tọa Thích Thiện Minh, mới được phóng thích khỏi ngục tù
sau 26 năm giam cầm, bị quản thúc ở Bạc Liêu, xin dựng một ngôi chùa thờ Phật
th́ chịu đủ ngược đăi tinh thần. Viện Hóa Đạo II ở hải ngọai không được phép
hoạt động cứu tế xă hội, xây chùa, sợ diễn tiến ḥa b́nh.
C.
Thảo luận về Quảng Đức và Phong trào Phật Giáo 1963 không thể không nói đến sự
chống đối của những thành phần Ki-tô giáo quá khích, hoài tưởng họ Ngô. Với
những người này, hễ ngoại đạo là ác quỉ và Ngô Đ́nh Diệm là thánh của họ.
PThT, HS 29253:
*
13/11/1963: Trung tướng Mai Hữu Xuân, TGĐCSQG, báo cáo lên Bộ An Ninh là một số
đồng bào gốc Bùi Chu vẫn ủng hộ Ngô Đ́nh Diệm. Họ tập trung tại nhà thờ Bùi Phát
đường Trương Minh Giảng, nhà thờ Ngă ba Ông Tạ, nhà thờ Phú Nhuận cầu nguyện cho
NĐDiệïm. Theo họ Diệm c̣n sống, một ngày kia sẽ trở lại lănh đạo VNCH.
Trong khi đó tín đồ Phát Diệm của GM Từ chống Diệm.
Xuân yêu cầu bộ Thông Tin có biện pháp đánh tan tư tưởng thân Diệm.
*
16/11/1963: Tỉnh trưởng Thừa Thiên, Trung tá Trần Văn Mô, gửi Trung tướng TL/QĐ
1 kiêm Đại biểu CP/TNTP:
-
Lúc 19G30 ngày 9/11/1963, Linh mục Vơ Văn Quang, Tuyên úy Trung tâm Cải huấn
Thừa Thiên, hỏi ông Quản đốc về thái độ với việc lật đổ Diệm. Quang tuyên bố anh
em Diệm-Nhu c̣n sống, đang ở Mỹ. Đài Vatican trách Mỹ đă đưa hai ông xuất ngoại.
Quang c̣n nói chính cha [Nguyễn Văn] Thuận đă cho người ŕnh lén, thấy hai ngôi
huyệt không có xác Diệm-Nhu.
-
Linh mục Lộc, ở Mỹ Á, quận Vĩnh Lộc: Ngầm lănh đạo con chiên chống Cách Mạng.
-
Linh mục Bửu Đồng, xứ Sư lổ thượng, xă Phú Hồ, quận Phú Vang: Tối 4/11/1963 tập
trung khoảng 20 con tin quá khích, gồm thành phần cũ, họp kín.
-
Linh mục Điển, sở Đại Phú, xă Phong Lộc, quận Phong Điền: Trong buổi họp ngày
13/11/1963 có những lời khiếm nhă.
-
Linh mục bổn sở họ Vĩnh Nguyên, xă Phong Nguyên, quận Phong Điền: Cho giáo dân
học vơ chuẩn bị đánh nhau với Phật tử.
-
Linh mục bổn sở Lai Hà, xă Quảng Lợi, quận Quảng Điền: Cấu kết với tay chân
Nguyễn Xuân Khương có thể cất giữ vũ khí và có hành động khả nghi.
*
29/11/1963, TGM Francesco de Nittis, Khâm mạng Vatican, than phiền Giáo dân
Ki-tô bị ngược đăi tại Thừa Thiên và Quảng Trị. Ngày 3/12/1963, Nguyễn Ngọc Thơ
yêu cầu BT An Ninh điều tra việc này. Tôn Thất Đính báo cáo: Cộng Sản xúi dục.
*
Một trí thức Ki-tô ở hải ngoại từng kết thúc tập nghiên cứu về cái chết của Ngô
Đ́nh Diệm bằng câu Ngô Tổng thống muôn năm và Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng
thống.
