WWW CHUYỂN LUÂN

 

Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm Mậu Tư-2008 Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

Trang chủ || Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
 

Góp nhặt cát đá

 

Tác giả

  Video clips
  Online số cũ từ 2003
  Các số báo trước 2003
   

 

Nối Kết:

      

   
  Tác phẩm chọn lọc
  Thầy Nhất Hạnh
   

CHUYỂN LUÂN SỐ THÁNG 07/2005

Einstein, Russell, và Bom: Kỉ niệm 50 năm

 

Lawrence S. Wittner (*)

 

Ngày 7 tháng 9 năm 2005 đánh dấu 50 năm ngày ra đời của một trong những tuyên ngôn quan trọng nhất về mối đe dọa của vũ khí hạt nhân đối với sự sống c̣n của con người.  Tuyên ngôn này thường được gọi là “Bản tuyên ngôn Russell-Einstein”, bởi v́ nó được nhà toán học và cũng là triết gia Bertrand Russell và nhà vật lí học Albert Einstein soạn thảo.

 

Sau khi thành phố Hiroshima và Nagasaki bị hai quả bom nguyên tử san bằng vào tháng 8 năm 1945, Russell và Einstein cảnh báo thế giới về những tai họa khủng khiếp của vũ khí hạt nhân.  Nhưng mặc cho cảnh báo của giới khoa học, trong thập niên sau đó khi thế giới ch́m vào thời Chiến tranh lạnh, những cạnh tranh sản xuất vũ khí hạt nhân càng trở nên quyết liệt, với sự đối đầu căng thẳng giữa Xô-viết và Mĩ, mà cả hai phe đều có sẵn bom hydrogen, một loại vũ khí mà sức tàn phá của nó c̣n cao gấp ngàn lần sức tàn phà của hai quả bom bỏ xuống hai thành phố Nhật.  Hai siêu cường trong cuộc Chiến tranh lạnh chẳng ngần ngại đưa chúng vào kế hoạch chiến tranh.  Tổng thống Eisenhower tuyên bố công khai rằng vũ khí hạt nhân nên được s dụng y chang như là một viên đạn hay như bất c một vũ khí nào khác.

 

Russell và Einstein rất quan tâm đến mối hiểm họa này.  Ngày 11/2/1955, Russell phát biểu rằng "Những nhà khoa học lỗi lạc nhất định phải làm một cái ǵ đó rất ấn tượng để cho công chúng và chính phủ biết được mối hiểm họa có thể xảy ra trong tương lai”.  Ông cho rằng cần phải "nhấn mạnh . . . chiến tranh cũng rất có thể là một sự hủy diệt cuộc sống trên hành tinh” và do đó, trong thời đại nguyên tử, các quốc gia phải học cách cùng nhau tồn tại trong ḥa b́nh.  Trả lời phát biểu của Russell trước báo chí, Einstein cho biết ông đồng ư với mỗi câu chữ trong lá thư của Russell.  Einstein nhấn mạnh ư kiến của Russell và thêm rằng cần phải làm một cái ǵ đó để “gây ấn tượng trong công chúng cũng như các nhà lănh đạo chính trị”.  Sau đó, Russell thảo một tuyên bố và cho lưu hành trong một nhóm khoa học gia lỗi lạc với hi vọng họ sẽ kí tên vào bản tuyên bố.

 

Nhưng Russell chưa lượng hết sự khó khăn trong việc làm này.  Vào thời Chiến tranh lạnh, việc kêu gọi giới khoa học và trí thức bỏ qua những khác biệt chính kiến để tập trung vào lợi ích chung cho cộng đồng thế giới không phải là một điều dễ làm chút nào.  Thật vậy, các nhà khoa học trong khối Liên Xô và Trung Quốc từ chối kí tên vào bản tuyên bố.  Sau đó, Einstein lâm bệnh và mất ngày 13/4/1955.

 

Nhưng một trong những việc làm cuối đời của Einstein là trước khi qua đời, ông gửi một lá thư đến Russell nói rằng ông đồng ư kí tên vào bản tuyên bố.  Và, cuối cùng th́ Russell cũng thuyết phục được 9 nhà khoa học khác từ Mĩ (Percy Bridgman, Hermann Muller, và Linus Pauling), Anh (Cecil Powell và Joseph Rotblat), Nhật (Hideki Yukawa), Pháp (Frédéric Joliot-Curie), Đức (Max Born) và Ba Lan (Leopold Infeld) kí vào bản tuyên bố.

