|
SỰ THỰC SỬ HỌC:
MỘT CON ĐƯỜNG NGẮN NHẤT DẪN TỚI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
VŨ NGỰ CHIÊU
I. DẪN NHẬP:
Nhiều hơn một người bạn ngoại quốc từng hỏi tôi: “Tại sao
đă gần 30 năm qua, người Việt vẫn chưa thề ḥa giải, đoàn kết dân tộc, hầu hiện
đại hóa xứ sở, xây dựng một nước Việt Nam ḥa b́nh, thịnh vượng, đủ sức chung
vai thích cánh với thế giới?”
Gần ba mươi năm nghiên cứu sử học, chín năm vào ngành luật
học, tôi vẫn chưa t́m được câu trả lời. Chuyến du khảo Việt Nam từ tháng 11/2004
tới nay giúp tôi thêm can đảm để mạo muội trao đổi cùng quí vị những suy nghĩ đă
âm thầm triển khai trong tâm tư nhiều thập niên qua.
Theo sự suy nghĩ nông cạn của tôi, có hai cách để thể hiện
sự đoàn kết dân tộc một cách tinh thành. Hai con đường này cần thể hiện tương
ứng với nhau: Đó là truy t́m và phổ biến sự thực sử học hầu tạo mối cảm thông
giữa mỗi và mọi cá nhân, phe nhóm, giai tầng xă hội về thân phận dân tộc Việt
trong cuộc cờ thế giới, nhu cầu hiện đại hóa cho sự sinh tồn của chính mỗi cá
nhân cũng như dân tộc; và, việc thiết lập một nền dân chủ, pháp trị hiến định có
khả năng chịu đựng thử thách nghiệt ngă của thời gian.
Tôi sẽ đề cập đến việc thiết lập một nền dân chủ, pháp trị
hiến định trong một dịp khác. Hôm nay chỉ xin phô bày sự hiểu biết thô thiển của
ḿnh về việc truy t́m và phổ biến sự thực sử học hầu tạo mối cảm thông giữa mỗi
và mọi cá nhân, phe nhóm, giai tầng xă hội về thân phận dân tộc Việt.
II. TỔNG QUAN: SỰ THỰC SỬ HỌC LÀ G̀?
Từ ngàn năm trước, Đông qua Tây, hầu như ai ai cũng ca
ngợi sựï thực [thật].
Nhưng sự thực nào?
A. SỰ THỰC SỬ HỌC [HISTORICAL TRUTH] KHÁC BIỆT VỚI CẢM
NHẬN LỊCH SỬ [PERCEPTION OF HISTORY]:
Cần phân biệt hai thứ “sự thực”: Cảm Nhận Lịch Sử
[Perception of History] và Sự thực Sử Học [Historical Truth].
Cảm Nhận Lịch Sử là thứ kiến thức đầy chủ quan, cục bộ,
dựa theo kinh nghiệm và cảm tính cá nhân về những biến cố và tác nhân lịch sử.
Sự thực Sử Học, trái lại, là kiến thức khoa học, gần với
sự thực nhất, phát hiện qua một chu tŕnh nghiên cứu tư liệu, phân tích và so
sánh với những phương pháp khoa học và dưới sự hướng dẫn của sự lương thiện tri
thức.
B. CÔNG DỤNG CỦA STSH:
1. Tạo bằng chứng, cơ sở cho những cuộc đối thoại, trao
đổi ư kiến và quan niệm một cách ngay thẳng, nhưng ḥa nhă, tương kính.
2. Giảm thiểu việc xúc phạm danh dự cá nhân hay phe nhóm,
giai tầng xă hội, sắc tộc [qua những cuộc trao đổi lời nhục mạ giữa các phe phái
đối nghịch, kẻ thắng và người bại].
3. Giúp người cùng trong một nước hiểu rơ hơn về nhau, và
từ đó t́m cách ḥa giải, đoàn kết.
Trường hợp Việt Nam:
1. Vượt qua những rào cản ngộ nhận, nh́n ngắm và đánh giá
tha nhân với sự hiểu biết và độ lượng.
2. Ít nhất tạo cơ hội cho sự tương thông về
- vị trí đích thực của mỗi phe nhóm, giai tầng xă hội
[strata], và
- vị thế của VN trên bàn cờ thế giới.
3. Ít nhất t́m được sự đồng thuận về nhu cầu hiện đại hoá
đất nước và nâng cao vị trí của VN trên bàn cờ thế giới, và
4. Dự đoán được những trở ngại.
II. PHƯƠNG PHÁP T̀M SỰ THỰC SỬ HỌC:
A. HUẤN LUYỆN CHUYÊN NGHIỆP:
Sử học không c̣n là một việc nghiệp dư, “truyền cho hậu
thế.” Nó trở thành một bộ môn nghiên cứu và giảng dạy khoa học.
1. Triết Lư Sử Học:
Sử học là một khoa học nhân văn, không chỉ thuần ghi chép
các dữ kiện mà c̣n hy vọng giải thích các dữ kiện một cách khoa học. Bởi thế,
tại các nước tân tiến, sử học đi xa dần khỏi khuynh hướng biên niên và phê phán
đúng, sai theo một cơ sở đạo đức hay học thuyết chính trị nào đó.
2. Phương Pháp Sưu Tầm & Phân Tích Tài Liệu:
Hiện nay, phương pháp sưu tầm tài liệu được mọi người
khuyến khích là Đa văn khố [multi-archival]. Sử gia và các nhà nguyên cứu chuyên
nghiệp thường làm việc tại nhiều văn khố khác nhau, sưu tầm những tài liệu
nguyên bản tại văn khố của nhiều quốc gia có liên hệ đến một biến cố lịch sử.
Nói về giai đoạn Pháp chiếm đóng Việt Nam, chẳng hạn, người ta không thể chỉ
dùng văn khố Pháp, mà c̣n phải nghiên cứu thêm các văn khố Việt Nam, Trung Hoa,
Nhật Bản và Nga Sô. Ngoài ra, c̣n có thể nghiên cứu thêm các văn khố Bố Đào Nha,
Tây Ban Nha, Bri-tên, Hollands [Hoà Lan], Thái Lan, Pondichéry, v.. v.... Thêm
vào đó, cần nghiên cứu thêm các văn khố Hội truyền giáo hải ngoại Pháp, cùng văn
khố các công ty hàng hải và thương mại buôn bán với Đại Việt và Đông Dương thuộc
Pháp [L'Indochine francaise].
Phương pháp sử dụng các tài liệu văn khố là tỉ đối
[comparative studies], tức so sánh các tài liệu văn khố khác nhau của mỗi nước,
và giữa các nước. Ngoài ra, c̣n phải so sánh các tài liệu văn khố với các tài
liệu thành văn, cũng như truyền khẩu sử.
3. Lương Tâm Chức Nghiệp:
Lương tâm chức nghiệp đ̣i hỏi các nhà nghiên cứu chuyên
nghiệp phải có hai điều kiện đạo đức tối thiểu: Đó là khách quan tối đa, và sự
lương thiện trí thức.
Hăy lấy một thí dụ đơn giản. Trước khi khởi đầu việc
nghiên cứu, các sử gia thường có những “giả thuyết làm việc” [working
hypotheses]. Sau khi sưu tầm tài liệu, nếu những dữ kiện t́m ra không đủ bảo vệ
giả thuyết này, sử gia phải có đủ sự lương thiện trí thức để gạt bỏ hay sửa lại
giả thuyết trên; không thể tảng lờ những dữ kiện chứng minh ngược lại giả thuyết
của ḿnh.
Hoặc, nếu chưa được đọc tài liệu nguyên bản, chỉ thấy một
tác giả khác trích dẫn, phải ghi rơ ràng là trích dẫn từ tác giả nào, không nên
tán bừa, tán ẩu [như Sophie Quinn-Judge và bản Thỉnh Nguyện năm 1919 của nhóm
Người Việt Yêu Nước trên báo L'Humanité chẳng hạn; hay Thế Nguyên với chi tiết
Phan Châu Trinh bị nhốt chung với Nguyễn Ái Quốc tức Nguyễn Ô Pháp tại ... “ngục
Santé” (sic)].
Khi viết về một tác nhân lịch sử, sử gia cũng không thể
tảng lờ những dữ kiện đi ngược lại với ư muốn “cung văn” hay “đào mộ” của ḿnh.
Một tác nhân lịch sử cận đại, Hồ Chí Minh, là trường hợp tiêu biểu nhất. Trong
khối sử văn hiện hữu, có hai trường phái rơ rệt: Một, ngợi ca không tiếc lời;
một, ngược lại, luôn ra công bài bác. Nhưng đáng buồn là cả hai phe cung văn và
đào mộ đều thiếu lương tâm chức nghiệp. Họ chỉ viết ra những nửa sự thực, đủ để
bảo vệ luận cứ và tư tâm của ḿnh; dấu biến hoặc bào chữa bằng mọi cách nửa sử
thực c̣n lại.
B. TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM:
Đi t́m sự thực sử học ở Việt Nam đầy gian nan. Một trong
những vấn nạn hàng đầu là tư liệu hay thiếu tư liệu.
1. Tài liệu văn khố tại Việt Nam:
a. Quan trọng nhất là Kho Lưu Trữ Đảng CSVN tại Hà Nội,
nhưng hiện nay chưa mở ra cho các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp. Một số chuyên
gia Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của ông Phan Diễn, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng
CSVN, mới hoàn tất bộ Văn Kiện Đảng Toàn Tập, đă xuất bản được 37 tập
(1925-1976). Tuy nhiên, bộ sách đồ sộ này c̣n nhiều khiếm khuyết về chi tiết [như
việc Hồ Chí Minh giải tán Đảng CSĐD ngày 5/11/1945 mà không phải 11/11/1945, v..
v...]
b. Kho Lưu Trữ Bộ Ngoại Giao, Quốc Pḥng, TANDTC, VKSNDTC,
v.. v...: Hiện nay, rất ít học giả đă được làm việc trên các kho tài liệu này.
c. Hiện nay chỉ có 3 Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia [tức văn
khố, khác với “thư viện” như nhiều người hoang tưởng] mà các nhà nghiên cứu được
phép tham khảo:
(1). Tại Hà Nội, có hai Trung tâm LTQG 1 & 3.
