|
Hài ḥa
Tâm
Đàn
Vạn vật luôn luôn sống
động theo những ḥa điệu nhịp nhàng. Heraclitus, nhà triết học cổ Hy Lạp, cho
rằng tính năng động tuần hoàn của những cặp siêu lực
đối nghịch là nguyên nhân của sự sống động của
vũ trụ.
Triết học Đông phương cũng có niềm
tin tương tự. Triết học Trung Hoa cho rằng vạn vật luôn luôn biến hóa năng động
nhịp nhàng giữa hai thái cực âm dương. Triết học
Phật giáo th́ có đạo trung dung biểu hiện qua Bát Chánh Đạo.
Khái niệm về một vũ trụ hài ḥa và
sống động cũng được biểu hiện trong những triết học cận đại. Saint-Simon nh́n
những lịch sử văn minh nhân loại như những xen kẻ giữa những thời kỳ “hữu cơ” và
những thời kỳ “khủng hoảng”. Herbert Spencer nh́n vũ trụ như đang biến đổi theo
những thời kỳ thăng trầm hợp tan. Hegel thấy lịch sử nhân loại phát triển theo
h́nh xoắn ốc từ hợp nhất đến phân hóa rồi trở lại hợp nhất ở một mức độ cao hơn.
Toynbee thấy được những thăng trầm tuần hoàn của các nền văn minh nhân loại.
Sorokin thấy được sự thăng trầm tuần hoàn của những nền triết học duy vật và duy
linh.
Đạo, theo triết học Trung Hoa, là
quá tŕnh biến đổi liên tục của vũ trụ, trong đó vạn vật biến đổi hài ḥa trật
tự giữa hai thái cực âm dương. Khi dương thịnh, sự biến hóa sẽ có khuynh hướng
về âm. Tương tự, khi âm thịnh, sự biến hóa sẽ có khuynh hướng về dương. Âm dương
điều ḥa chính là Đạo. Những thái cực âm và dương không phải là hai thái cực
riêng rẻ độc lập. Trái lại, chúng là hai giới hạn của một thể thống nhất. Quá
tŕnh biến đổi của mỗi hiện tượng hay sự vật là những dao động không ngừng giữa
hai thái cực đó. Quá tŕnh của một hiện tượng hay sự vật kể cả chúng ta , dù nam
giới hay nữ giới, đều có cả âm tính lẫn dương
tính. Dịu dàng, trực cảm, tổng hợp, hợp tác, bảo tồn là những âm tính. Hung hăng,
thuần lư, phân tích, cạnh tranh, khai thác là những dương tính. Âm tính và dương
tính liên hệ mật thiết với hai loại tâm thức tương ứng trong mỗi chúng ta. Chúng
bổ sung lẫn nhau, phản ảnh những tầm nh́n, lời nói, hành động của chúng ta.
Xă hội đương thời của chúng ta
dường như đang ở vào thời kỳ dương thịnh, một xă hội dựa trên phát triển khoa
học kỹ thuật để cạnh tranh khai thác tài nguyên thiên nhiên, làm ô nhiễm và gây
hại môi trường sống. Phương pháp phân tích dường như vẫn được tận dụng so với
phương pháp tổng hợp. Điều này làm xă hội mất đi sự hài ḥa âm dương, do đó tŕ
trệ sự phát triển trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, y học, kinh tế, chính trị,
quân sự, v.v.
Sự nhấn mạnh vào triết học
Descartes phân chia ranh giới giữa tri thức và vật chất đă dẫn đến quan điểm
trong đó vũ trụ được xem như một hệ thống cơ khí với những vật thể được xem như
những bộ phận riêng rẻ. “Cái tôi” của mỗi người được dựng nên như để tượng trưng
cho phần hồn của ḿnh với đầy đủ đầu óc phán đoán suy luận. Phần xác được xem
như thứ yếu. Dần dần con người quên đi cái bản chất thực sự của suy tư là, không
những xuất phát từ toàn bộ con người chúng ta mà c̣n từ môi trường chung quanh
chúng ta nữa. Từ đó, chúng ta xem cơ thể chúng ta như những chiếc máy cơ khí, và
xem thiên nhiên quanh chúng ta như độc lập với chúng ta, cần được chế ngự và
khai thác triệt để.