Điểm này có thể đi ngược lại chủ trương đại đoàn kết của Đảng CSVN hiện nay-khối
giáo dân Ki-tô chỉ nín thở qua sông, cho các ông ấy tạm giữ đất nước hộ ḿnh.
Nói về tổ chức, cán bộ, nhân vật lực, hiện nay khối Ki-tô đang hồi phục dần. Vấn
đề không phải là liệu họ có nổi dậy chống chính quyền Cộng Sản hay không. Váấn
đề là Bao giờ?
Kết
Luận:
Hội thảo về Quảng Đức phải là một công tŕnh nghiên cứu nghiêm túc, để từ đó:
1.
t́m ra những sự thực sử học về một biến cố đă khiến đổ nhiều máu và nước mắt;
2.
từ những sự thực sử học này mới có thể rút ra những bài học hữu dụng cho tương
lai.
Nếu Hội thảo về Quảng Đức chỉ đưa đến những tập hợp cảm nhận lịch sử-một tập hợp
những lời cung văn và đào mộ-hay nhắm vào những mục tiêu chính trị giai đoạn nào
đó th́ cầm bằng chẳng nên có cuộc hội thảo.
Houston, 10/6/2005
Vũ
Ngự Chiêu
Phụ Bản I:
SƠ
LƯỢC NHỮNG TƯ LIỆU VĂN KHỐ VỀ PHẬT GIÁO 1963
TÀI
LIỆU PHỦ TỔNG THỒNG ĐỆ NHẤT CỘNG H̉A
HS
7941: Ngày 20/2/1962,Tịnh Khiết gửi thư cho Diệm. Than phiền việc đàn áp Phật
Giáo tại Phú Yên, B́nh Định, Quảng Ngăi, Quảng Nam.
Diệm gặp Mai Thọ Truyền, rồi chỉ thị Bùi Văn Lương điều tra. Lương cử Trung Tá
Trần Văn Thưởng, Giám đốc CSCA TNTP điều tra. Theo Thưởng, cả hai bên đều có lỗi.
Chỉ xảy ra ở một vài xă. (Báo cáo ngày 18/6/1962 của Bùi Văn Lương)
HS
8501: Sắc lệnh 84-TTP, ngày 20/8/1963 của NĐD, ban hành t́nh trạng giới nghiêm
trên toàn quốc.
Quân đội chịu trách nhiệm bảo vệ an ninh: xét tư gia bất cứ giờ nào, bắt giữ
những người xét có hại cho an ninh công cộng. Cấm mọi cuộc tụ họp có thể phương
hại cho trật tự an ninh công cộng, hạn chế tự do báo chí, kiểm soát phát thanh,
kịch ảnh, cấm tàng trữ, lưu hành những ấn loát phẩm, tài liệu có hại đến an ninh
công cộng. [8506, too] Hiệu lực tới 12G00 ngày 16/9/1963. SL104-TTP ngày
14/9/1963.
8502: Nha CS miền Bắc TNTP báo cáo về sự can thiệp của Mỹ để khuynh đảo chính
phủ.
Lời khai của Thiện Siêu, Thiện Minh, Chánh Lạc, Lê Khắc Quyến, Vĩnh Kha, Trần
Công Thọ, Tôn Thất Kỳ.
8503: Tài liệu Nha TGĐCSCA v/v cuộc tranh đấu của Phật Giáo.
11/6/1963: Thích Quảng Hường, trụ tŕ chùa Khai Đơn, Ban Mê Thuột, đ̣i tự thiêu
tranh đấu cho 5 nguyện vọng của Phật Giáo.
8504-8505: Báo cáo hàng tháng của TGĐ/CSCA.
8506: Các chùa trên toàn quốc bị khám xét.
Sắc lệnh số 84-TTP, ngày 20/8/1963, ban hành t́nh trạng giới nghiêm của NĐD.
[8501, too] Gồm 5 điều, công bố theo thủ tục khẩn cấp. Hiệu lực cho tới 12G00
ngày 16/9/1963; SL số 104-TTP, ngày 14/9/1963.