TTLTQG 1, tọa lạc tại số 31-B Tràng Thi [sát Thư Viện Quốc
Gia Hà Nội], lưu trữ tư liệu trước 1945. Chính yếu là các kho tài liệu [Fonds]
thời Bảo hộ Pháp.
Ngoài ra, có một số tư liệu từ 1945 tới 1954; nhưng chưa
mở cho người nghiên cứu.
Tại đây c̣n kho tài liệu nhà Nguyễn [đặc biệt là Châu bản
triều Nguyễn, có từ Minh Mạng tới Duy Tân] mang từ trong Nam ra, sau 1975.
Tại TTLTQG 3, số 34 Phan Kế Bính, đa số tư liệu từ 1945.
Các kho tài liệu quan trọng là Kho Chính Phủ, Quốc Hội, Bộ Tài Chính, v.. v...
(2). Thành phố HCM (Sài G̣n) có TTLTQG 2, tọa lạc tại số 2
TER Lê Duẩn (Thống Nhất cũ). Những kho tài liệu đáng giá nhất là GOUCOCH [Phủ
Thống sứ Nam Kỳ], Phủ Thủ Tướng VNCH (1954-1975), Phủ Tổng Thống Đệ I CH
(1955-1963), Phủ Tổng Thống Đệ II CH (1967-1975).
2. Tài liệu văn khố tại các cường quốc:
Pháp: Nguồn tư liệu chính cho giai đoạn trước năm 1954.
Mỹ: Nguồn tư liệu quan trọng cho giai đoạn trước năm 1954,
chính yếu cho giai đoạn sau 1954.
Trung Quốc: Nguồn tư liệu quan trọng cho giai đoạn trước
năm 1950, chính yếu cho giai đoạn sau 1950. Một số học giả đă khai thác các tư
liệu này, gây nên những tra vấn mới về chiến công của Vơ Nguyên Giáp từ 1950 tới
1954 mà những hồi kư của Vơ Nguyên Giáp năm 2001 chưa đủ sức minh giải.
Liên Xô: Nguồn tư liệu quan trọng cho giai đoạn trước năm
1950, chính yếu cho giai đoạn sau 1950. Một số tài liệu từ kho Comintern [Quốc
tế Cộng Sản] khiến người nghiên cứu nghiêm túc phải đặt lại vấn đề Hồ Chí Minh
với chủ thuyết Cộng Sản.
Nhật: Nguồn tư liệu quan trọng cho giai đoạn sau 1975.
Các nước khác: Bri-tên [Great Britain], Ôs-trá-lia
[Australia], Thái Lan, India [In-đi-a], Phi-líp-pin, Niu-Zí-Lân [New Zealand],
v.. v...
3. Những tư liệu khác: Báo chí, truyền khẩu sử
Báo chí: Một số học giả thế giới đă làm việc trên các tựa
báo xuất bản ở Đông Dương cùng các nước, nhưng vẫn chưa đủ.
Truyền khẩu sử: Rất nhiều tác nhân lịch sử Việt Nam đă
viết hồi kư, nhưng độ chính xác không cao.
4. Hạn chế và kiểm soát thông tin:
Từ thời Pháp thuộc cho tới nay, các chính phủ đương quyền
luôn luôn hạn chế và kiểm soát thông tin, tùy theo mục tiêu chính trị giai đoạn.
Điều này khiến những người dưới phố thả mặc trí tưởng và sự suy diễn của ḿnh
theo những cảm nhận lịch sử đủ màu sắc chính trị, tôn giáo, sắc dân và địa
phương.
IV. SỰ THỰC SỬ HỌC: MỘT CON ĐƯỜNG NGẮN NHẤT DẪN TỚI ĐOÀN
KẾT DÂN TỘC:
Hiện Trạng Nền Sử Học Ở Việt Nam: C̣n chưa phát triển đúng
mức. Phần đông chỉ là “cung văn” [hagiographies] nhằm vinh danh công trạng, và
“đào mộ” hay “cáo trạng” [indictments]. Những nhà nghiên cứu chuyên nghiệp c̣n
tương đối ít, và giới hạn trong lănh vực khoa bảng. Ngay chính những vị nghiên
cứu nghiêm túc, cũng v́ lư do này hay lư do khác, không thể công bố được các
khám phá của ḿnh.
(1) Một, thiếu tài liệu. Ít có cơ hội tham khảo tại các
văn khố Việt Nam cũng như hải ngoại.
(2) Hai, v́ lư do an ninh cá nhân:
- sợ đi ngược lại đường lối hay chỉ thị của giới cầm quyền:
“phục vụ mục tiêu chính trị giai đoạn.” Thí dụ: Liên hệ giữa Việt Nam và TQ
trước và sau năm 1991; v.. v....
- ngại đụng chạm đến những cá nhân quyền thế hay những phe
nhóm giáo điều, quá khích: trường hợp các tổ chức tôn giáo, đảng phái, gia đ́nh
danh gia, vọng tộc. Thí dụ: Vai tṛ của Alexandre de Rhodes trong việc khai sinh
chữ viết Việt Nam hiện nay; Vai tṛ của các thông ngôn cho đạo quân viễn chinh
Pháp như Petrus Key [Trương Vĩnh Kư], Nguyễn Trường Tộ, Ngô Đ́nh Khả, Nguyễn Hữu
Bài, v.. v....
(3) Ba, là hiện tượng trộm cắp công tŕnh tim óc của người
nghiên cứu: Có những kẻ xấu, phần đông ở ngoài giới nghiên cứu chuyên nghiệp,
luôn ŕnh ṃ, trộm cắp tư liệu của người khác để cầu danh, hay nhắm một mục tiêu
nào đó.
V. KẾT TỪ:
Cổ nhân có câu: Ôn cố nhi tri tân. Phải nghiên cứu và viết
lại lịch sử Việt từ thế kỷ XVIII (Lê-Trịnh/Tây Sơn/Nguyễn) trở lại đây.
1. Cần có những Ủy ban nghiên cứu về những giai đoạn và
chủ đề c̣n khiếm khuyết như:
- Sự thăng tiến của Thiên chúa giáo trong thế kỷ XVIII-XX,
- Sự du nhập và phát triển của chủ nghĩa Cộng Sản,
- Những biến đổi chính trị, văn hoá trong thế kỷ XX,
- Nguyên do và thực chất của cuộc chiến 30 năm
(1945-1975): Cuộc chiến đấu giành độc lập, thống nhất trong bối cảnh cuộc chiến
tranh lạnh Tư Bản-Cộng Sản (1947-1991)?
- Nguyên do và thực chất của chiến lược (kế sách?) Đổi Mới,
1985-2005,
- Ảnh hưởng của các thế lực quốc tế trên ḍng lịch sử cận
và hiện đại.
2. Cần thiết lập và tài trợ cho các toán nghiên cứu chuyên
môn; đào tạo các chuyên viên mới [Tiến sĩ sử học mới chỉ là bước cơ bản, khởi
đầu].
3. Mở rộng hội thảo, trao đổi trong tinh thần khoa học về
đường hướng Hiện đại hoá trong thế kỷ XXI, trên cơ sở những sự thực sử học mới
phát hiện.
4. Giảm thiểu t́nh trạng, hay chứng bệnh “cận thị lịch sử.”
Tư Liệu Đọc Thêm I
[Trích từ: “GÓP PHẦN NGHIÊN CỨU VỀ TRƯƠNG VĨNH KƯ
(1837-1898),”
trong Nguyên Vũ, Ngàn Năm Soi Mặt [Houston: Văn Hoá,
2002].
L.T.G.: Tôi vốn không chuyên biệt về khía cạnh chính trị
trong giai đoạn Pháp thuộc. Lại không định viết tiểu sử các tác nhân, ngoại trừ
tập Nhân Vật Chí [kư tên Chính Đạo] ghi chép vắn tắt dài theo hơn phần tư thế kỷ
nghiên cứu vừa qua [đă tái bản, có bổ sung năm 1997, và sẽ in lần thứ ba năm
2005]. Những tài liệu phát hiện về Hồ Chí Minh, Petrus Key [Trương Vĩnh Kư], Ngô
Đ́nh Diệm cũng như các tác nhân lịch sử cận và hiện đại thường rất t́nh cờ. Với
ước muốn dùng các thay đổi văn hóa và xă hội để giải thích chiến thắng của người
Cộng Sản năm 1975, ngoài những vấn đề ngoại giao, chính trị, kinh tế, không thể
không nghiên cứu thêm các tôn giáo và ư thức hệ tại Việt Nam trước năm 1945. Bởi
vậy, năm 1996, khi t́m đọc các tài liệu về Giám mục Dominico Lefèbvre, vô t́nh
bắt gặp lá thư thủ bút của Petrus Key vào cuối tháng 3/1859 để tự tiến thân với
các quan tướng Pháp. Khi đọc tư liệu của Trung tá Hải quân Henri Rieunier, cựu
chánh văn pḥng của Jean Bernard Jauréguiberry, cũng người cầm đầu phái bộ Pháp
của “Cochinchine” [Nam Kỳ] bên cạnh sứ đoàn Phan Thanh Giản năm 1863, mới xác
tín rằng Petrus Key, thông ngôn hạng nhất của Soái phủ Sài G̣n, là thông ngôn
của phái bộ Pháp, dưới quyền Gabriel Aubaret, mà không phải của sứ đoàn Việt như
thường huyễn truyền [thông ngôn của triều Nguyễn là hai người khác, kể cả một
linh mục Việt, Nguyễn Hoằng]. Khi đọc tư liệu văn khố Hội truyền giáo hải ngoại,
mới biết chính sách mua trẻ mồ côi để tăng số giáo dân và thày kẻ giảng [thí dụ
như Lettre commune năm 1858], và từ đó hiểu tại sao những Petrus Key và Ngô Đ́nh
Khả v.. v... bỗng dưng trở thành các “chú” của nhà Chúa Blời. Đọc tư liệu Joseph
Page và Jauréguiberry mới rơ nghị quyết của Ủy Ban Cochinchine năm 1857 yêu cầu
sử dụng “thày kẻ giảng và 600,000 giáo dân Ki-tô làm ṇng cốt” cho “tân trào”
bảo hộ Pháp. Đọc tài liệu trường Collège général de Pinang [Đại chủng viện
Pinang] mới rơ chương tŕnh huấn luyện các thày kẻ giảng bản xứ, và đại cương về
các chủng sinh [Nên không thể không đặt câu hỏi Petrus Key tốt nghiệp trường
Pinang chưa mà không được thụ phong linh mục hay thày kẻ giảng ở Pinang, đă phải
vội vă “cưỡi ngựa”, vượt sông vượt biển về Cái Nhum chờ đón những sứ giả “Moises
và Jacobs” mà “Thiên chúa” gửi sang “giải phóng” giáo dân Việt năm 1858? Phải
chăng v́ Lefèbvre [người ngày đêm trông đợi binh thuyền Pháp tới đ̣i vua Tự Đức
nợ máu] đă được thông báo về Nghị quyết 1857 của Ủy Ban Cochinchine, yêu cầu
thiết lập một tân trào với các thày kẻ giảng làm trụ cốt và sự trợ giúp của
600,000 giáo dân?].