Chúng ta tin rằng tính chất cục bộ
có thể hoàn toàn xác định tính chất của toàn bộ. Do đó, chúng ta xem nhẹ mối
tương quan mật thiết giữa những cơ cấu xă hội như giáo dục, văn hóa, y tế, kinh
tế, chính trị, quân sự. Chúng ta xem trọng phẩm lượng và xem nhẹ phẩm chất.
Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học cũng tương tự, các nhà nghiên cứu dường như
xem những ngành chuyên môn khác không dính dáng ǵ đến ngành ḿnh đang nghiên
cứu. Môn h́nh học vị tướng chẳng hạn, trước đây được xem như một sản phẩm thuần
túy của trí tuệ, độc lập với các ngành nghiên cứu khoa học. Bây giờ họ đă thấy
tầm quan trọng của h́nh học vị tướng được áp dụng hữu hiệu trong nhiều ngành
khoa học.
Thời xưa, thiên nhiên và nhất là
địa cầu được xem như một người mẹ hiền ḥa nuôi dưỡng chăm sóc sự sống trên địa
cầu. Cổ Hy Lạp có nữ thần Gaia tượng trưng cho mẹ địa cầu. Vào thời cận đại,
dương thịnh âm suy, thiên nhiên và mẹ địa cầu bị thống trị. Nam giới chiếm ưu
thế. Capra cho rằng quan điểm này được Do Thái giáo và Ky Tô giáo ủng hộ, và do
đó Thượng Đế được nhân cách hóa thành một nam giới, thống trị thiên nhiên bằng
những định luật nhiệm mầu với những suy lư và quyền lực tối cao. Những định luật
khoa học tự nhiên được xem như phản ảnh của những định luật nhiệm mầu đó của
Thượng Đế. Ngày nay, thời dương thịnh đó dường như đă đạt đến mức tối đa và đă
bắt đầu suy thoái. Nhiều người không c̣n tin rằng Thượng Đế là một nam giới đầy
phép nhiệm mầu nữa. Kaku cho rằng sở dĩ khoa học và tôn giáo khó thông cảm nhau
bởi v́ khoa học tin vào một “thượng đế của trật tự” trong lúc tôn giáo tin vào
một “thượng đế của phép lạ”.
Dường như văn minh nhân loại đă
chuyển ḿnh hướng về sự điều ḥa âm dương. Đă đến lúc phân tích cần được phối
hợp với tổng hợp, cạnh tranh phối hợp với hợp tác, thuần lư phối hợp với trực
cảm, khoa học phối hợp với tôn giáo, nam tính phối hợp với nữ tính, văn hóa phối
hợp với sinh hóa, v.v.
Trong quyển The Turning Point,
Capra nhận định rằng trong suốt 50 ngàn năm qua loài người không có biến đổi
sinh hóa, cấu trúc di truyền và năo bộ không thay đổi. Trong lúc đó nền văn hóa
dường như trở nên suy đồi, môi trường sinh thái trở nên tồi tệ. Trong lúc khoa
học kỹ thuật phát triển vượt bực, văn hóa đạo đức xuống dốc nhanh chóng. Trong
lúc chúng ta có thể thám hiểm không gian đổ bộ mặt trăng, chúng ta không thể
kiểm soát được sự ô nhiễm trên địa cầu. Trong lúc chúng ta có thể sản xuất dồi
dào những mỹ phẩm và những thực phẩm cho các loài vật chúng ta yêu quí, chúng ta
không thể xây dựng tốt những hệ thống y tế, giáo dục, lưu thông. Chỉ một số nhỏ
các nước văn minh là giàu có trong lúc đa số những quốc gia khác đều chậm tiến
và nghèo khó. Ngay trong những quốc gia giàu có, tài sản chỉ thập trung vào một
thiểu số tài phiệt. Đa số tài sản quốc gia đều bị tư hữu hóa. Nền kinh tế quốc
gia do đó bị một thiểu số tài phiệt thao túng. Lao động của giới công nhân bị
bóc lột. Đa số việc làm của công nhân chỉ bán thời gian tạm bợ, và có thể bị
thải hồi gần như bất cứ lúc nào.