Tuy nhiên, t́nh trạng khẩn cấp, ban hành do SL số 209-TTP ngày 15/10/1961 vẫn
c̣n hiệu lực.
4/9/1963: Bùi Văn Lương cho lệnh liệt kê các chùa trên toàn quốc.
8507: Hồ sơ về việc ấn định thể thức treo cờ:
Nghị định mới, số 358/BNV/KS ngày 9/7/1963, về việc treo cờ trong những ngày lễ
Phật đản.
Chỉ thị của NĐThục về việc treo cờ.
Trong đạo ta chỉ có một biểu hiệu là Thánh giá mà thôi. Anh em đừng nghĩ rằng cờ
Ṭa thánh Vatican là cờ có tính cách quốc tế nên được phép treo khắp nơi. Cái cờ
bấy lâu gọi là cờ ṭa thánh chỉ là cờ nước Vatican, không phải là cờ của đạo ta.
.
. . không phải một tấm vải vài đồng bạc mà thay được tín ngưỡng đâu.
8508: Dư luận Quốc tế
Báo cáo của Nguyễn Văn An, Trưởng Phái đoàn Giao dịch với Ủy Hội Quốc tế ngày
22/5/1963, 15/6/1963,
8509: 5 nguyện vọng của Phật Giáo
Thông cáo chung 16/6/1963.
8510: Trần Thanh Chiêu và Thương Phế Binh chống Phật Giáo
8511: Hồ sơ Việt Tấn xă về Phật Giáo
8512: Danh sách các khuôn hội
8513: Việt Cộng lợi dụng cuộc đấu tranh
Phủ Đặc Ủy Trung Ương T́nh Báo, Bản nghiên cứu đặc biệt về Phật Giáo Việt Nam,
do Nguyễn Văn An soạn.
Bản tin tức đặc biệt ngày 24/8/1963.
Bản tin tức đặc biệt ngày 6/9/1963.
8514: Một số lănh tụ Phật Giáo
8515: Phụ Nữ Liên Đới
8516-8519: Kiến nghị của Quốc Hội
8520: Báo cáo, CĐ về Phật Giáo
8521-8522: Khiếu nại của Phật Giáo
8523-8525: Báo cáo của Đại biểu TNTP
Mật điện đến (đặc biệt CĐ số 100/MM ngày 9/5/1963 của Ṭa Đại biểu TNTP: Lựu đạn
MK-2 từ đám đông ném ra; do khủng bố VC)
8526: Truyền đơn của Tổng Hội Phật Giáo
8527: Tài liệu Bộ Quốc Pḥng
Báo cáo của Trần Thiện Khiêm, Đỗ Cao Trí, v.. v...
8528-8530: Hoạt động của Phật Giáo tại Thừa Thiên
8529: CĐ tỉnh Thừa Thiên.
7/5-31/5/1963: Nguyễn Văn Đẳng
6/6-19/8/1963: Nguyễn Văn Hà.
21/8-2/10/1963: Thiếu tá Nguyễn Mâu.
8530: Phản ứng của chính phủ.
Đặc biệt, báo cáo của Thiếu Tá Nguyễn Mâu, Tỉnh trưởng Thừa Thiên, với những lời
buộc tội như phản loạn, bọn lưu manh phản động đội lốt tôn giáo âm mưu phá rối
an ninh công cộng.
Từ
năm 1968, Mâu chiếu cố các tăng ni tranh đấu khá kỹ, với sự tán thưởng của Trần
Văn Hương. [Xem Phụ Bản, infra]
8531: Lư lịch các sư
8532-8533: Hoạt động chống chính phủ tại Trung Phần và Nam Phần
8534: Phật Giáo tại Đô thành
8536: Kư giả ngoại quốc bị hành hung tại Chùa Miên trên đường Trương Minh Giảng
8539: Báo cáo của các tỉnh
8540: Trợ cấp cho Phật Giáo
8541: Tài liệu Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo
HS
8278:
Biên bản số 62, Phiên họp ngày 23/8/1963. Có phát biểu của Ngô Đ́nh Nhu về Phật
Giáo.
