|
Dịch
cúm gà, dịch cúm thông tin,
và
tư tưởng hoang mang
Nguyễn Văn
Một bản tin nhỏ trên Tuổi Trẻ cho biết qua thử
nghiệm trên khoảng 2000 con vịt ở tỉnh Hậu Giang, giới thú y ước tính có đến 71%
vịt mang họ vi rút H5 [1]. Kí giả Tuổi Trẻ cẩn thận viết thêm rằng mang
họ vi rút H5 không có nghĩa là vịt bị nhiễm virut H5N1, một chủng vi rút được
phát hiện ở Hồng Kông từ năm 1997, hiện đang hoành hành gia cầm ở các nước Đông
Nam Á gần đây. Viết như thế là chính xác, bởi v́ H5 có rất nhiều “chi” vi rút
khác nhau, và phần lớn các chi vi rút không gây tác hại.
Thông tấn xă Xinhua của Trung Quốc dịch lại từ Tuổi Trẻ
cũng nói đến con số 71%, nhưng không nói đến cái chi tiết quan trọng H5 không có
nghĩa là H5N1. Đến một tờ báo tiếng Việt nổi tiếng chống Việt Nam ở Nam
California th́ con số 71% được đưa thành tựa đề “Miền Tây Việt Nam cúm gia cầm
H5: 71% vịt, 21.4% gà lây bệnh” và người viết bản tin cho biết rằng con số 80%
là trích dẫn từ ... Xinhua! [3] Điều khá khôi hài với bài báo này là cho
dù tựa đề 71% nhưng nội dung bài báo th́ con số được nâng lên đến 80%: “[…]
trong số 2,000 mẫu xét nghiệm từ các đàn vịt trong thành phố có tới 80% có kết
quả dương tính đối với vi rút H5”!
Rồi như một cơn cúm dịch thông tin, lây từ báo này sang
báo nọ, đến một tờ báo ở Sydney, th́ con số 80% H5 thành “80% gia cầm nhiễm
H5N1”, và c̣n cẩn thận ghi thêm rằng đó là “một tỉ lệ khiến người ta giật
ḿnh”.
Giật ḿnh thật!
Có lẽ v́ quá giật ḿnh nên có một vài bác sĩ người Việt ở
Mĩ khuyến cáo đồng hương khi về Việt Nam đừng ăn thịt gà, thịt vịt, v́ theo họ
cái nạn dịch này nguy hiểm lắm, có nguy cơ lan sang con người.
Một ông giáo sư người Anh cảnh cáo thế giới rằng sẽ có
hàng triệu người chết v́ một cơn đại nạn dịch cúm gà, dù ông không đưa ra một
bằng chứng khoa học nào! Thực ra ông giáo sư này chỉ lặp lại luận điểm của
Ralph Nader ở Mĩ mà thôi. Vài tuần trước khi cuộc tranh cử giữa Tổng thống
George W. Bush và John Kerry chính thức bắt đầu, Nader gừi một lá thư cho hai
ứng cử viên cảnh báo rằng một con quái vật sẽ đến nước Mĩ (“The monster at the
door”). Con “quái vật” đó, theo Nader, là nạn dịch cúm gà H5N1. Nader c̣n ước
tính rằng khoảng 40 triệu đến 400 triệu người Mĩ sẽ bị dịch cúm gà, và có thể
70% sẽ tử vong v́ cơn dịch! (Dân số Mĩ chưa đến con số 300 triệu.)
Nhiều người Việt tị nạn ở các nước Tây phương, từng sống
cả hai ba mươi năm trong môi trường xă hội Việt Nam, nhưng khi trở lại quê hương
th́ hành xử như những người sợ hăi. Họ sợ đến nỗi không dám dùng những thức ăn
bán trong các quán cơm b́nh dân, không dám uống một chai bia sản xuất ở Việt
Nam, thậm chí không dám dùng cơm gia đ́nh với cha mẹ! Họ không dám ăn thịt gà,
v́ sợ bị “cúm gà” (dù trong thực tế con số trường hợp cúm gà ở Việt Nam là quá
nhỏ). Họ nh́n Việt Nam như là một đất nước bẩn thỉu, tội lỗi, lạc hậu, dă man,
và có thái độ như những ông Tây thuộc địa của khoảng một thế kỉ về trước.