Dược liệu tuy dồi dào và hữu hiệu
nhưng không thiếu những phản ứng phụ tai hại. Bệnh tật vẫn tiếp tục hoành hành,
nhất là tại những nước nghèo khó. Giới tài phiệt nghĩ rằng lợi nhuận kinh doanh
có thể tăng măi không có giới hạn nên họ tha hồ khai thác thiên nhiên, quên rằng
tài nguyên thiên nhiên chỉ có hạn. Quân sự th́ khỏi nói. Thi đua vũ trang có lẽ
không bao giờ dứt. Sự sống c̣n của nhân loại cũng như môi trường sinh thái dường
như ngàn cân treo sợi tóc. Trong cuộc chiến tranh lạnh của mấy thập niên trước,
các cường quốc chế tạo không biết bao nhiêu vũ khí hạt nhân, vũ khí hóa học.
Tiếp đến bây giờ là chiến tranh khủng bố. Mong rằng các vũ khí hạt nhân và những
chất độc hóa học sẽ không bị thất thoát. Nếu không, số tử vong sẽ có thể lên đến
hàng triệu.
Những hiện tượng trên đây cho thấy
sự dương thịnh của văn minh nhân loại đă đạt đến cực điểm, và do đó sẽ phải biến
đổi theo chiều hướng khả quan hơn. Con người đă bắt đầu bảo vệ môi trường sống,
đă bắt đầu biết vun xới những giá trị tinh thần văn hóa đạo đức xă hội. Các nhà
khoa học đă thấy tầm quan trọng của phương pháp tổng hợp. Lư thuyết hệ thống
(systems theory) đă ra đời. Lư thuyết hệ thống cũng tương tự triết học Đông
phương, xem những hiện tượng biến đổi của một hệ thống luôn luôn sinh động, liên
đới quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Mỗi hệ thống là một thể thống nhất, và tính chất
của hệ thống không thể thu gọn thành tính chất của mỗi bộ phận của hệ thống. Ví
dụ: Muối do sodium và chloride hợp thành. Muối có chất mặn trong lúc sodium và
chloride không có. Tương tự, trong một hệ thống khí cô lập, sự luôn luôn gia
tăng entropy của hệ thống cho ta một ư niệm về chiều hướng của thời gian, trong
lúc mỗi phân tử khí của hệ thống không thể cho chúng ta ư niệm đó.
Theo lư thuyết hệ thống, cơ thể của
mỗi sinh vật đều có những cấu trúc đa tầng. Mỗi tầng bao gồm những tiểu hệ thống,
và mỗi tiểu hệ thống vừa có chức năng như một hệ thống đối với những thành phần
của tiểu hệ thống đó, vừa có chức năng như một thành phần của một hệ thống lớn
hơn. Ví dụ: Những phân tử trong một tế bào hợp thành những cấu trúc gọi là
organelles, và những organelles này hợp thành tế bào. Những tế bào hợp thành
những mô và những cơ quan, rồi những mô và cơ quan hợp thành những hệ thống lớn
hơn như thần kinh hệ, hệ thống hô hấp, hệ thống tiêu hóa, hệ thống bài tiết,
v.v. Những hệ này hợp thành những con người, rồi thành những gia đ́nh, những xă
hội, những quốc gia, v.v. V́ những thành phần của một hệ thống cũng là những hệ
thống nên hai khái niệm này, thành phần và hệ thống, không mang một ư nghĩa phân
biệt tuyệt đối. Tất cả đều có tầm quan trọng như nhau.