TÀI LIỆU PHỦ THỦ TƯỚNG
HS29229: Phật Giáo, 1954-1955
HS29368: Phật Giáo, 1964
HS29369: Phật Giáo xin bồi thường thiệt hại, 1964:
Danh sách những người bị bắt giữ đêm 20 rạng 21/8/1963.
Tại Huế, có 127 người bị thương nhẹ, 33 bị thương nặng. Ngày 30/7/1964 mới giải
quyết xong.
HS29371: PhậtGiáo, 1964 Tại các tỉnh.
HS29372: UBLP PhậtGiáo, 1963-1964 Báo cáo của LHQ về Phật Giáo: Ngày 13/12/1963,
quyết định không cần phải thảo luận nữa.
HS29372a: Xung đột giữa PhậtGiáo với quân đội, cảnh sát và Ki-tô giáo, 1963-1964
HS29380a: Ki-tô giáo chống chính phủ, 6-8/1964 (Sài G̣n & Vùng 1 CT);
HS29380b: Ki-tô giáo chống chính phủ, 1-12/1964;
HS29387: Liên tôn chống Cộng, 1964;
HS
29675: Phật Giáo, 1966; HS 29679: Phật Giáo, 1966;
HS
29684b: Hoạt động của một số tu sĩ Phật Giáo, 1965-1966;
HS
29587: Hoạt động tôn giáo, 1963-1967;
HS
29588: Phân hóa của Phật Giáo, 1966-1967;
HS
30206: Phật Giáo Ấn Quang, 1968.
Trên đây chỉ là những tư liệu tôi có cơ hội tham khảo và làm phóng ảnh. Chắc
chắn c̣n nhiều tài liệu khác nằm rải rác đâu đó. Cấm trích dịch nếu không có sự
chấp thuận của tác giả.
Phụ Bản II:
DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG
[Trích
từ Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu, I-C: 1955-1963, có bổ sung] 1963
1/1963:
*
Sài-G̣n: Chính phủ Diệm cho giấy phép nhập cảng phim Sakya, nói về Phật tổ.
Thượng tọa Thích Tâm Châu, Phó Hội chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, vận động
thành lập "Ủy Ban Liên Phái Chống Phim Sakya.
2/1/1963:
*
Mỹ-Tho: Trận Ấp Bắc, khoảng 14 cây số Tây Bắc Mỹ-tho.
Hai đại đội VC giữ một ấp chiến đấu, khiến quân lực VNCH, có thiết vận xa M.113,
phi cơ, pháo binh, và một quân số gấp bốn lần, bị thiệt hại nặng. Dù chết 19
chết, 33 bị thương, kể cả một Đại úy và một Trung sĩ Cố vấn Mỹ. 5 trực thăng bị
bắn rơi. (FRUS, 1961-1963, III:1-2; Sheehan 1988, tr. 261-2) Phía VNCH, khoảng
80 binh sĩ chết, 100 bị thương; 3 Cố vấn Mỹ chết và 8 bị thương. [Tin chính thức
của VNCH: 63 chết, 109 bị thương]. (Xem thêm Báo cáo của Trung tá John P. Vann
ngày 9/1/1963; Kennedy Library, NSF, Vietnam Country Series, 1/63)
Trong đêm, lực lượng Việt Cộng an toàn rút khỏi Tân-thới về Đồng-tháp-mười.
*
Pleiku: Việt Cộng tấn công trung tâm huấn luyện Pleimeijong.
Hàng trăm thanh niên Thượng bỏ trốn.
7/1/1963:
*
Oat-shinh-tân: Tướng Earle G. Wheeler, Tham mưu trưởng Lục quân, qua thị sát Nam
Việt Nam.
9/1/1963:
*
Sài-G̣n: Roger Hilsman, Giám đốc Pḥng Sưu Tầm, và Michael V. Forrestal kết thúc
chuyến tham quan nghiên cứu t́nh h́nh Nam Việt Nam.