Công bố những tài liệu mới phát hiện này hay không, chúng
vẫn nằm ở đó, thu thập bụi thời gian và chờ ngày bị mục nát, nếu chưa được những
người nghiên cứu khác t́m đọc. Nhưng tôi đă quyết định công bố tất cả các sử
liệu t́m được suốt hơn 20 năm qua, dưới sự hướng dẫn của ánh sáng lương tâm nghề
nghiệp. Sự thực nhiều khi khiến đau ḷng, nhưng hậu thế Việt Nam xứng đáng và có
quyền được hiểu biết những sự thực ấy. Họ có đọc chăng, suy nghĩ ǵ, đó là quyền
của họ. Gần trọn nửa đời bị bưng tai, bịt mắt tại Việt Nam, thấy xà cừ mà tưởng
lầm là bạc-nửa đời trăn trở dưới vực thẳm giữa những triền đá dựng đứng, dốc
ngược của sự ngu dốt sặc sỡ và lừa dối hào nhoáng-khiến tôi không-thể-không công
bố chúng. Thứ bóng tối kinh hoàng nhất là bóng tối của sự ngu dốt, khiến nhân
diện nhợt nhạt, trí tuệ hôn ám. Nỗi hổ nhục sâu cay nhất, nói theo Socratus
(470-399 TTL), là cứ tưởng ḿnh “biết rồi!” những điều ḿnh thực sự chẳng biết
ǵ cả. [Xem Nguyên Vũ, Paris: Xuân 1996, Houston: Văn Hóa, 1997; và, Vũ Ngự
Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn, 1883-1945, 3 tập, Houston: Văn Hóa, 1999-2000].
Đăơ hẳn tôi hiểu rất rơ rằng công bố các tư liệu văn khố
mới phát hiện không có nghĩa tất cả những người đương thời sẵn sàng chấp nhận sự
thực ấy. V́ như tôi đă nhắc đó đây, cảm nhận về lịch sử [a perception of
history] thường ảnh hưởng đám đông hơn chính sự thực lịch sử. Đó là nỗi buồn
riêng ḿnh ḿnh biết của người c̣n giữ được sự lương thiện trí thức. Hoặc, nói
theo những sách vở cổ thời Tây phương, đó là hớp độc dược mà Socratus phải nuốt
qua cuống họng v́ tội “làm ung hoại tuổi trẻ”, hay con thuyền chở chàng “nô lệ”
Plato (427-347 TTL); nhưng nhất định không thể là lời xin lỗi nghẹn ngào, ứa
nước mắt của Galliléo Galiéli (1564-1642) về việc phát hiện ra rằng trái đất
quay quanh mặt trời, mà không phải mặt trời quay quanh trái đất như Giáo Hội dạy
bảo, và đă trở thành một thứ “kinh điển đă thiết lập” [established literature].
Hoặc, nói theo ngôn ngữ hiện đại, là nỗi buồn đứt ruột của những nhà y học đă
t́m cách tái tạo [“nhân bản”] [cloning] được một bào thai sơ khai, nhưng đang
chịu đủ thứ búa ŕu dư luận [như bị kết án là kiêu ngạo, không tin ở Thượng đế,
thiếu đạo đức, không chấp nhận và thách thức thuyết sáng tạo của đạo Ki-tô]; có
thể bị luật pháp ngăn cấm. Nên chẳng có ǵ đáng ngạc nhiên khi nghe lời ong
tiếng ve về những tài liệu lịch sử mới phát hiện đó, như muốn “bêu xấu,” hay
“nói xấu,” làm giảm uy tín các “lănh tụ” dưới thời Pháp thuộc, hoặc chính những
người đang cai trị ở Việt Nam. Cũng chẳng ngạc nhiên khi thấy xuất hiện các “tác
phẩm” của bầy cuồng tín tôn giáo và ư thức hệ, nhắm hạ nhục và nguyền rủa, vu
cáo những người t́m sự thực [trong những tờ báo chợ hay rác thư (junk-mail) trên
các mạng (website)].
Người trí thức lương thiện, dĩ nhiên, luôn ấm như Xuân mà
lạnh như Thu trước lời lăng mạ, hay mưu mô chồn cáo của loài tinh tinh, và ngay
cả bạo lực. Hành tŕnh vào tri thức và chân lư phải trả giá rất đắt. H́nh ảnh
của Promotheus bị kền kền moi gan, móc mắt suốt 13 kiếp trên đỉnh núi Olympia v́
dám “đánh cắp lửa trời,” soi sáng cho trần gian, là cái giá phải trả ấy. Và, dĩ
nhiên, núi lên càng cao, càng lạnh. T́m hiểu và công bố những tội ác xâm phạm
nhân quyền của quốc dân Việt là điều không một người Việt nào có thể xao lăng;
bất kể cái giá phải trả!
Trong tập Các vua cuối nhà Nguyễn, tập I, kư tên thực Vũ
Ngự Chiêu, tôi đă tŕnh bày trường hợp Petrus Key khá đầy đủ. Dựa trên tài liệu
văn khố mà không phải những tác phẩm và nguồn tin đă xuất bản suốt hơn trăm năm
qua [thường chỉ sao chép lại những lỗi lầm của người đi trước, rồi thêm thắt chỗ
này, chỗ nọ, tự nhận của ḿnh], tôi nghĩ những ǵ viết về Petrus Key đă tạm đủ.
Petrus Key, trong ḍng lịch sử quốc dân, chỉ là một tác nhân bản xứ phụ thuộc [thày
kẻ giảng bỏ tu, làm thông ngôn và công tác văn hóa] trong chính sách xâm lăng và
cai trị Việt Nam của người Pháp (1858-1945, 1945-1955). Sự khác biệt giữa những
Petrus Key, Trần Bá Lộc, Lê Hoan, Ngô Đ́nh Khả, Nguyễn Hữu Bài, v.. v... chỉ là
vấn đề lượng hơn phẩm, về h́nh thức [pathos] hơn thực chất [ethos]. Những lời đả
kích, chụp mũ quàng xiên nhắm vào những người nghiên cứu sử nào đủ biến đen
thành trắng? Phấn son nào đủ tô hồng, chuốt lục cho những khuôn mặt không thể
chuốt lục, tô hồng? Dẫu vậy, người học sử nghiêm túc thường cố tránh phê b́nh,
đánh giá trong các nghiên cứu của ḿnh, chỉ nỗ lực tái dựng sự kiện lịch sử, một
cách trung thực tối đa, với những tài liệu có trong tay. Phán xét là của hậu thế.
Nên, tôi đă chỉ dùng một thuật ngữ phi-chính-trị để mô tả họ: Thành phần trung
gian bản xứ. Thuật ngữ này có thể dùng chung cho bất cứ một xă hội bị ngoại bang
đô hộ hay chiếm đóng nào, trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào.
Sở dĩ trong tâm bút Ngàn Năm Soi Mặt này phải trở lại vấn
đề Petrus Key v́ hai lư do. Trước khi hoàn tất bộ Các vua cuối nhà Nguyễn, trong
tập tâm bút Paris: Xuân 1996 (1997) kư tên Nguyên Vũ, tôi đă công bố một tài
liệu then chốt trong cuộc đời sự nghiệp chính trị (và từ đó, văn học) của Petrus
Key. Đó là lá thư Petrus Key viết cho Hải quân Trung tá Jauréguiberry vào cuối
tháng 3/1859, do Phụ tá Giám mục Borelle chuyển giao, tự tiến thân để làm thông
ngôn cho Pháp, hoặc do tự nguyện, hoặc theo lời xúi dục của các bề trên, hoặc cả
hai. Bức thư này đă được in lại phần nào trong nguyệt san Quốc Dân [xuất bản tại
Houston] năm 1996 và tập Hồ Chí Minh, 1892-1969, tập I (1997, tr. 68). Có người
không được đọc số báo hay tập sách trên, hoặc tảng lờ phóng ảnh tài liệu trong
đó, đặt câu hỏi thực chăng có lá thư “nói xấu” Petrus Kư ấy. Một câu hỏi đầy
khôi hài. V́ trong cuốn Paris: Xuân 1996, tôi trưng dẫn xuất xứ khá rơ ràng: Đó
là tư liệu của Jauréguiberry, hiện cất giữ trong Văn khố sử học Hải quân Pháp
[Service historique de la Marine] tại Château de Vincennes. [Xem thêm Vũ Ngự
Chiêu, Các vua, tập I, tr. 110, 130 chú 32, 297]. Muốn biết tài liệu trên có
thực hay chăng, một người trí thức lương thiện chỉ cần đến Château de Vincennes,
hoặc nhờ thân hữu ở Paris kiểm chứng giùm. V́ chắc chắn không một nhà nghiên cứu
nào có thể cho in lại toàn bộ những tư liệu văn khố ḿnh phát hiện.