Mỗi hệ thống đều có hai khuynh
hướng đối nghịch nhau, tương tự như âm tính và dương tính của triết học Trung
Hoa vậy. Một là khuynh hướng hợp tác, có tác năng xem hệ thống như một thành
phần của một hệ thống lớn hơn. Khuynh hướng thứ hai là khuynh hướng tự quyết, có
tác năng xem hệ thống như là một đơn vị tự trị. Hai khuynh hướng này đối nghịch
nhau, nhưng bổ sung lẫn nhau. Một hệ thống (ví dụ một cá nhân, một xă hội hay
một hệ sinh thái) là tốt, là hoàn chỉnh nếu hai khuynh hướng hợp tác và tự quyết
của hệ thống biến đổi và bổ sung nhau một cách hài ḥa. Một hệ thống hoàn chỉnh
như vậy là một hệ thống được ở vào một trạng thái cân bằng động. Khuynh hướng
hợp tác biểu lộ âm tính trong lúc khuynh hướng tự quyết biểu lộ dương tính. Mỗi
hệ thống đều có cả hai khuynh hướng này. Một hệ thống sẽ trở nên tồi tệ khi sự
hài ḥa giữa hai khuynh hướng đó biến mất.
Khi khuynh hướng tự quyết trở nên
hưng thịnh quá mức như trong nhiều xă hội tây phương ngày nay, khuynh hướng đó
sẽ thoái hóa, nhường bước cho khuynh hướng hợp tác. Chúng ta đă chứng kiến sự
đổi thay đó qua những phong trào cải cách trong những thập niên 1960 và 1970 về
triết học, văn hóa, chính trị, quyền phụ nữ, bảo vệ các loài động vật và môi
trường sinh thái, đời sống tâm linh, v.v. Sự hỗ trợ lẫn nhau của những phong
trào này đă tạo nên sức ép lớn cho các nhà cầm quyền bảo thủ và những giới tài
phiệt tham lam chỉ biết lợi ích riêng tư. Sự cải cách không thể tránh khỏi, chỉ
là vấn đề thời gian.
Thời gian chuyển tiếp của sự cải
cách thường bị tŕ trệ bởi v́ những nền móng cũ tuy đă lỗi thời, nhưng đă ăn sâu
vào tiềm thức con người, làm tŕ trệ sự tiếp thu những tư tưởng mới, cho dù
những tư tưởng mới đó đă được khoa học thực nghiệm kiểm chứng. Hăy xem cuộc cách
mạng về các định luật chuyển động. Theo Aristotle, mọi vật thể đều có một vị trí
tự nhiên trong vũ trụ. Khi một vật thể ở vào vị trí tự nhiên đó, vật thể sẽ đứng
yên tại đó trừ phi có ngoại lực tác động vào nó. Định luật này của Aristotle đă
ăn sâu vào tiềm thức con người và đă trở thành “trực giác thông thường”. Mọi sự
vật cuối cùng sẽ nhận được phán quyết tối hậu, và sẽ đến nơi an nghỉ cuối cùng,
nơi đó sẽ không c̣n ngoại lực nào tác động lên nữa. Định luật Aristotle đă rơ
ràng như bàn tay năm ngón, không thể sai được! Trực giác thông thường đó đă ngự
trị loài người cho đến thế kỷ 17 khi Newton khám phá ra rằng khi không có ngoại
lực tác động, một vật thể hoặc đứng yên hoặc có chuyển động thẳng đều.