-
Đề đốc Harry D. Felt, Tư lệnh Thái B́nh Dương, thăm VN [cho tới ngày 11/1/1963].
18/1/1963:
*
Sài-G̣n: Phái đoàn Wheeler tới Sài G̣n [cho tới ngày 27/1/1963].
Có
Đại Tướng Victor "Brute" Krulak, Phụ tá Chống Phản Loạn và Hành Động Đặc Biệt
(Special Assistant for Counter-insurgency and Special Action, SACSA) của TT
Kennedy từ năm 1962, một Tướng TQLC Mỹ được trọng vọng nhất. Mục tiêu chuyến đi
là để trả lời câu hỏi: "Đang thắng hay bại" ở Việt Nam? Trở về Mỹ, Krulak báo
cáo là Harkins đă có kế hoạch để thắng Việt Cộng trong ṿng 3 năm.
25/1/1963: Nguyên đán Quí Măo
30/1/1963:
*
Oat-shinh-tân: Wheeler báo cáo về t́nh h́nh NVN.
15/2/1963:
*
Sài-G̣n: TGM Salvatore d' Asta, tân Khâm sứ Vatican, tới Sài-g̣n. (CLV, SV,
d.46, tờ 272)
Người tiền nhiệm, Mario Brini, đă rời Sài-g̣n từ tháng 11/1961, trước khi hết
nhiệm kỳ.
24/2/1963:
*
Oat-shinh-tân: Báo cáo của Mansfield về VN.
[Báo
cáo này đă nạp cho Bạch Cung ngày 26/12/1962; nhưng chỉ được phổ biến ngày
25/2/1963]
[TNS
Mansfield cảm thấy lo ngại về hiện t́nh miền Nam. Nếu t́nh trạng hiện nay tiếp
tục, Mỹ phải rút viện trợ.... (Báo cáo ngày 2/3/1963 của Đại sứ Herve Alphand;
CLV, SV, d. 18).
Dư
luận là liên hệ giữa Mỹ và VN khó thể cải thiện. Các Tướng Mỹ hoài nghi về một
giải pháp quân sự. (Báo cáo ngày 2/3/1963 của Lalouette; CLV, SV, d. 18).
1/3/1963:
*
Sài-G̣n: Lệ Xuân hàm ư chỉ trích "ngoại nhân."
2/3/1963:
*
Sài-G̣n: Có tin Đại sứ Nolting sắp bị thay.
-
Trả lời phỏng vấn trên báo US News & World Report Diệm tuyên bố không cần học
hỏi ǵ ở Oat-shinh-tân. (Báo cáo ngày 2/3/1963, Lalouette gửi BNG; CLV, SV, d.
18)
6/3/1963:
*
Oat-shinh-tân: Kennedy họp báo.
Khẳng định Mỹ không thể rút khỏi VN hoặc Thái Lan.
Thứ Sáu, 29/3/1963:
*
Sài-G̣n: Nhu, Tung và Đính họp mật Quân ủy Cần Lao.
Nhu ban chỉ thị chống Mỹ. (Đính 1998, tr. 270-2)
Thứ Hai, 8/4/1963:
*
Đà-Nẵng: Thị trưởng Đà-nẵng ra văn thư về việc treo cờ tôn giáo.
Cờ
tôn giáo chỉ được treo tại các nơi thờ tự trong những ngày lễ quan trọng và tư
gia, và phải có giấy phép của nhà chức trách địa phương. Văn thư này dựa theo
Nghị định kư từ năm 1958. [Xem 6/5/1963]
Thứ Sáu, 12/4/1963:
*
Sài-G̣n: Nhu tiếp chuyện [Richardson?].