Nhưng như trên đă nói, cảm nhận về lịch sử thường có tính
cách thuyết phục hơn chính sự thực lịch sử. Người ta thường chỉ thích đọc và
“khám phá” những ǵ ḿnh tin là sự thực hơn chính sự thực. Bản thân tôi vẫn chưa
quên được sự phản kháng từ chính nội tâm ḿnh khi t́m thấy tập hồ sơ xin nhập
học Trường Thuộc Địa [Ecole coloniale] Pháp, theo lối cổng hậu, của Nguyễn Tất
Thành vào tháng 9/1911; hồ sơ hoạt động cho t́nh báo Liên Xô Nga, Trung Quốc, và
t́nh báo Mỹ của Lin, Hồ Quang hay Lucius; hoặc công tŕnh của Quân ủy Trung Cộng,
cùng các Tướng Trần Canh, Vi Quốc Thanh, “hóa phép” Vơ Nguyên Giáp thành một
danh tướng; hồ sơ về việc Phạm Văn Đồng nh́n nhận lănh hải mới do Trung Cộng vẽ
ra năm 1958 để có quân viện đánh chiếm miền Nam và 300,000 cố vấn Trung Cộng,
v.. v... Hoặc, tài liệu lần đầu tiên tiết lộ về cuộc đảo chính cung đ́nh không
đổ máu ngày 2/5/1933; cuộc từ chức ngày 18/7/1933 của Ngô Đ́nh Diệm (1897-1963)
cùng âm mưu của các phe Ki-tô giáo chống lại kế hoạch “đại cải cách” của Toàn
quyền Pierre Pasquier; lá thư đề ngày 21/8/1944, trong đó Giám mục Ngô Đ́nh Thục
(1897-1984) xin Toàn quyền Jean Decoux nghĩ tới công lao hăn mă của cha ḿnh,
Ngô Đ́nh Khả [như đă đào mả “rebelle” [ngụy hay giặc] Phan Đ́nh Phùng ở Tây Bắc
Quảng B́nh năm 1896], mà nương tay với Ngô Đ́nh Khôi, Ngô Đ́nh Diệm; hay việc
Ngô Đ́nh Nhu và Ngô Đ́nh Khôi thú nhận với Paul Arnoux, Tổng Giám đốc Cảnh Sát
Đông Dương, rằng chế độ Bảo hộ Pháp là “bát cơm” [bol de riz] ḍng họ Ngô. Từ
thái độ phản kháng âm thầm ấy-giống như h́nh ảnh một tù nhân bị giam giữ trong
hang tối quá lâu, thường quáng mắt khi đột ngột bị lôi kéo ra ngoài trời rực
nắng- đến sự rẫy rụa, ḥ hét giận dữ là lẽ tự nhiên. Hơn nữa, sau gần hai thế kỷ
bị bưng tai, bịt mắt và tẩy năo bằng truyền đơn khẩu hiệu, trí óc nhiều người đă
được điều kiện hóa trong khuôn khổ các truyền đơn khẩu hiệu ấy. Nên chỉ có trắng
và đen. Có đạo và ngoại đạo. Thù và bạn. Cộng Sản và Quốc Gia. Yêu nước và Việt
gian. Ta và địch. Phe ta và phe địch. Ta phải trường tồn, hay đẹp, địch phải xấu
xa, cần bị tiêu diệt. Không c̣n một khoảng trống nào cho lẽ phải, hay sự suy lư
vượt lên trên những dấu mốc nhị nguyên sỉn tanh dấu máu hận thù ấy. Con người bị
hạ thấp xuống đâu đó gần con vật thí nghiệm của Pavlov. Chỉ cần một tiếng chuông
gióng lên thôi đă có những biến chứng sinh học.
Bởi thế, tôi chỉ cười, khi có người tung tin rằng các tài
liệu tôi t́m thấy là “giả mạo,” hay “sai lầm,” hoặc việc công bố có “dụng tâm”
nếu không phải “có thiên kiến.” Là người nghiên cứu sử chuyên nghiệp, tôi hoàn
toàn chịu trách nhiệm và sẵn sàng ghi nhận những sai lầm, nếu có, của ḿnh. Sai
lầm nếu có trên, chỉ thuần do kỹ thuật, hoặc do tôi chưa có dịp tham khảo đầy đủ
tư liệu, mà chẳng bao giờ do tiên kiến “xây dựng kỳ đài lịch sử” tưởng niệm,
vinh danh, hay “đào mộ” vùi chôn một tác nhân nào. Hơn nữa, được huấn luyện
chuyên nghiệp khá cao về sử học, tôi hiểu được tầm quan trọng của sự khách quan
cũng như lương tâm nghề nghiệp. Nên tôi đă im lặng, cười, trước luận điệu chỉ
trích hàm hồ, v́ tự hiểu riêng ḿnh nhất thời khó đủ sức lay chuyển, nói chi đập
phá những kiến thức giả ngụy do các tài liệu tuyên truyền mạo danh là “sử” -
Những tài liệu tuyên truyền viết từ những chân trụ đồng chơm chởm giáo mác của
Mă Viện; từ “boong” chiến hạm hay nh́n nhắm dài theo ṇng những khẩu đại bác đen
bóng của các thế lực thực dân; được “vẩy nước thánh” với những lời cầu nguyện
trên những cây thập tự giá, hay, những tiếng “rao giảng” “thánh chiến,” “nghĩa
vụ quốc tế” của những kẻ cuồng tín; hoặc, lanh lảnh tiếng reo ḥ, chiêng khua,
trống gơ đệm nhịp cho các cánh tay giơ cao ngọn giáo, lưỡi mác của người bản xứ
để tự ca ngợi sự oai hùng, vĩ đại của các chiến công “châu chấu đá voi.”
Như tôi đă cười, im lặng, khi một cháu bé 10-12 tuổi, con
bà bạn mới từ Việt Nam qua Mỹ định cư, chỉ vào h́nh b́a tập Hồ Chí Minh,
1892-1969 bảo tôi “Bác sai rồi, cụ Hồ sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 mới đúng!”
Bị nhồi sọ từ nhỏ những “sự thực giả ngụy,” đệm nhịp bằng những bài đồng ca như
“đêm qua em nằm mơ thấy .... ,” phản ứng của cháu con bà bạn dễ hiểu thôi! Giận,
trách mới thực là sai lầm. Tôi tin rằng mai này khi lớn khôn lên, được đọc sách
sử thế giới, cháu sẽ mỉm cười nghĩ đến chuyện cũ.
Như tôi đă cười, im lặng, khi thấy các tác giả tập Vàng
Trong Lửa trong nước, do Trần Văn Giàu và Trần Bạch Đằng biên soạn năm 1990,
cho rằng Nguyễn Thế Anh và tôi-qua tập Một Ngôi Trường Khác Cho Nguyễn Tất Thành
[Paris: Văn Hoá, 1983] - “không hiểu nổi hành tŕnh t́m đường cứu nước” của cậu
Nguyễn Tất Thành, tức Hồ Chí Minh sau này. Một câu phê b́nh thuần túy để phê
b́nh, hay chỉ với mục đích giới thiệu tựa sách của Nguyễn Thế Anh và tôi?
Và, như tôi cũng đă chỉ im lặng, cười, chẳng bận tâm đối
đáp với vài ba kẻ cóp nhặt các tư liệu tôi đă sưu khảo được sau hai thập niên
làm việc tại các văn khố, chép vào sách họ, tự xưng đă tham khảo các tài liệu
văn khố trên. Rồi “bí ẩn” rông càn về tục kỵ húy, cuộc đảo chính không đổ máu
ngày 2/5/1933, cao giọng cung văn những thành phần trung gian bản xứ theo đạo
Ki-tô, v.. v.. [Nhưng v́ là của giả, trộm cắp vặt, vẫn không che dấu nổi sự dốt
nát]. Lại c̣n cao giọng vu cáo tôi là “phịa” ra những tư liệu đă phá vỡ thứ kiến
thức ao tù, ruộng cạn, và/hay đạp đổ loại niềm tin kiểu b́nh nước cạn, mặn chát
tại các góc tối tăm của Nguyên Hồng trong Những nhân vật ấy đă sống với tôi.
[Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang, trong tập II bộ Thực chất Giáo
hội La Mă, đă có vài chương dành riêng cho hiện tượng “ziết sử” thế-giới-thứ-ba
này].
Tôi không có và không muốn phí th́ giờ với loại mà Giáo
sư Quang gọi là côn-đồ-văn-hóa, chẳng những thiếu kiến thức sử học, mà c̣n hàm
hồ đầy tư tâm. Nhưng thái độ của tôi hẳn đă khác nếu lời cáo buộc trên do một
người học sử chuyên nghiệp đưa ra. Tôi sẵn sàng tranh luận, trong nguyên tắc và
lư lẽ tối thiểu của một cuộc tranh luận sử học: Muốn có một nhận định nào về tư
liệu sử học, cần tŕnh bày rơ sự đúng/sai của tư liệu ấy, và trưng dẫn những
bằng chứng khả tín cần thiết để tán đồng hay phản đối.
Từ ngày ra hải ngoại, tôi chọn cho ḿnh ba bút hiệu. Tên
thực, Vũ Ngự Chiêu, kư dưới các biên khảo sử học. Chính Đạo để viết những nghiên
cứu nhẹ tính chất kỹ thuật hơn. Và, Nguyên Vũ, như một nối dài của nghề nghiệp
sáng tác cũ, từ quê nhà. Các tác phẩm kư tên Nguyên Vũ thường là tư duy của tác
giả về người, việc và vật phải gặp gỡ, chứng kiến, đầy tính cách cá nhân. Ba bút
hiệu trên liên hệ với nhau, và chắc hẳn luôn luôn lấy sự thực làm đường đi, dù
có dị biệt về phân loại của các tác phẩm. Những tác giả thận trọng thường phân
biệt kỹ càng khi trích dẫn tác phẩm của tôi. Nhưng có người cố t́nh nối ba bút
hiệu làm một, như “sử gia” Nguyên Vũ, cho mục tiêu nào đó.
Cũng nên thêm về hai chữ “sử gia” trong ngoặc kép trên.