 

Ngày 9/7/1955, diễn thuyết trước một cuộc mít-tinh lớn tại London gồm các đại biểu trong giới truyền thông báo chí, Russell công bố cái mà ngày nay được gọi là Tuyên ngôn Russell-Einstein.  Trong đó có đoạn: "Ngày hôm nay chúng tôi lên tiếng không phải nhân danh thành viên của quốc gia này hay quốc gia nọ, cũng không nhân danh bất cứ tín ngưỡng nào, mà là nhân danh con người . . . nhân danh sự tồn tại của con người đang bị đe dọa."  Trong phần nói về vũ khí hạt nhân bản tuyên bố viết, "Chúng ta phải học cách suy nghĩ mới.  Chúng ta phải học cách đặt câu hỏi vi chính ḿnh, không nên hỏi phương tiện nào để đem lại chiến thắng quân s, bởi v́ nhng phương tiện như thế không cần thiết nữa, mà phải hỏi biện pháp nào cần thiết để ngăn ngừa một cuộc chạy đua quân sự, một cuộc chạy đua nguy hiểm cho cả hai phe”.  Vấn đề mà thế giới phải đối đầu là "Chúng ta sẽ hủy diệt con người trên hành tinh này; hay là chúng ta từ bỏ chiến tranh?" và biện pháp đầu tiên trong quá tŕnh từ bỏ chiến tranh là "từ bỏ vũ khí hạt nhân."  Bản tuyên bố kết luận: "Chúng tôi nhân danh mốiu quan hệ giữa con người vi con người kêu gọi: Hăy nh lấy ḷng nhân đạo của ḿnh, và quên tất cả mọi th khác."

 

Trước những câu tuyên bố đanh thép và không nhân nhượng này là những phản ứng cực ḱ tích cực mà giới khoa học cũng kinh ngạc.  Lúc đầu giới truyền thông c̣n nghi ngờ, nhưng sau đó th́ họ khen ngợi bản tuyên bố, nhất là trước cái tin Einstein ủng hộ bản tuyên bố khi c̣n trên giường bệnh.  Giới trí thức và khoa học khắp thế giới bắt đầu hành động.  Trong số này có nhà vật lí học Andrei Sakharov, người khởi đầu một cuộc vận động lịch sử nhằm ngăn chận cuộc chạy đua vũ khí trong thời Chiến tranh lạnh.  Thế giới tổ chức những phong trào “Ban-the-Bomb” (Tẩy chay bom) để kêu gọi ngưng ngay cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân.

 

Các nhà khoa học kí vào bản Tuyên ngôn Russell-Einstein đóng những vai tṛ quan trọng trong việc vận động quần chúng.  Max Born huy tụ một nhóm gồm 52 nhà khoa học từng chiếm giải Nobel kí vào Tuyên bố Mainau, kêu gọi các quốc gia "chấm dứt chính sách dùng vũ lực" hay là phải đương đầu với hậu quả không lường.  Cùng với Rotblat, Russell c̣n thành lậo phong trào Pugwash, huy tụ các nhà khoa học thuộc hai phe trong Chiến tranh lạnh để thảo luận cách kiểm soát và kiềm chế cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân trên thế giới.  Rotblat và Pugwash tiếp tục vận động cho Hiệp ước cấm vũ khí hạt nhân (Partial Test Ban Treaty) và với việc làm này, Rotblat được Hoàng hậu Anh phong danh hiệu Hiệp sĩ.  Cả hai c̣n được thưởng giải Nobel Peace Ḥa b́nh.  Russell sau này trở thành chủ tịch đầu tiên của tổ chức giải trừ vũ khí hạt nhân (Campaign for Nuclear Disarmament).  Muller th́ cảnh báo về những tác hại của vũ khí hạt nhân đến cấu trúc di truyền trong con người.  Pauling vận động các nhà khoa học Mĩ và thế giới chống lại việc thử nghiệm vũ khí hạt nhân, và v́ thế Pauling trở thành một cái gai trong chính phủ của Eisenhower, cho dù ông sau này cũng được giải thưởng Nobel.