Bàn về việc rút bớt quân Mỹ. Theo Nhu, cần rút từ 500 tới 3,000 hay 4,000 người
Mỹ. Gần trọn đời Diệm đă chống lại sự đô hộ của Pháp. Thật khó khăn [sensitive]
nếu hàm chứa bóng tối của t́nh trạng bị bảo hộ hay condomunium. ( FRUS,
1961-1963, III:222-223)
Diệm đă nhận được quá nhiều lời than phiền. Tướng Đính, chẳng hạn, than rằng có
quá nhiều người Mỹ. Hay, việc LLĐB Mỹ đă phân phối tiền và vật dụng trực tiếp,
không qua giới chức thẩm quyền Việt.
Hay việc xây một tường đất bảo vệ ở Vĩnh Long. (FRUS, 1961-1963, III:222-225)
Thứ Bảy, 13/4/1963:
*
Sài-G̣n: Nolting báo cáo đă từ chối lời mời lên Đà-lạt nghỉ của Lệ Xuân.
ø
Lệ Xuân mới chỉ thị Phong trào Phụ nữ Liên đới [PTPNLĐ] đừng nên tỏ vẻ biết ơn
viện trợ của ngoại quốc; v́ nhiều kẻ viện trợ tưởng rằng chúng có quyền phá hủy
phong tục, truyền thống và luật pháp lành mạnh của Việt Nam, biến Việt Nam thành
bù nh́n, dụ dỗ đàn bà Việt Nam vào đường sa đọa. (FRUS, 1961-1963, III:225)
16/4/1963:
*
Sài-G̣n: Nolting gặp Diệm trong hai giờ.
Thông báo sắp về Mỹ nghỉ. Than phiền về những lời tuyên bố của Lệ Xuân. Diệm hứa
sẽ không c̣n tái diễn nữa. Cho Diệm biết sở dĩ hủy bỏ chuyến nghỉ mát ở Đà Lạt
là do chỉ thị của PTPNLĐ. (FRUS, 1961-1963, III:227-228)
18/4/1963:
*
OAT-SHINH-TÂN: BNG cho Hilsman, tân Phụ tá Bộ trưởng đặc trách Viễn Đông Vụ,
biết về kế hoạch triệt thoái 1000 quân Mỹ. (FRUS, 1961-1963, III:243-245)
22/4/1963:
*
Oat-shinh-tân: CIA tiên đoán Diệm sẽ yêu cầu Mỹ giảm quân tại Miền Nam.
Cả
Diệm lẫn Nhu đều quan tâm đến vấn đề nhân viên Mỹ xen vào (infringements) chủ
quyền của VN, đặc biệt là MAAG và LLĐB. Phủ Tổng thống đang tra hỏi những viên
chức giữ chức vụ phối hợp với Mỹ về các hành vi của nhân sự Mỹ. (FRUS,
1961-1963, III:246-247)
5/1963:
*
Huế: Một phái đoàn điều tra của Vatican tới Huế.
Theo lời một nhân chứng-viết bằng Anh ngữ ngày 12/6/1963-lư do là trước đó, Ngô
Đ́nh Thục đă xin Vatican cho lên chức Hồng Y v́ 80% dân chúng trong giáo phận
của Thục là người Ki-tô. Vatican bèn gửi một phái đoàn điều tra tới miền Trung
vào đầu tháng 5/1963, giữa lúc các Phật tử đang chuẩn bị đón Phật đản (15/4 Quí
Măo, tức 8/5/1963). Bởi thế phái đoàn Roma kết luận sơ khởi là có lẽ chỉ 20% dân
miền Trung là Ki-tô mà không phải 80%. Để che dấu sự thực, Thục cho lệnh cấm
treo cờ hay tuần hành rước lễ Phật Đản. (Chính Đạo, Tôn Giáo & Chính Trị: Phật
Giáo, 1963-1967 [Houston: Văn Hoá, 1997], Phụ Bản I, tr. 327)
1/5/1963:
*
Sài-G̣n: Quách Ṭng Đức, Đổng lư Văn pḥng Tổng thống Phủ, tiếp xúc mật với Mai
Thọ Truyền về vấn đề treo cờ nhân dịp Phật Đản sắp tới.