Theo tiêu chuẩn quốc tế, hoặc ít nữa ở Mỹ và Pháp, sử gia [historian] là người
có bằng Tiến sĩ về ngành sử học rồi tiếp tục nghiên cứu hoặc giảng dạy ngành này.
Nó là một học vị không thể tự xưng hay phong cho một ai đó theo ư thích riêng
của ḿnh. Chẳng hiểu người viết hai chữ “sử gia” Nguyên Vũ có hàm ư ǵ? Tôi
không có bằng Tiến sĩ Sử học chăng? Hay tôi không tiếp tục nghiên cứu và viết sử
suốt 17 năm qua, sau ngày tốt nghiệp? Cách nào đi nữa, cũng chẳng đáng quan tâm.
Tôi vẫn nghĩ danh chỉ là khách của thực, và thường muốn tự coi ḿnh như một
người học sử. Tước vị sử gia hay những bằng cấp với tôi thật vô nghĩa, dù chúng
là những tấm thông hành giúp tiến xa hơn trên hành tŕnh vào tri thức.
Trở lại với những chi tiết viết về Petrus Key trong tập
Paris: Xuân 1996. Do lỗi kỹ thuật, khi đánh máy [trang 70, ḍng 7] mất hàng chữ
“thập niên 1920, chế độ Bảo hộ Pháp, và rồi,” nên chỉ c̣n “từ năm 1946, chính
phủ Nam Kỳ Tự trị của Y sĩ Nguyễn Văn Thinh đă lấy tên Petrus Kư đặt tên trường
trung học bản xứ lớn nhất Sài G̣n.” Giáo sư Trần Thượng Thủ, nguyên giáo chức
trường Petrus Kư, ở Houston, và Y sĩ Trần Ngươn Phiêu từ miền Tây Bắc Texas đă
nhắc tôi lỗi kỹ thuật này sau khi sách ra đời. Xin cảm tạ, và nhân đây xin độc
giả đă mua sách sửa lại giúp.
Ngoài ra, trong sơ thảo Các vua cuối nhà Nguyễn, tập I,
tôi đă sử dụng tài liệu của các nhà truyền giáo nên những đoạn nói về vụ án
Hoàng tôn Đán không được nhất quán (tr. 52, 57). Khi nói về cuộc nổi dạy của “Lê
Văn” Khôi tôi c̣n ghi lại lỗi lầm của một số tác giả đi trước, rằng Khôi là
“con nuôi của Lê Văn Duyệt” (tr. 81, chú 23). Tên thực của cố Trường, Th. Le
Grand de la Liraye, đă viết không nhất quán [thiếu chữ “La”; tr. 169, ḍng 12,
tr. 172, ḍng 16,21,24]. Nay muốn mượn chương viết về Petrus Key, công bố rơ sai
lầm của ḿnh. Mong độc giả đă có trong tay tập I Các vua cuối nhà Nguyễn [ấn bản
1999 mà chưa kịp có phần Đính chính] lượng t́nh sửa giúp [Xem đoạn dưới].
Cuối năm 2004, nhân dịp về Việt Nam nghiên cứu về khía
cạnh pháp luật của chiến lược đổi mới, tôi cũng may mắn được tham khảo thêm tại
các văn khố quốc gia tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, và t́m ra một số tài
liệu giúp minh xác hơn những điều đă viết. Xin đa tạ Hội đồng học bổng
Fulbright, thuộc Bộ Ngoại Giao Liên bang Mỹ, và Trung tâm William Joiner Center,
tại Đại học Massachusetts-Boston, cùng Khoa Lịch Sử, Đại học Khoa học Xă hội và
Nhân văn, Thành phố Hồ Chí Minh, và quí vị Giám đốc và nhân viên các văn khố tại
Việt Nam đă giúp tôi cơ hội tu chỉnh lại bài viết ít năm trước.
Nhưng chỉ riêng tôi chịu trách nhiệm những thiếu sót khó
tránh trong chương sách này.
Đa tạ.
Tư liệu đọc thêm II
VIỆC NGHIÊN CỨU NHÀ TÂY SƠN (1778-1802)
[Trích Nguyên Vũ, Ngàn Năm Soi Mặt, tâm bút
(Văn Hóa: 2002)
Tháng 11/1844-tức hơn 50 năm sau ngày vua Quang Trung
(1788-1792) băng hà-vua Thiệu Trị (1841-1847) cho lệnh trừng phạt một quan coi
tù dám bí mật thờ cúng anh em nhà Tây Sơn, và tiếp tục giam di cốt Nguyễn Nhạc,
Nguyễn Huệ, Nguyễn Quang Toản trong ngục. Vua giải thích:
Thế tổ Cao Hoàng đế ta lo thu phục kinh thành, xa thư nhất
thống. Con trai, con gái và các cháu Ngụy Nhạc, Ngụy Huệ đều bị giết. Năm Gia
Long Nhâm Tuất [1802] làm lễ cáo tôn miếu, dâng những tướng giặc bị bắt, ngụy
Toản và những kẻ yếu phạm chánh thứ của giặc đều bị cực h́nh [năm voi xé xác].
Lại đào lấy hài cốt của Ngụy Nhạc, Ngụy Huệ đập tan ra, vứt đi, đầu sọ của ngụy
Nhạc, ngụy Huệ để làm đồ đựng nước tiểu. Lại khóa mộc chủ của vợ chồng ngụy Huệ
đem giam ở vũ khố. Năm Minh Mệnh thứ hai [1821], kính dâng chỉ dụ, chuẩn y lời
nghị của bộ, đem mộc chủ của giặc tập hợp lại đóng đanh và khoá cùng với đầu lâu
và hài cốt ngụy Huệ, ngụy Nhạc, ngụy Toản, bỏ lộn vào một cái ḥm gỗ, đổi giam ở
nhà ngục phủ Thừa Thiên. (ĐNTL,CB, 25:168-9)
Không ai phủ nhận được một điều: Cách đối xử của các vua
nhà Nguyễn (1802-1945) với Quang Trung Nguyễn Huệ và gia đ́nh Tây Sơn cực kỳ tàn
nhẫn. Theo Đại Nam Thực Lục, Chính Biên, từ tháng Một Tân Dậu
[6/12/1801-3/1/1802], ngay sau khi tái chiếm kinh thành Huế, Nguyễn Chủng cho
lệnh phá hủy mộ Quang Trung, "bổ săng, phơi thây bêu đầu ở chợ. “Con trai, con
gái, họ hàng và tướng hiệu của nhà Tây Sơn “31 người đều bị lăng tŕ cắt nát
thây."(ĐNTL,CB, I, 2:451) Một năm sau, ngày 1/12/1802 [mồng 7 tháng Một Nhâm
Tuất], vua Gia Long mượn toàn gia Cảnh Thịnh cùng các Tướng Tây Sơn để tuyên cáo
trời đất. (ĐNTL,CB, I, 3:85) Sự trả thù c̣n trút xuống đầu ḍng dơi Nguyễn Văn
Nhạc dưới thời Minh Mạng (1820-1841). Tháng 1/1831, sau khi có người tố cáo
ḍng dơi Tây Sơn c̣n sống sót, vua Minh Mạng sai Trương Minh Giảng làm Khâm sai
tra xét. Giảng xác định rằng đó là Nguyễn Văn Lượng (con Nguyễn Nhạc), và Nguyễn
Văn Trượng (con Nguyễn Văn Đức, anh Lượng, tức cháu nội Nguyễn Văn Nhạc); nhưng
Lượng và Đức đă trốn mất. (ĐNTL,CB, II, 10:195) Năm sau, vào khoảng tháng 4 Tân
Măo [12/5-9/6/1832], bọn Trương Minh Giảng bắt được trên 100 người con cháu Tây
Sơn. Tất cả bị giải về kinh, chém ngang lưng. (ĐNTL,CB, II, 10:257-9) Tới đời
Thiệu Trị, con cháu quan Tướng Tây Sơn c̣n bị truy diệt.
Và, theo đúng qui luật kẻ mạnh, “được làm vua, thua làm
giặc,” sách sử nhà Nguyễn cao giọng lên án anh em Tây Sơn là giặc [ngụy]. Tập
Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện của nhà Nguyễn có phần dành riêng cho anh em vua
Quang Trung, với tựa “Ngụy Tây” [Giặc Tây Sơn]. Các tập Khâm Định Việt Sử Thông
Giám Cương Mục, hay Đại Nam Thực Lục, Tiền Biên (q. 11) và Chính Biên (q. 1)
cũng đều ghi “Ngụy” Huệ, “Ngụy” Nhạc, “Ngụy” Toản, “tiếm hiệu” v.. v...
Khoảng một thế kỷ sau, dưới thời Bảo Đại (1926-1945), các
văn gia Việt có cái nh́n khác về nhà Tây Sơn (1778-1802). Hoa Bằng Hoàng Thúc
Trâm, Trần Trọng Kim, và nhiều người khác-do những động lực khác nhau-bắt đầu vẽ
lại một h́nh ảnh của vua Quang Trung như một đại anh hùng dân tộc. Vua Quang
Trung và anh em nhà Tây Sơn được ca tụng như đại diện và lănh đạo giới nông dân
nghèo khổ (anh hùng áo vải) dựng “cờ đào” khởi nghĩa, lưu lại hậu thế những
chiến công oanh liệt: Phá tan đạo quân Xiêm (1785), và rồi đánh đuổi hơn hai
chục vạn quân Thanh của Tôn Sĩ Nghị (1789). Trong bộ Việt Nam Sử Lược, học giả
Trần Trọng Kim viết riêng một chương về “nhà Tây Sơn,” để gọi là trả lại sự
“chính thống” cho các tội nhân của nhà Nguyễn. [VNSL, II:127-9]
Dù những yếu tố trưng dẫn để biện minh về nhị nguyên
“chính thống-ngụy triều” của Trần Trọng Kim c̣n gây nhiều bàn căi-nếu không phải
quá đơn sơ-khó thể phủ nhận được một điều: Vua Quang Trung Nguyễn Huệ đă trở
thành một biểu tượng anh hùng dân tộc của người Việt trong thế kỷ XX, ít nữa
cũng từ thập niên 1930 trở đi. Hàng trăm, nếu không phải hàng ngàn tài liệu, đă
được công bố để xưng tụng công đức Quang Trung Nguyễn Huệ. Hàng năm, tại B́nh
Khê [gần nguồn sông Côn], tỉnh B́nh Định, người ta làm lễ tưởng nhớ công ơn
Quang Trung. Sự sùng bái vị anh hùng dân tộc này được vẽ thành những ṿng hoa
quanh các hậu và vương phi, như Ngọc Hân công chúa và bài Ai Tư Văn, hay các cận
thần của vua, như trường hợp La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiệp [Thiếp]. Nhiều người đă
lập danh, lớn hay nhỏ, bằng cách cho tác phẩm tắm gội hào quang của nhà Tây Sơn,
đặc biệt là Quang Trung Nguyễn Huệ. Như một hậu quả, bất cứ ai có thái độ bất
kính với nhà Tây Sơn, hoặc bản thân vua Quang Trung, lập tức bị vùi dập, nhục mạ.