Trước thời Galileo, Kepler và
Newton, những tư tưởng của Aristotle được xem như tuyệt đối. Vào thời Trung Cổ
khi khoa học vẫn dựa trên định luật chuyển động của Aristotle, người ta tin rằng
địa đàng và thiên đàng có những cấu tạo vật chất khác nhau. Có lẽ vàng bạc châu
báu ở địa đàng cũng không thể sánh bằng đất sét ở thiên đàng. Niềm tin đó vẫn
không bị lung lay mặc dù, cũng trong khoảng thời gian đó, đă có nhiều thực
nghiệm khoa học cho thấy rằng dường như cấu trúc vật chất giữa địa đàng và thiên
đàng chẳng có ǵ khác nhau. Tuy nhiều nhà khoa học thời bấy giờ vẫn nghi ngờ sự
khác biệt giữa địa đàng và thiên đàng nhưng không ai dám công khai phát biểu sự
nghi ngờ đó. Cho đến thời Newton, khi ông nghiên cứu về sức hút trọng lực. Quả
táo rơi v́ sức hút trọng lực giữa quả táo và trái đất. Newton cho rằng sức hút
trọng lực giữa bất cứ hai vật thể nào, dù ở đia đàng hay thiên đàng, đều theo
cùng một nguyên tắc như sức hút trọng lực giữa trái táo và địa cầu vậy. Định
luật sức hút vũ trụ của Newton đă giải thích được nhiều hiện tượng trong thái
dương hệ. Điều này chứng minh rằng địa đàng và thiên đàng có những cấu trúc vật
chất như nhau. Nếu những nhà khoa học trước thời Newton mạnh dạn công bố giả
thuyết này, không chừng định luật sức hút vũ trụ đă có thể ra đời sớm hơn, và do
đó thời gian chuyển tiếp giữa tư tưởng cũ và mới có thể thu ngắn lại.
Định luật chuyển động của Newton
được phát biểu bằng phương tŕnh vi phân. Nếu biết vị trí và vận tốc ban
đầu của một vật thể và nếu biết lực tác động trên vật thể, lời giải của những
phương tŕnh vi phân đó là quỹ đạo của vật thể, hoàn toàn được xác định. Trong
thế kỷ 19, lư thuyết Hamilton-Jacobi ra đời. Lư thuyết này cũng dùng để mô tả
chuyển động của vật thể, nhưng phương pháp hoàn toàn khác hẳn phương pháp
Newton. Newton mô tả chuyển động như là chuyển động của những hạt vật
chất dưới tác động của ngoại lực, dùng phương tŕnh vi phân để mô tả chuyển động
như những bước nối tiếp nhau một cách liên tục từ bước này đến bước kia. Lư
thuyết Hamilton-Jacobi trái lại, bắt đầu với khái niệm sóng trong đó mọi
chuyển động đều vuông góc với mặt sóng, dùng một tích phân gọi là Lagrangian,
phụ thuộc vào toàn bộ quỹ đạo trong khoảng thời gian chuyển động. Nguyên lư
chuyển động phát biểu rằng chuyển động của vật thể là chuyển động có khuynh
hướng làm cực tiểu Lagrangian. Một ví dụ về chuyển động theo lư thuyết Hamilton-Jacobi:
Chuyển động của một mảnh gỗ do sóng trên mặt nước được xác định bởi những sóng
nước thay v́ những ngoại lực tác động trên mảnh gỗ.