Thấy ǵ từ những bản tin chẳng những giật gân, thiếu chính
xác, mà c̣n mang tính xuyên tạc này? Thấy ǵ từ những lời khuyến cáo của một
vài vị thầy thuốc có thể nói là “lơ tơ mơ” trên đây? Tôi cho rằng những bản tin
giật gân và xuyên tạc đó được viết ra với một ác ư là nhằm gây tổn hại đến nền
kinh tế Việt Nam, và ác ư này được hun đúc bằng một tâm lí ngạo mạn, và được
nuôi dưỡng trong một môi trường văn hóa sợ hăi của Tây phương.
Trong quá khứ thế giới đă kinh qua ba nạn dịch lớn: đó là
nạn dịch Tây Ban Nha (c̣n gọi là Spanish flu) vào năm 1918; nạn dịch Á
châu (Asian flu hay Singapore flu) vào năm 1957; và gần đây nhất là nạn dịch
Hồng Kông (Hong Kong flu) vào năm 1968. Thủ phạm chính của nạn dịch Tây Ban Nha
là vi rút H1N1. C̣n nạn dịch Á châu vào năm 1957 và 1968 là do vi rút H2N2 gây
ra. Kinh nghiệm khoa học từ các nạn dịch này là dịch chỉ xảy ra một khi vi rút
có khả năng đột biến, vượt rào cản từ chủng gây bệnh ở động vật sang thành chủng
lây bệnh ở người và có khả năng lây nhiễm từ người này sang ngựi khác, nói tóm
lại là một sự đột biến tạo thành một chủng vi rút mới mà đường lan truyền phải
là trực tiếp từ người sang ngựi. Và, H5N1 có thể là một chi vi rút mới tuy
nhiên khả năng gây bệnh và lan truyền bệnh giữa người với nhau lại là một câu
chuyện khác.
Vi khuẩn hay vi sinh vật khi đă xuất hiện trong hệ sinh
thái hẳn sẽ là những người bạn đồng hành trong cuộc sống của con người. Có một
số chủng có thể tiêu diệt được bằng cách này hay cách khác, nhưng đa phần th́
không có cách nào tiêu diệt những người bạn không mời này, chỉ có vài cách khống
chế chúng mà thôi; ngay cả đối với những chủng chúng ta có thể tiêu diệt được
th́ chúng ta có thể vô t́nh đă tạo ra một sự bất cân bằng sinh thái, một chủng
nào đó mới vốn dĩ đang bị ức chế th́ sẽ có cơ hội hiện diện. Trong thời gian bị
khống chế, các vi sinh vật này, cũng như con người, phải t́m cách tiến hóa để
tồn tại, và một khi cơ hội đến tay, chúng có thể gây tác hại cho con người.
Chúng không phân biệt nạn nhân là gà hay vịt hay bất cứ một vật chủ đích hay vật
chủ trung gian nào, miễn rằng đó là môi trường thuận lợi. Chúng cũng không cần
biết nạn nhân là người Á châu hay người Âu Mĩ. Nhưng một thực tế hiển nhiên là
các quốc gia Âu Mĩ có khả năng khống chế và đă khống chế các vi sinh vật này
trong một thời gian dài bằng nhiều biện pháp như thuốc men, sống cách li với gia
cầm, nên tỉ lệ các bệnh truyền nhiễm thấp hơn tại các các nước đang phát triển Á
châu như Việt Nam ta, nơi mà người và gia cầm vẫn c̣n sống gần nhau như hàng
ngàn năm qua.
Thành ra, có thể nói sự trồi sụt của các bệnh
truyền nhiễm có một mối tương quan mật thiết với quá tŕnh hiện đại hóa, với
phát triển kinh tế, và có khi với cả văn hóa sinh sống. Có người cho rằng sự
phát sinh (hay khống chế) bệnh truyền nhiễm trở thành một “chỉ tiêu” đo lường
tŕnh độ hiện đại hóa của một quốc gia, một dân tộc. V́ thế, thổi phồng câu
chuyện các nước Đông Nam Á đang bị dịch cúm gà hay cúm vịt cũng là một cách nói
các nước này, dù đang phát triển nhanh chóng, vẫn c̣n sống trong thời “bán văn
minh” cả trăm năm trước mà các nước Âu Mĩ từng kinh qua.
Những hốt hoảng trước cái gọi là “dịch cúm gà”
là một bộ phận trong cái truyền thống mà tôi tạm mượn danh từ của Stanley Cohen
để diễn tả: đó là moral panic, mà tôi tạm dịch là “tư tưởng hoang mang”.