Phản ứng quá khích này, dù dễ hiểu, chỉ là hiện tượng xă hội học và tâm lư học
thông thường: một cảm nhận về sử [a perception of history] đă ảnh hưởng đám đông
hơn chính sự thực lịch sử.
Thực ra, trong khối sử văn Việt Nam, chưa xuất hiện được
những biên khảo đầy đủ, có tính cách khoa học về nhà Tây Sơn nói chung, và cá
nhân Nguyễn Huệ nói riêng. Có nhiều nguyên do. Hai trong những lư do ấy là thiếu
sử liệu và thiếu nghiên cứu nền tảng về xă hội Việt trong thế kỷ XVIII.
I. THIẾU SỬ LIỆU.
Giống như hầu hết các triều đại Việt Nam khác, sự thiếu
sót tài liệu để tái dựng lại xă hội Việt dưới thời Tây Sơn là điều quá hiển lộ.
Nhắc đến nhà Tây Sơn, người ta thường chỉ dẫn hai tập sử phổ thông là Việt Nam
Sử Lược của Trần Trọng Kim và Hoàng Lê Nhất Thống Chí. Các sử gia chuyên nghiệp
và người nghiên cứu nghiêm túc, dù biết đến những tài liệu khác, nhưng cũng
không khỏi bối rối về sự thiếu sử liệu.
A. TÀI LIỆU VIỆT:
1. Trước hết, những tư liệu của nhà Tây Sơn đều bị tiêu
hủy. Đây là một trong những tội ác văn hóa của vua quan nhà Nguyễn. V́ quyền lợi
�chính thống� của ḍng họ Nguyễn, vua quan Nguyễn đă tiêu hủy hoặc làm mai một
những sử liệu cần thiết. Ngay đến những bản khắc Đại Việt Sử Kư dưới thời Tây
Sơn (1800) cũng không c̣n nguyên vẹn.
2. Về tài liệu thành văn của Quốc sử quán nhà Nguyễn,
nguồn tài liệu phong phú nhất c̣n lưu truyền là bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám
Cương Mục, và Đại Nam Thực Lục, Tiền Biên và Chính Biên. Hai bộ này chép theo
kiểu biên niên. Ngoài ra, c̣n có bộ Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện (quyển 30,
Ngụy Tây). Bộ này viết theo thể “truyện” [thường dịch là “stories” dù thực chất
chỉ là những “cung văn’ [hagiographies] nhằm vinh danh công trạng, hay “cáo
trạng” [indictments] chống lại các tác nhân lịch sử].
Mặc dù có ư thức tôn trọng sự thực sử học hay chăng, là sử
quan, các tác giả bộ Thông Giám Cương Mục, Đại Nam Thực Lục và Liệt Truyện phải
tuân lời dạy bảo của vua Nguyễn khi biên soạn. Điều này có nghĩa không những
phải “khúm núm,” “run rẩy” ca ngợi chế độ mà c̣n phải “nghiêm khắc” bài bác, đàn
hịch người chống đối. Trên cả hai phương diện lư thuyết (Nho giáo) và thực hành
(kẻ thù của chế độ), sử quan phong kiến-giống như các sử quan “dân chủ thế giới
thứ ba” hiện nay-chỉ được quyền lư luận theo quan điểm chính thống-ngụy triều do
chế độ đặt ra. Nên chẳng có ǵ ngạc nhiên khi người đọc bắt gặp chữ “Ngụy” trước
tên Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, hay “ngụy hiệu” trước những tên Thái Đức, Quang
Trung, v.. v..., mặc dù cả vua Quang Trung và con là Quang Toản (1792-1802) đều
được nhà Thanh sắc phong làm An Nam Quốc Vương, giống như các vua Lê, trước cả
vua Gia Long (1802-1820) nhà Nguyễn. Như một hệ luận, những ǵ sử quan Nguyễn
viết về nhà Tây Sơn khó thể chính xác và khả tín. Nhiều lắm, chúng ta chỉ thấy
được gần nửa sự thực.
3. Một nguồn tài liệu không kém quan trọng là tư liệu của
sử gia và văn nhân nhà Lê.
Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn coi như giá trị nhất về
giai đoạn khởi đầu của nhà Tây Sơn. Ngoài ra, c̣n có bộ Hoàng Lê Nhất Thống Chí
của gia đ́nh họ Ngô (Ngô Th́ Chí, v.. v...), [Hậu Lê] Lịch triều tạp kỷ của [Ngô?]
Cao Lăng (đầu thế kỷ XIX, bản dịch Việt ngữ không đầy đủ của Hoa Bằng, [Hà Nội:
1975]), cùng tập Bắc Hành Tùng Kư của Lê Quưnh, người đă theo mẹ Lê Chiêu Thống
qua cầu viện nhà Thanh năm 1788, và rồi sau khi theo Tôn Sĩ Nghị chạy qua Trung
Hoa, bị giam cầm trong ngục thất gần 10 năm v́ tội không chịu gióc tóc, ăn vận
theo lối nhà Thanh.
Dĩ nhiên, các tư liệu này đều coi Tây Sơn là “giặc”, xâm
phạm bờ cơi “An-Nam.”
4. Về tài liệu truyền khẩu, dù không thiếu, nhưng khi sử
dụng thật khó khăn.
Không phải chỉ đến thời chúng ta mới có ngành “chiến tranh
chính trị.” Thế kỷ XV, Nguyễn Trăi chẳng từng tung ra loại truyền đơn viết trên
lá rừng, “Lợi [vi] quân, Trăi [vi] thần” đó sao?
Về anh em Tây Sơn, vài tin đồn nên ghi lại. Thứ nhất, có
tin Nguyễn Huệ là anh Nguyễn Lữ, và tục danh là Ba Thơm (anh Hai Thơm, theo miền
Bắc). Lại có tin đồn Gia Long đă ép Ngọc Hân công chúa phải lấy ḿnh; nhưng
nguồn tin khác cho rằng đó chính là em Ngọc Hân; v́ Ngọc Hân và hai con bị Gia
Long giết. Cái chết của Nguyễn Huệ cũng lưu lại nhiều tin đồn. Người nói chính
nhà Thanh ra tay đầu độc, v́ Quang Trung mưu đ̣i lại sáu châu thuộc tỉnh Hưng
Hóa bị dân Vân Nam tằm thực vào cuối thời Lê-Trịnh [1780], hoặc nḥm ngó cả vùng
Lưỡng Quảng (qua việc sử dụng các tàu hải tặc quấy phá Quảng Đông, và đề nghị
xin cưới công chúa nhà Thanh). Lại có tin chính các giáo sĩ đă đầu độc, như đă
đầu độc vợ lớn Quang Trung năm 1891, v́ thời gian này Hội truyền giáo đă quyết
định ủng hộ Nguyễn Chủng. [Xem infra]
B. TƯ LIỆU QUỐC SỬ QUÁN NHÀ THANH:
Thanh sử và Đại Thanh Thực Lục chỉ lược thuật về nhà Tây
Sơn với thái độ kẻ cả của một cường quốc. Cuộc xâm lăng Đại Việt năm 1788-1789,
chẳng hạn, được chép như một cuộc “chinh phạt” (theo nguyên tắc chỉ chinh mà
không chiến). Nhưng, chẳng cho biết ǵ nhiều hơn chi tiết Tôn Sĩ Nghị lấy quân
bốn tỉnh miền Nam vương quốc Trung Hoa để “chinh phạt” Đại Việt. Ngoài ra, c̣n
có “quốc thư” trao đổi giữa Phúc Khang An cùng các trọng thần của Quang Trung (Ngô
Th́ Nhiệm?). Nhưng những “quốc thư” này chỉ có giá trị ngoại giao, nghi lễ, và
gây nên nhiều nghi vấn về việc “Quang Trung” qua Yên Kinh làm lễ bảo tất (ôm đầu
gối vua Càn Long để bày tỏ ḷng trung hiếu) trong dịp lễ thượng thọ bát tuần của
vua Thanh. (Xem Đại Việt Quốc Thư, cả Sài G̣n lẫn Hà Nội dều đă dịch qua Việt
ngữ)
Các bản tấu chương của Tôn Sĩ Nghị và Phúc Khang An chưa
được công bố đầy đủ (ngoại trừ vài trích dẫn trong sách của Hoa Bằng). Hy vọng
những chuyên viên Trung Hoa học sau này sẽ có dịp t́m ra các “châu bản” của Càn
Long [tức những tờ tŕnh của các quan, được Càn Long duyệt đọc và bút phê quyết
định của ông ta], cùng những phúc tŕnh của Nội các và Viện Cơ Mật nhà Thanh,
hay thư từ trao đổi giữa Bắc Kinh và Lưỡng Quảng.