 

Bản Tuyên ngôn Russell-Einstein c̣n ảnh hưởng đến các nhà hoạch định chính sách.  Trước phong trào chống đối vũ khí hạt nhân, Eisenhower miễn cưỡng đồng ư trên nguyên tắc về một hiệp định hạn chế vũ khí hạt nhân vào năm 1958.  Sau đó, khi phong trào phản kháng lên cao, Tổng thống Kennedy cũng đồng ư trên nguyên tắc về hạn chế thử nghiệm vũ khí, và đề cử Norman Cousins, một nhà khoa học trong nhóm chống vũ khí hạt nhân, làm sứ giả đặc biệt của tổng thống sang bàn thảo vấn đề với Chủ tịch Khrushchev.

 

Nhưng cũng có khí ảnh hưởng của phong trào c̣n tích cực và trực tiếp hơn nữa.  Chẳng hạn như Mikhail Gorbachev, trong nhiều phát biểu của ông, rơ ràng ấp ủ khái niệm "new thinking" (suy nghĩ mới) từ bản Tuyên ngôn Russell-Einstein.  Ông nói với Tổng thống Francois Mitterrand: "Thời đại hạt nhân đ̣i hỏi một cách suy nghĩ mới từ mọi người."  Trong tập sách Perestroika, Gorbachev viết: "Tất cả chúng ta phải học hỏi sống trong ḥa b́nh trong thế giới này, để đi đến một lối suy nghĩ mi," và "cái nền tảng của lối suy nghĩ mới là nhận thc rằng các giá trị con người là ưu tiên hàng đầu cho s tồn tại của con người."  Gorbachev chọn Eduard Shevardnadze làm bộ trưởng ngoại giao và nói thêm "Bản Tuyên ngôn Russell-Einstein giúp cho giới chính trị gia cái ch́a khóa để giải quyết những vấn đề nan giải nhất trong thời đại chúng ta."  Theo Georgi Arbatov, một cố vấn cao cấp về đối ngoại của Gorbachev, nhiều ư tưởng về Đổi mới của Gorbachev thực ra "xuất phát . . . từ phía ngoài Liên Xô," nhất là từ Einstein và Russell.

 

Ngày nay, 50 năm sau ngày bản Tuyên ngôn Russell-Einstein ra đời, chúng ta không cần phải là một nhà khoa học lỗi lạc hay một nhà triết học lừng danh để nhận thấy rằng trong thế giới đang chồng chất với vũ khí hạt nhân và các vũ khí hủy diệt hàng loạt khác, việc dùng biện pháp chiến tranh để giải quyết xung đột xuyên quốc gia là một biện pháp nguy hiểm nhất cho sự sống c̣n của con người.  Chúng ta cũng dễ dàng thấy rằng một thế giới chỉ trở nên an toàn hơn khi nào thế giới đó không c̣n vũ khí hạt nhân.  Ấy thế mà giới lănh đạo chính trị của các quốc gia được gọi là “văn minh”, “tiến bộ” – kể cả Mĩ – tiếp tục đề ra kế hoạch để sản xuất thêm bom đạn hạt nhân và lao đầu vào những cuộc chiến mơ hồ, làm như là quân lính của họ được trang bị bằng gậy gộc thay v́ bằng những vũ khí giết người và tàn phá kinh tởm nhất mà lịch sử chiến tranh chưa từng biết đến.  Đây là một trong những thảm nạn của thời đại chúng ta, mặc dù tất cả những tiến bộ khoa học, kĩ thuật và văn hóa trong vài thế kỉ qua, vẫn c̣n nhiều quốc gia đang bị thống trị bởi những người tin vào những giá trị ban sơ và c̣n hạn chế về thông minh.

 

(*) Lawrence S. Wittner là giáo sư về sử học tại New York State University tại New York, Albany. Cuốn sách mới ấn hành của ông là Toward Nuclear Abolition: A History of the World Nuclear Disarmament Movement, 1971 to the Present (Nhà xuất bản Stanford University Press).  Người dịch: Nguyễn Văn.  

Bài trong tháng

Anh t́m theo Ngọ
Cánh hoa trong vũng lầy Iraq
Daniel Ellsberg
Dịch cúm gà_hoang mang và sự thật
Einstein Russel và bom
Không bao giờ lẻ loi
Thần học kinh tế
Đại học đẳng cấp quốc tế
Địch quân đă đến thành rồi

 

 

   

Copyright Chuyển Luân 2005

Designed by HT MEDSOFT

CHUYỂN LUÂN ONLINE