Tư tưởng hoang mang là ư tưởng có tính xu thời, do một nhóm nhỏ
trong xă hội dấy lên, và nội dung của nó là nhắm vào một hành vi nguy hiểm và
sai lầm nào đó, rồi từ đó đi t́m thủ phạm, t́m những kẻ “lầm đường lạc lối” để
chứng minh rằng ḿnh có đạo đức hơn, văn hóa hơn. Những kẻ sử dụng chiến thuật
tư tưởng hoang mang thích lạm dụng truyền thông để gây ra t́nh trạng hoang mang
lo lắng trong cộng đồng. Tư tưởng hoang mang này luôn tồn tại như một chu ḱ
lặp dưới những h́nh thức khác nhau nhưng chỉ có một đặc tính là gây hoang mang.
Một khi tư tưởng hoang mang này được dập tắc th́ một ư tưởng hoang mang khác
lại được dựng lên. Điều này giải thích tại sao sau nạn “dịch SARS” lại đến
“dịch cúm gà”, và cả hai sự kiện, hoang mang là một đặc điểm chính. Chúng ta có
thể đoán trước rằng nhiều tư tưởng hoang mang như thế sẽ c̣n được dựng lên trong
tương lai.
Ư niệm về bệnh tật, nhất là vụ cúm gia cầm hay truyền
nhiễm, thành ra bị chính trị hóa và đạo đức hóa, bởi v́ nó đồng nghĩa với tội
lỗi. “Tại anh sống dơ bẩn mà tôi bị lây”. Và theo ư niệm này, bất cứ ai tự
đặt ḿnh vào một t́nh thế nguy hiểm, trước các lựa chọn khác, là một hành động
tội lỗi.
Nhưng vấn đề khác cần đề cập ở đây: đó là định nghĩa của
sự nguy hiểm. Khía cạnh nào trong cuộc sống là nguy hiểm, hay tội lỗi, và thành
phần nào trong xă hội đề ra những định nghĩa này? Cúm gà, bệnh SARS, bệnh
truyền nhiễm, v.v… là những bệnh của các nước nghèo khó, của những người thiểu
số, bị xă hội cách li, và những “kẻ lầm đường lạc lối.” Ngược lại, những kẻ đặt
vấn đề hiểm nguy trong xă hội thường là giới làm khoa học trong các nước Âu Mĩ,
những người thuộc giai cấp trung lưu, lái xe ô-tô, uống rượu ngon, ăn uống đồ ăn
đắt tiền, và đi du lịch qua nhiều nước bằng máy bay. Họ là thành phần đặc lợi,
thống trị thế giới. Khi những kẻ thống trị xă hội chủ trương chủ nghĩa an toàn
dóng tiếng nói, họ muốn thay đổi người khác hơn là thay đổi cho chính họ. Trong
trường hợp này, họ trở thành những nhà đạo đức t́m cách bêu xấu những thành phần
thiếu may mắn của thế giới.
Bởi v́ các nước Âu Mĩ ở vào vị trí đặc quyền, đặc lợi, nên
họ muốn sử dụng vị trí này để tối đa hóa cuộc sống và lợi ích của họ. Do đó,
chúng ta không ngạc nhiên khi thấy các chính phủ Âu Mĩ hành xử với các nước đang
phát triển như những kẻ cả và thậm chí trịch thượng. Họ rất chuộng dùng chiêu
bài bảo vệ môi trường để phản đối, trừng phạt các nước đang cố vươn lên khỏi
t́nh trạng nghèo khó. Họ dựa vào Nguyên lí Pḥng ngừa, và nhân danh bảo vệ sức
khỏe con người, để làm áp lực lên Liên hiệp quốc phải tẩy chay việc dùng hoá
chất DDT trong các nước đang phát triển. Nhưng một nghịch lí nực cười khác là
chính họ, chính những đất nước này mới là nơi đầu tiên sản xuất ra DDT, từng
dùng DDT, từng nghiên cứu và quảng bá về DDT, cho đến khi họ đạt được mục tiêu (pḥng
bệnh) của ḿnh rồi th́ bắt đầu kiếm lợi nhuận ở các nước đang phát triển; một
món tiền hời trong cung cấp sản phẩm, rồi chuyển giao công nghệ. Khi công nghệ
đă chuyển giao xong, ho quay lại chỉ trích là công nghệ đó lỗi thời, sản phẩm là
độc hại là hiểm nguy. Mới hay rằng “miệng người sang, có gang có thép”! Họ nhân
danh hiểm nguy thế giới để đ̣i tiêu hủy đàn gà, đàn vịt (vốn là một nguồn kinh
tế quan trọng của các nước Đông Nam Á). Nhưng mặt khác, họ xây dựng nhà máy sản
xuất thuốc lá, và bán những dược phẩm đă được chứng minh là nguy hiểm cho các
nước nghèo khó thuốc thế giới đang phát triển.