Truyền, Phó Hội chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, tuyên bố nếu có lệnh, sẽ tuân
hành. (Tài liệu thông tin; TTLTQG 2 [TP/HCM], PTT/1CH, HS 8507)
Thứ Bảy, 4/5/1963:
*
Sài-G̣n: Quách Ṭng Đức lại tới chùa Xá Lợi, tiếp xúc Mai Thọ Truyền về vấn đề
treo cờ.
Truyền hứa sẽ gửi Thông bạch cho các phái trong Tổng Hội Phật Giáo. Thông bạch
này được gửi đi ngày 4/5/1963, với chữ kư của Tâm Châu. [Tin này bổ túc lời
tuyên bố của Mai Thọ Truyền với báo chí].(Tài liệu thông tin; PTT/1CH, HS 8507)
Chủ Nhật, 5/5/1963:
*
Sài-G̣n: Diệm tham dự Lễ Tạ Ơn kỷ niệm Lễ Ngân Khánh của Tổng Giám Mục Ngô Đ́nh
Thục.
Lễ
này tổ chức tại Nhà thờ Ḍng Chúa Cứu Thế trên đường Kỳ Đồng. Các viên chức cao
cấp trong chính phủ, Quốc Hội, Tướng lănh, giáo quyền Ki-tô và các đoàn thể thân
chính quyền, như Hội Phụ Nữ Liên Đới và Cần Lao Nhân Vị, đều được mờiï. Nhưng
không một lănh đạo tôn giáo khác được gửi thiệp. Một số đơn vị tại Biệt khu Thủ
đô đều có lệnh hành quân bảo vệ an ninh lộ tŕnh cho Tổng thống và Tổng Giám Mục
Thục. (PTT/1CH, HS 8425)
Thứ Hai, 6/5/1963:
*
Sài-G̣n: Diệm ra lệnh cấm treo cờ tôn giáo ngoài khuôn viên các nơi phụng tự.
Quách Ṭng Đức gửi đi các nơi chỉ thị [khẩu lệnh] của Diệm như sau:
Ra
chỉ thị cho các cơ sở phụng sự bất câu tôn giáo nào, trên các cơ sở phụng tự (nhà
thờ, chùa chiền, v.. v...) chỉ treo cờ quốc gia mà thôi. Chính phủ đă hỏi các
tôn giáo, đều đồng ư là con dân trong một nước chỉ treo cờ quốc gia. Sự treo cơ,
ảnh phía trong th́ tùy nghi. . . .
Lúc trước có khi v́ muốn tránh treo cờ đỏ sao vàng Việt Minh hay cờ tam tài của
Pháp, th́ có những tôn giáo treo cờ hiệu ǵ khác.
Nước nhà đă độc lập, nên chỉ treo cờ quốc gia. Các nhà tư cũng vậy. (CĐ số 9195,
ngày 6/5/1963, VPTT gửi Đô trưởng Sài G̣n, Tỉnh trưởng, Thị trưởng, các Đại biểu
CP; PTT/1CH, HS 8501)
Thực ra, lệnh này đă có hiệu lực từ ngày 12/5/1958 (NĐ 189/BNV/NA/P5), nhưng
không tôn giáo nào thi hành.
Theo TGM Thục, ngày 6/5, Thục nhận được Công điện này, nhưng không cho là quan
trọng, v́ không đụng chạm đến tôn giáo. Trong Chỉ thị cho giáo dân, Thục viết:
Trong đạo ta chỉ có một biểu hiệu là thánh giá mà thôi. Anh em đừng nghĩ rằng cờ
Ṭa Thánh Vatican là cờ có tính cách quốc tế nên được phép treo các nơi. Cái cờ
bấy lâu gọi là cờ Ṭa Thánh chỉ là cờ nước Vatican, không phải là cờ của đạo ta.