Cũng nên ghi thêm một chi tiết liên quan đến vấn đề sử
liệu của Trung Hoa. Đầu năm 1960, báo Tự Do, số 952, ra ngày 29/2/1960, đăng bài
“Một học giả Trung Quốc với vấn đề đính chính sử liệu Việt Nam,” do Quang Triết
dịch từ nguyên bản bài viết của Tưởng Quân Chương. Theo một tác giả Việt đương
thời, Tưởng Quân Chương là một sử gia (?) Đài Loan, từng được Linh mục Raymond
de Jaegher, Chủ tịch Phân hội Á Châu Tự Do, mời sang Sài G̣n để nghiên cứu viết
sách giáo khoa bằng Hán văn về bộ môn sử kư, địa lư và công dân giáo dục. Ông ta
đă viết bài tổng quan về lịch sử bang giao Trung-Việt nói trên để đáp ứng lời
yêu cầu của Giáo sư Trương Công Cừu. Ông Cừu, lúc ấy đang nắm chức Bộ trưởng Văn
Hóa và đang đi thăm Đài Bắc, yêu cầu giới chức giáo dục của Tưởng Giới Thạch nên
đính chính sử liệu về quan hệ giữa hai nước.
Bài viết của Tưởng Quân Chương in trên Trung ương Nhật báo
ngày 26/1/1960, khoảng mươi ngày sau khi gặp Giáo sư Cừu. (Lê Phục Thiện, “Những
điều sai lầm trong bài “Một học giả Trung Quốc với vấn đề đính chính sử liệu
Việt Nam;” Bách Khoa, số 80 (1/5/1960), tr. 14, chú 2) Đại cương, Tưởng Quân
Chương cho rằng các vua Việt đầu tiên “nếu không phải là người di dân Quảng Đông,
th́ là người di dân Phúc Kiến, hoặc người di dân thuộc miền trung nguyên Trung
Quốc.” (Ibid., tr. 32) Trung Hoa chẳng bao giờ có tham tâm xâm chiếm Việt Nam,
mà mỗi lần đem quân xuống An Nam chỉ do lời yêu cầu của ḍng dơi vua chúa Việt,
v.. v... Trong trường hợp trận đánh Tết Kỷ Dậu (1789), Tưởng Quân Chương cho
rằng Tôn Sĩ Nghị chỉ mang “8,000 quân” sang Việt Nam; trong khi đó “Nguyễn Văn
Nhạc” (sic) đă tụ tập 10 vạn [100.000] binh mă, để đả kích quân Thanh. V́ vậy
quân Thanh đại bại. (Ibid., tr. 34; Nguyễn Hiến Lê và Nguyễn Hữu Ngư, “Bàn về
vấn đề đính chính sử liệu Việt Nam nhân một bài viết của học giả Trung quốc
Tưởng Quân Chương;” Bách Khoa, số 77 (15/3/1960), tr. 23)
Một số tác giả Việt phản ứng khá mạnh, trong tinh thần đối
thoại nhă nhặn. Đáng kể nhất là loạt bài của Lê Phục Thiện, chuyên viên Hán học
Viện Khảo cổ Việt Nam, trên Bách Khoa (số 80 (1/5/1960), tr. 9-18, và số 81
(15/5/1960), tr. 32-9).
V́ chưa được tham khảo tài liệu văn khố Pháp, các nhà
nghiên cứu Việt thời gian này không bác bỏ được lập luận đầy sai lầm, do vô t́nh
hay cố ư, của Tưởng Quân Chương về việc nhà Thanh định chia chác với Pháp đất
Bắc Kỳ qua Tạm ước Bourée-Lư Hồng Chương, (Xem Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà
Nguyễn, 1883-1945, tập I (Houston: Văn Hóa, 1999), tr. 273-4, 283-4, 290-5), hay
chiến tích của vua Quang Trung qua lời chứng của các giáo sĩ Pháp, v.. v... [Xem
infra]
Sự thiếu hiểu biết sử học và từ đó, lập luận hàm hồ, của
Tưởng Quân Chương cũng dễ hiểu thôi. Với Tưởng Quân Chương, sử liệu Trung Quốc
là khuôn vàng thước ngọc, dù ông ta không thể phân biệt nổi những chi tiết mà
bất cứ học sinh Trung học Việt Nam nào cũng rơ, như “Nguyễn Văn Nhạc,” anh trai
Nguyễn Huệ, không phải là “Nguyễn Quang B́nh” hay “Nguyễn Văn B́nh,” và Nguyễn
Văn Nhạc chẳng dính nhập ǵ đến trận đánh Kỷ Dậu (1789). Nhưng có người được mời
qua Đại học Huế để dịch bộ An Nam Chí Lược c̣n thiếu cả sự lương thiện trí thức
nữa. Dù Lê Tắc (hay Trắc) viết rơ ràng chữ “man” [mọi rợ], ông Trần Kính Ḥa này
ngang nhiên dịch thành “Mường.” (Tương tự như một tác giả phản chiến Mỹ chẳng
biết ǵ về tổ chức hành chính và chính trị Đông Dương, hay thời gian Nhật chiếm
đóng Đông Dương, hạ bút rằng chính phủ Trần Trọng Kim là “bù nh́n của Nhật,”theo
lối lập luận của các tác giả Pháp và Cộng Sản Việt Nam. Nhưng tác giả này vẫn
đoạt giải Pulitzer văn chương của Mỹ! (Xem Fire in the Lake [Lửa Trong Hồ, dẫn
từ quẻ Cách của Kinh Dịch]).
C. TÀI LIỆU CỦA CÁC GIÁO SĨ PHÁP VÀ NHÂN CHỨNG TÂY PHƯƠNG:
Nguồn tài liệu thứ ba là báo cáo, thư từ của các giáo sĩ
Pháp và nhóm lính đánh thuê do Giám mục Pierre Pigneau de Béhaine tuyển mộ giúp
Nguyễn Chủng.
1. Một số tư liệu này đă được các tác giả Pháp công bố
trong đầu thế kỷ XX, nhưng phần lớn là những “lời đồn” hoặc “nghe kể.” Adrien
Launay, tác giả Documents historiques sur la Mission de Cochinchine, 1771-1823 (tập
III, 1925) đă sao chép lại khá nhiều báo cáo của các giáo sĩ ở Bắc Đàng Trong và
Đàng Ngoài về nhà Tây Sơn, đặc biệt là vua Quang Trung Nguyễn Huệ. Ngoài ra, các
biên khảo của Charles B. Maybon [Les marchants européens en Cochinchine et au
Tonkin (1660-1775)] và Georges Taboulet [La geste francaise en Indochine:
Histoire par les textes de la France en Indochine dès origines à 1914] cũng giới
thiệu nhiều tư liệu gốc. (Taboulet đă tặng cho Văn khố Sử học Hải Quân Pháp tại
Chateaux de Vincennes toàn bộ tư liệu của ông). Tuy nhiên, những tác phẩm này
đều có nhược điểm, và sử dụng cần thận trọng.
2. Văn khố Hội truyền giáo Pháp trên đường Bac ở Paris mới
đây cũng đă mở ra cho các nhà nghiên cứu. Tác giả Việt đầu tiên sử dụng tài liệu
văn khố này là Đặng Phương Nghi [“Vài tài liệu mới lạ về những cuộc Bắc tiến của
Nguyễn Huệ, trong Sử Địa, số 9-10 (Sài G̣n, 1968), tr. 194-243; & “Triều đại vua
Quang Trung dưới mắt các nhà truyền giáo Tây phương;” Sử Địa, số 13 (Sài G̣n,
1969), tr. 143-80]. Chúng tôi cũng thu thập được một số tư liệu, nhưng chưa có
dịp công bố.
Sử dụng loại tài liệu truyền giáo này không dễ.
a. Trước hết, các nhà truyền giáo không có ư định viết sử.
Họ chỉ thuật lại mọi sự kiện dưới ánh sáng của mục tiêu tối hậu là truyền giáo.
Người và vật bởi thế được đo đếm bằng chiếc giường truyền giáo mà mỗi giáo sĩ
mang theo trên lưng, bắt các tác nhân lịch sử nằm lên chiếc giường đó, và độc
giả của họ sẽ được chứng kiến cảnh họ chặt cắt bớt những ǵ quá khổ, hoặc kéo
dài, giang rộng nạn nhân của họ cho hợp với kích thước chiếc giường truyền giáo.
Nói cách khác, họ không “khách quan” như có người tin tưởng; ngược lại, các tư
liệu của họ đầy tư tâm. Tiêu biểu là trường hợp gọi Quang Trung Nguyễn Huệ bằng
những tiếng như “Tiếm vương,” “đệ nhất ác chúa,” hay “Tân Attila,” tức viên
tướng giặc Huns đă tàn phá đế quốc Roma trong thế kỷ thứ V.
b. Thứ hai, nhiều tin tức chỉ là những tin đồn, nên ngày
tháng và nội dung chưa hẳn chính xác. Đặc biệt là ngày tháng. Thí dụ như nguyên
việc ngày quân Thanh kéo vào Đại Việt, hay Tôn Sĩ Nghị vào tới Thăng Long, nếu
so sánh với sử liệu Việt và Hoa, tư liệu của các giáo sĩ sai biệt hàng tháng. [Xem
phần F infra]
D. TƯ LIỆU VĂN KHỐ PHÁP VÀ THÁI:
1. Một số tư liệu văn khố Pháp đă được khai thác, dù kho
tài liệu văn khố của Bộ Hải Quân Pháp tại Château de Vincennes, ngoại ô Paris,
hầu như chưa mấy người sử dụng [ngoại trừ những cuốn microfilm tàng trữ tại Văn
khố Trung ương Pháp].
Hơn nữa, văn khố Pháp chỉ đáng tin cậy từ thập niên 1850
trở đi, khi người Pháp bắt đầu xâm chiếm Đại Nam.
2. Tư liệu Thái th́ chưa được một sử gia Việt nào sử dụng
[hiển nhiên, v́ vấn đề ngôn ngữ). Tuy nhiên, đây là một nguồn tài liệu quan
trọng, giúp tái dựng lại trung thực hơn liên hệ Việt-Xiêm vào cuối thế kỷ XVIII,
cùng những trận đánh lịch sử giữa quân Xiêm và Tây Sơn năm 1785, hoặc những cuộc
giao tranh ở Trấn Ninh (Lào) và Chân Lạp để yểm trợ cho Nguyễn Chủng, đồng thời
thực hiện tham tâm mở rộng biên cương của vua quan Xiêm La vào cuối thế kỷ
XVIII.