Chưa ai biết cái gọi là “dịch cúm gà” (hay cúm vịt) đe dọa
như thế nào, và t́nh trạng bất định của khoa học có lẽ là nguồn gốc của những
câu chuyện giật gân, hoang tưởng được giới báo chí khai thác tối đa. Một nhà
dịch tễ học có kinh nghiệm lâu năm trong các nạn dịch cúm thuộc Đại học Harvard
cho rằng tiên đoán qui mô một nạn dịch cũng giống y như là dự đoán thời tiết vậy:
không ai biết trước nạn dịch sẽ bùng phát hay được khống chế như thế nào; không
ai biết được có bao nhiêu người bị ảnh hưởng. Nhưng chúng ta biết rằng tạo ra
sự hỗn loạn thường đem đến hậu quả nghiêm trọng. Năm 1976 một người lính Mĩ
chết v́ một vi khuẩn bị t́nh nghi là giống với vi khuẩn gây ra nạn dịch Tây Ban
Nha năm 1918, và thế là người ta kéo nhau đi chích chủng ngừa. Nhưng hóa ra
trường hợp đó chẳng dính dáng ǵ đến nạn dịch cả, và hậu quả của chủng ngừa là
hơn 1000 người bị hội chứng Guillain Barré (hội chứng liệt bán phần tuỷ do tai
biến của vaccine gây ra) với gần 50 người chết!
Nỗi ám ảnh với những cái rủi ro nhỏ nhất như dịch cúm gà
đă dần dà tích lũy thành một mối đe dọa cho xă hội nói chung. Giới truyền thông
và giới trí thức, nhất là những người xuất hiện dưới danh nghĩa khoa học (hay
ngụy khoa học) đóng một vai tṛ không nhỏ trong việc sản xuất ra nỗi ám ảnh
trong người dân. Đă đến lúc chúng ta phải dùng lí trí, bởi v́ mọi phán xét theo
cảm tính đều có xác suất sai rất cao. Một phương pháp an toàn nhất là dựa vào
cảm nhận khoa học, cân nhắc xem thông tin được tŕnh bày có khoa học tính hay
không (giả định, phương pháp, nguồn gốc, sự thích hợp, khả năng thử nghiệm …),
tác giả chúng có phải là người hiểu vấn đề hay không, v.v.. Một khi những câu
hỏi này được đáp ứng thỏa đáng th́ chúng ta mới có thể h́nh thành một quan điểm
và hành động
Nhận thức về những rủi ro như dịch cúm gà là một điều cần
thiết. Nhưng nhận thức như thế là để chúng ta biết những điều không nên hành
động, chứ không phải để hốt hoảng. Vi khuẩn và bệnh tật đă, đang và sẽ tồn tại
cùng chúng ta trong cuộc sống; chúng ta không có cách nào loại trừ chúng hoàn
toàn. Vấn đề không phải là t́m cách loại trừ chúng (v́ không thể làm được),
nhưng phải học cách sống với chúng một cách sáng suốt. Có khi chúng ta phải
chấp nhận một mức độ nguy hiểm của cuộc sống đa chiều. Mức độ nguy hiểm có thể
chấp nhận được tùy thuộc vào nhận thức của từng cá nhân, và trong trường hợp này,
lí trí là một phương tiện không thể thiếu được trong cuộc sống mới.
Chúng ta có thể chống đỡ với vài người có niềm tin rằng
quả đất này phẳng ĺ, và họ cũng đem lại cho đời sống vài câu chuyện mua vui,
nhưng chúng ta cũng không nên mất niềm tin vào thế giới khoa học.
Chú
thích:
[1] Bản tin trên tờ Tuổi
Trẻ số ra ngày
13/4/2005 tại:
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=74299&ChannelID=3.
[2] Bản
tin trên Thông tấn xă Xinhua ngày tại 13/4/2005
(cùng ngày với báo Tuổi Trẻ):
http://news.xinhuanet.com/english/2005-04/13/content_2823060.htm.
[3]
Bản tin trên Việt Báo số ra ngày 15/4/2005.
[4]
Báo Dân Việt số ra ngày 16/4/2005.
|
|