. . . [H]ễ có lễ trong đạo th́ ngoài đường, trong nhà anh em, trong khu ngoài
nhà thờ chỉ treo cờ quốc gia mà thôi, ai không tuân th́ xin các cha bổn sở phải
tịch thâu các thứ cờ khác ngoài cờ quốc gia. Không phải ta là công giáo mà ta vô
tổ quốc. Ta hân hạnh có đạo, bởi v́ ta hiểu biết đạo rơ ràng lại v́ ta hành đạo
triệt để, không phải một tấm vải vài đồng bạc mà thay được tín ngưỡng đâu.
(PTT/1CH, HS 8507)
*
Honolulu: McNamara họp Hội nghị Quốc pḥng thứ 7.
McNamara cho lệnh thảo kế hoạch rút 1,000 cố vấn vào cuối năm.
Trueheart cho biết liên hệ Mỹ-Việt căng thẳng. Có 3 lư do: Báo cáo Mansfield,
t́nh h́nh ở Lào, và the touchiness of the GVN regarding US advisors (both
military and civilian) whenever advisory efforts touch upon the political field.
(McNamara 1995:49; FRUS, 1961-1963, III:269 [Tài liệu 107])
Thứ Ba, 7/5/1963 [14 tháng 4 Quí Măo]:
*
Huế, 11G15: Tỉnh trưởng Thừa-thiên kiêm Thị trưởng Huế, Nguyễn Văn Đẳng, hướng
dẫn phái đoàn Phật Giáo gặp Ngô Đ́nh Cẩn.
Theo Đẳng, sáng ngày 7/5, đại diện Tăng già và Ban tổ chức Phật Đản xin gặp Đẳng
về lệnh cấm treo cờ. Họ cũng yêu cầu Đẳng nhờ Cố vấn chỉ đạo miền Trung Ngô Đ́nh
Cẩn (1911-1964) can thiệp. Khoảng 11G15 sáng ngày 7/5, Cẩn tiếp phái đoàn Phật
Giáo, với sự hiện diện của Bộ trưởng Nội vụ Bùi Văn Lương. Cẩn, theo Đẳng, đồng
ư cho treo cờ tại chùa và các lễ đài, nhưng Tỉnh phải sai Cảnh sát đến các tư
gia giải thích cho dân chúng thi hành lệnh của Tổng thống, nhà nào thông cảm th́
tốt, nhà nào thắc mắc cự nự th́ cũng bỏ lơ, đừng gây sự. (Phúc tŕnh của Ṭa
Hành chánh Thừa Thiên về lễ Phật Đản tại Huế, Thừa-thiên gửi Bộ Nội Vụ, ngày
20/5/1963; PTT/1CH, HS 8529)
Theo báo cáo số 249-VP/M, đề ngày 10/5/1963, lúc 12 giờ trưa ngày 7/5/1963, Đẳng
gọi Trưởng ty Cảnh sát Huế tới tư dinh Cẩn, cho lệnh sử dụng Mật vụ để áp lực
dân chúng hạ cờ. Ibid. [KLTTƯ 2, TNTP.167]; Lê Cung, 2003:136.
Theo một nguồn tin khác, Đẳng báo cáo với Cẩn chỉ thị của Diệm vào sáng ngày
7/5/1963, và Cẩn bảo đừng can thiệp v́ có giao t́nh với Tổng Hội Phật Giáo Việt
Nam. [Nguyễn Ngu Í, "Đại học Huế tranh đấu chống chế độ cũ qua hai giờ nói
chuyện với Giáo sư Lê Tuyên;" Bách Khoa, số 171 (15/2/1964), tr. 37-47, và số
172 (1/3/1964), tr. 27-42] [Sẽ dẫn: Nguyễn Ngu Í 1964a và Nguyễn Ngu Í 1964b]
Cũng có tin bài vị cha mẹ Ngô Đ́nh Khả c̣n đặt tại chùa Diệu Đế. Ngô Đ́nh Dinh,
cha Khả, theo đạo thờ cúng tổ tiên. Khả (1856-1914)û, cha Diệm, là người đầu
tiên theo đạo Ki-tô, và hành nghề thông ngôn trong thời gian Pháp đánh chiếm Bắc
và Trung Việt. Chức vụ cuối cùng của Khả |