Tuy lư thuyết Newton và Hamilton-Jacobi
hoàn toàn khác nhau nhưng toán học có thể chứng rằng hai lư thuyết cùng đưa đến
một kết quả như nhau. Các nhà khoa học chỉ xem hai lư thuyết này như hai thuật
toán khác nhau để mô tả chuyển động. Tuy nhiên David Bohm cho rằng ngoài những
thuật toán khác nhau ra, hai lư thuyết trên đây cho chúng ta thấy hai bản chất
của vật thể: sóng và hạt. Thật ra Hamilton đă phát hiện sự tương đương
giữa sóng và hạt bằng cách xem xét một tia sáng. Tia sáng hợp thành bởi những
sóng và đồng thời có quỹ đạo giống quỹ đạo của một hạt. Hăy quan sát một nhóm
sóng gồm những sóng với những độ dài sóng gần bằng nhau. Nhóm sóng chỉ có cường
độ tác động trong một vùng không gian nhỏ bé. Ngoài vùng đó cường độ của nhóm
sóng triệt tiêu. Như vậy nhóm sóng có thể được xem như một hạt. Khi dùng phương
tŕnh Hamilton-Jacobi để tính vận tốc của hạt (tức nhóm sóng nói trên) người ta
phát hiện rằng năng lượng của hạt tỉ lệ với tần số của hạt (hệ thức Einstein) và
moment động của hạt tỉ lệ nghịch với độ dài sóng của hạt (hệ thức de Broglie).
Như vậy lư thuyết Hamilton-Jacobi vốn đă bao hàm các hệ thức Einstein và de
Broglie là những hệ thức cơ bản của lư thuyết nguyên lượng của thế kỷ 20. Hơn
nữa với một sửa đổi chút đỉnh, phương tŕnh Hamilton-Jacobi có thể dẫn đến
phương tŕnh Schrodinger là phương tŕnh cơ bản của lư thuyết nguyên lượng.
Tóm lại khoa học của thế kỷ 19 vốn
đă có đủ công cụ để khám phá bản chất sóng và hạt của vật chất cũng như lư
thuyết nguyên lượng của thế kỷ 20. Có thể nói đây cũng là một tŕ trệ của thời
gian chuyển tiếp, thời gian tiễn cựu nghênh tân.
Phát triển trong một lĩnh vực
nghiên cứu thường ảnh hưởng đến những lĩnh vực nghiên cứu khác. Khi một khái
niệm mới ra đời, phù hợp với thực nghiệm, th́ những khái niệm cũ sẽ trở nên lỗi
thời và không c̣n thích hợp nữa. Tuy nhiên v́ những khái niệm cũ đă ăn sâu vào
tiềm thức, người ta vẫn cố gắng t́m cách dùng những khái niệm cũ đó để giải
thích những hiện tượng mới. Và kết quả thường là sai lầm và tŕ trệ. Chẳng hạn
trước khi các lư thuyết tương đối của Einstein ra đời, những khái niệm về sự
tuyệt đối của không gian và thời gian vẫn ngự trị trong các ngành vật lư học
suốt nhiều thế kỷ. Ngay cả Lorentz, nhà vật lư học nổi danh, vẫn dùng những khái
niệm đó để cố gắng giải thích sự độc lập của tốc độ ánh sáng đối với những quan
sát viên có chuyển động khác nhau.
Theo khái niệm về chuyển động tương
đối của Newton, tốc độ ánh sáng phải tùy thuộc vào chuyển động của người đo. Nếu
người đo đang di chuyển hướng về nguồn sáng chẳng hạn th́ tốc độ ánh sáng đo
được sẽ lớn hơn so với trường hợp người đo có chuyển động xa dần nguồn sáng. Tuy
nhiên thực nghiệm chứng minh rằng tốc độ ánh sáng độc lập với chuyển động của
người đo. V́ dựa trên những khái niệm không gian và thời gian tuyệt đối của
Newton, Lorentz phải xây dựng khái niệm về chất ether để giải thích rằng sở dĩ
độ đo tốc độ ánh sáng phụ thuộc vào chuyển động của người đo chỉ v́ người đo có
chuyển động đối với chất ether đó. Tốc độ ánh sáng đối với chất ether là một
hằng số.
V́ muốn duy tŕ những khái niệm
tuyệt đối của không gian và thời gian, cái gọi là chất ether phải ra đời. Nhiều
thí nghiệm đă được thực hiện để thăm ḍ chất ether. Nhưng tất cả đều thất bại.