Hiện nay một số tư liệu Thái đă được dịch qua Anh ngữ. Đọc
chung với các tư liệu Miên (do người Pháp giúp tái dựng) và tư liệu Pháp, Việt,
Miến, v.. v... người học sử sẽ có một h́nh ảnh tương đối trung thực và khách
quan hơn về nhà Tây Sơn. Chắc chắn sẽ không nhảy vọt tới thứ kết luận kỳ quái
như cuộc nổi dạy của nhà Tây Sơn �khiến ngăn chặn cuộc thôn tính Chân Lạp để sát
nhập vào lănh thổ Việt Nam!� (Thực ra, chính sự nổi dạy của nhà Tây Sơn đă giúp
Nguyễn Noăn tức Chủng củng cố sự kiểm soát và mở mang vùng châu thổ Cửu Long,
đưa dân cư tới các vùng Hà Tiên, Châu Đốc, Cà Mau, v.. v...]
E. CHỨNG TỪ VÀ TƯ LIỆU CỦA TÁC NHÂN LỊCH SỬ HAY CHỨNG NHÂN
ĐƯƠNG THỜI:
1. Học giả Hoàng Xuân Hăn đă khai thác được một số tư liệu
chữ Hán và Nôm để viết về La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiệp [Thiếp], hay Phan Huy Ích.
[Xem Sử Địa, số 9-10 (Sài G̣n, 1968), tr. 245-63; Hoàng Xuân Hăn Toàn Tập, tập
II] Một số di cảo của Ngô Th́ Sĩ hay Lê Quưnh (Sử Địa, số 13 (Sài G̣n, 1969),
tr. 181-3), v.. v... cũng đă được công bố. Tác giả Tạ Chí Đại Trường, trong tập
Lịch sử Nội chiến ở Việt Nam (Santa Ana: An Tiêm, 1993), đă nỗ lực tổng hợp và
giải thích lại những tư liệu trên.
Dẫu vậy, người học sử vẫn c̣n nhiều việc phải làm, đặc
biệt là việc kiểm chứng lại ngày tháng của các dữ kiện, theo phương pháp sử học,
và chuyển từ ngày âm lịch qua dương lịch mà học giả Hoàng Xuân Hăn đă sơ thảo từ
nửa thế kỷ trước.
2. Các nhà du lịch hay thương gia Tây phương cũng cung cấp
một số hoạt cảnh về Đại Việt trong giai đoạn này như Barrow, Charles Chapman,
v.. v... Tuy nhiên, giá trị sử liệu không cao.
Nên ghi nhắc rằng hiện đang có việc tranh luận thực chăng
Marco Polo đă tới Trung Hoa vào đầu triều Nguyên (1279-1360), hay chỉ sao chép
lại truyện kể của các thương gia Arab về xứ “con trời Đông phương?” Dĩ nhiên,
truyện người Nhật dùng bạc lợp mái nhà mà Polo ghi trong sách, hay những mẩu
truyện kiểu các tiểu vương quần đảo Molocca, Achin hay Jawa giàu có đến độ phải
“dấu vàng ở bờ biển, nên mỗi lần thủy triều rút xuống, cả một góc trời vàng rực
lên” mà các thương gia Tây phương viết lại trong kư sự của họ đủ khiến ngay
những người hời hợt, cả tin nhất-hoặc đă thực sự bỏ th́ giờ ra đọc những sách
trên, mà không nhắm mắt đoán ṃ-cũng phải đặt dè dặt khi bàn về sự trung thực và
khách quan của những tay phiêu lưu Âu Mỹ về các xứ trời xa, đất lạ.
[Vấn đề có thể đặt ngược lại: Phải thận trọng hơn về những
lời chứng của các tác nhân Việt Nam khi nói về những chuyến xuất dương của họ.
Như Bùi Viện qua Mỹ chưa, có được Tổng thống Ulysse Grant tiếp kiến hay không?
Thực chăng Nguyễn Trường Tộ đă du học ở Pháp? Thực chăng Petrus Key xứng đáng
với danh xưng “bác học” hay “học giả?”]
F. VÀI VẤN NẠN V̀ THIẾU SỬ LIỆU:
Sự thiếu sót tài liệu về nhà Tây Sơn khiến những nỗ lực
nghiên cứu sử học trong giai đoạn này gặp nhiều vấn nạn.
1. Ngay đến ngày vua Quang Trung băng hà cũng tạo nên
nhiều nghi vấn.
Năm 1946, học giả Hoàng Xuân Hăn đă mượn báo Dư Luận để
nêu lên vấn đề trên, khi Bộ trưởng Giáo dục của chính phủ Hồ Chí Minh chọn ngày
29 tháng 9 âm lịch [13/11/1792] làm ngày giỗ vua Quang Trung. Theo Hoàng Xuân
Hăn, Quang Trung đă băng hà ngày 29 tháng 7 Nhâm Tí (tương đương với ngày
16/9/1792). [“Ngày giờ Quang Trung mất;” Dư Luận (Hà Nội), số 28 (1946), tr. 5;
Toàn tập, II:1074-7]
Hoàng Xuân Hăn đă trưng dẫn những tư liệu sau để biện minh
cho lập luận của ông:
Theo Đại Nam Thực Lục của Quốc sử quán nhà Nguyễn, vua
Quang Trung mất ngày 29 tháng 7 Nhâm Tí, tức ngày 16/9/1792 tại Phú Xuân. (ĐNTL,CB,
q. 6, 7B; I, 2:159-60) [Bản dịch Việt ngữ chúng tôi có trong tay chỉ ghi tháng 7
Nhâm Tí, không ghi ngày]
Một số tư liệu khác ghi tương tự: Quốc triều toát yếu của
Cao Xuân Dục, Dụ Am tập của Phan Huy Ích, và di cảo của Lê Huy Dao, một vong
thần nhà Lê. (Hăn, Toàn Tập, II:1075)
Vài tài liệu của các giáo sĩ Pháp, như Guérard (tháng
5/1793) ghi “ác chúa thứ nhất” [tức Quang Trung] chết vào tháng 9/1792;
Labousse (tháng 7/1793) ghi Quang Trung chết vào đầu tháng 9/1792.
Tuy vậy, học giả Hoàng Xuân Hăn không bác bỏ được nhật kỳ
29 tháng 9 Nhâm Tí (13/11/1792) một cách rơ ràng. Đại Nam Liệt Truyện của nhà
Nguyễn (q. 30: Ngụy Tây), chép vua mất ngày 29 tháng 9 Nhâm Tí [Cửu nguyệt nhị
thập cửu nhật Huệ tử, tiếm vị ngũ niên, niên tài tứ thập; Ngụy Tây, q. 30, tờ
42B]. Đại Thanh thực lục cũng ghi “vua An Nam Nguyễn Quang B́nh” mất ngày 29
tháng chín Nhâm Tí tại Nghĩa An [giống như ĐNLT, Ngụy Tây]. (Hăn, Toàn Thư,
II:1076). Và đích thân Càn Long gửi thư phúng điếu. (Ngụy Tây, 43A-B) Bản dịch
Việt ngữ cuốn Đại Nam Thực Lục chúng tôi tham khảo chỉ ghi vua mất vào tháng 7
Nhâm Tí, không ghi ngày. Dă sử nhật kư và Hoàng Lê Nhất Thống Chí ghi là vua mất
vào tháng 8 Nhâm Tí [17/9-15/10/1792]. (Hăn, Toàn Thư, II:1077). Ngụy Nguyên và
Từ Diên Húc, hai tác giả Thanh, ghi Quang Trung chết tháng 3 Nhâm Tí (4/1792).
Tương tự như thế, cái chết của Nguyễn Nhạc đầy nghi vấn.
Theo tài liệu nhà Nguyễn, Nhạc chết vào tháng Tư Quí Sửu [10/5-8/6/1793] v́ uất
ức thái độ ngang ngược của nhóm Thái úy Phạm Công Hưng, Hộ giá Nguyễn Văn Huấn,
Đại Tư-lệ Lê Trung, Đại Tư Mă Ngô Văn Sở và Đặng Văn Châu khi mang quân giải cứu
Qui Nhơn theo lời yêu cầu của Nhạc. Nhạc tức uất, hộc máu mà chết. (Ngụy Tây, q.
30, tr. 15B-16A) Theo Đại Nam Thực Lục, Nhạc chết vào tháng 9 Quí Sửu
(5/10-3/11/1793). Nguyên do cũng v́ sự lộng quyền của nhóm Hưng, Huấn. (ĐNTLCB,
II:179)
Các nhà truyền giáo cũng không đồng nhất trong báo cáo về
ngày Nguyễn Nhạc chết. Ngày 6/6/1793, từ Bố Chính, Linh mục Guérard thư cho
Boiret báo tin Nhạc chết ngay sau khi Quang Toản mang quân vào giải cứu Qui Nhơn.
(AME, Tonkin 692, tr. 426-29) Nhưng Linh mục La Mothe lại cho rằng Nhạc chết
ngày 13/12/1793. (Thư La Mothe gửi Boiret; Ibid., Tonkin 692, tr. 539-41).
2. Về nguyên cớ cái chết của vua Quang Trung, c̣n nhiều
dấu hỏi. Theo sử quan nhà Nguyễn, vua bị thần nhân đánh trọng thương trong giấc
mơ v́ đă dám phá hủy lăng tẩm nhà Nguyễn.
Huệ tàn ngược vô đạo, kỳ sơ cứ Đô thành dă, liệt thánh chư
tôn lăng giai phạm chi. Nhất nhật văn tọa hốt huyễn vựng kiến bạch đầu ông tự
không trung lai, trứ bạch y, tŕ thiết bạng mạ viết: “Nhĩ chi tổ phụ cư Vương
thổ, thế vi Vương dân, nhĩ an cảm phạm chi lăng tẩm?” Dĩ bạng kích kỳ tang, Huệ
hôn đảo lương cửu năi tỉnh dĩ ngữ Trung thư Trần Văn Kỷ. Tự thử bịnh chuyển kịch...
(ĐNLT,CB, q.30 [Ngụy Tây], tr. 42A-B; ĐNTL,CB, 2:159-60)
Vào đầu thế kỷ XXI này, những ng |