Măi đến thời Einstein các nhà vật lư học mới từ từ đồng ư với Einstein rằng thật
ra một chất ether như thế hoàn toàn không cần thiết.
Nói chung, có rất nhiều nguyên nhân
để thời gian chuyển tiếp bị tŕ trệ. Tuy nhiên cuối cùng, sự thay đổi không thể
tránh khỏi, chỉ là vấn đề thời gian. Nếu thời gian chuyển tiếp được rút ngắn, sự
hài ḥa xă hội sẽ đến sớm hơn, và thời gian nhân loại được hưởng phước sẽ dài
hơn.
*****
Hơn 250 năm kể từ thế kỷ 17, ngành
vật lư học là một khoa học chính xác. Các nhà vật lư học đă dựa trên quan điểm
của một vũ trụ cơ khí để xây dựng ngành vật lư mà ngày nay chúng ta gọi là vật
lư cổ điển. Vật lư cổ điển dựa trên những ư niệm cơ bản của lư thuyết toán học
Newton, triết học Descartes và những phương pháp khoa học do Bacon chủ xướng.
Thế giới vật chất được xem như những vật thể riêng biệt được ráp lại thành một
chiếc máy khổng lồ. Do đó người ta tin rằng mọi hiện tượng trong vũ trụ, dù phức
tạp đến đâu, cũng có thể giải thích được bằng cách xem xét những cấu trúc cơ bản
đă tạo nên hiện tượng đó và những cơ cấu tác động giữa những cấu trúc cơ bản đó.
Phương pháp này, được gọi là phương pháp thu hẹp, đă được xem là phương pháp
khoa học hữu hiệu nhất. Tất cả những lĩnh vực nghiên cứu khác, kể cả tâm lư học,
xă hội học, kinh tế học, đều cố gắng tạo lập những mô h́nh dựa trên nền tảng vật
lư cổ điển để có thể được xem là những ngành khoa học.
Tuy nhiên bước nhảy vọt của ngành
vật lư trong thế kỷ 20 với những lư thuyết tương đối và lư thuyết nguyên lượng
đă cho thấy sự hạn hẹp của quan điểm về một vũ trụ cơ khí của Newton. Các nhà
khoa học không c̣n xem vũ trụ như một bộ máy cơ khí gồm những bộ phận riêng rẻ
nữa. Vũ trụ bây giờ được xem như một tổng thể hài ḥa không thể phân chia. Vũ
trụ là một mạng lưới gồm những quan hệ năng động, kể cả tri thức con người. Trực
cảm và trí tuệ con người, cũng giống như những thái cực âm dương của triết học
Đông phương hoặc những khuynh hướng hợp tác và tự quyết của lư thuyết hệ thống,
là hai giới hạn của một thể thống nhất. Trực cảm phối hợp hài ḥa với trí tuệ,
phương pháp tổng hợp phối hợp hài ḥa với phương pháp phân tích, phương pháp
nguyên thể phối hợp hài ḥa với phương pháp thu hẹp, chúng ta hy vọng thời gian
chuyển tiếp giữa cũ và mới có thể thu ngắn lại.
Tất cả những khái niệm cũng như lư
thuyết dùng để mô tả thiên nhiên thật ra chỉ có giới hạn, không thể dùng để mô
tả bản chất của sự vật một cách chính xác được. Chúng chỉ là những tiệm cận với
bản chất của sự vật. Đây là một giới hạn không thể tránh khỏi. Tuy nhiên các nhà
khoa học có niềm tin rằng những lư thuyết khoa học sẽ phát triển càng ngày càng
gần gũi với thiên nhiên hơn. Ngành vật lư đă đi một bước tiên phong quan trọng.
Các lĩnh vực nghiên cứu khác chắc chắn sẽ có những bước biến đổi tương tự.
Tâm Đàn
|
|