WWW CHUYỂN LUÂN

 

Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm Mậu Tư-2008 Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

Trang chủ || Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
 

Góp nhặt cát đá

 

Tác giả

  Video clips
  Online số cũ từ 2003
  Các số báo trước 2003
   

 

Nối Kết:

      

   
  Tác phẩm chọn lọc
  Thầy Nhất Hạnh
   

CHUYỂN LUÂN SỐ THÁNG 04/2005

Bàn về phán quyết của Thẩm phán J. Weinstein

trong “vụ kiện da cam”

Nguyễn Văn Tuấn 

Một chút lịch sử … 

Trong thời gian 14 năm (1961 – 1975) xung đột quân sự giữa Mĩ và Việt Nam, ngoài số lượng vũ khí và đạn dược khổng lồ, quân đội Mĩ c̣n sử dụng đến một số hóa chất như là một phương tiện quân sự.  Trong thời gian 10 năm (tính từ 1961 đến 1971), quân đội Mĩ đă phun xuống miền Trung và Nam Việt Nam tổng cộng gần 77 triệu lít hóa chất, trong đó 64% là Chất màu da cam [1].  Trong các hóa chất này, đặc biệt là chất độc da cam có chứa dioxin, một hóa chất độc hại số một mà con người từng biết đến.  Chiến dịch phun hóa chất này bị thế giới lên án gay gắt và có người c̣n cho đó là một cuộc chiến hóa học lớn nhất thế giới [2]. 

Các hóa chất này được sản xuất và cung cấp theo đơn đặt hàng của Bộ quốc pḥng Mĩ.  Tham gia vào hợp đồng này có hơn 20 công ti hóa chất Mĩ, kể cả những công ti lớn và “quen thuộc” như Dow Chemical Co., Monsanto Co., Pharmacia Corp, Hercules Inc, Occidental Chemical Corp, Ultramar Diamond Shamrock Corp, Maxus Energy Corp, Thompson Hayward Chemical Co, Harcros Chemicals Inc, và Uniroyal Chemical Inc.  

Sau khi chiến tranh chấm dứt vào năm 1975, các nhà khoa học Mĩ tiến hành một loạt nghiên cứu qui mô trên cựu quân nhân Mĩ về tác hại của chất độc da cam hơn 20 năm liền.  Các nghiên cứu dịch tễ học này cho thấy những cựu chiến binh từng bị phơi nhiễm độc chất có nguy cơ bị một số bệnh ung thư, tiểu đường, và sinh con với dị tật bẩm sinh cao hơn những người không bị phơi nhiễm độc chất [3].  

Trước các phát hiện khoa học đó và hàng loạt nghiên cứu trên các công nhân hăng xưởng hóa học từ Âu châu và Mĩ, năm 1984 một nhóm cựu chiến binh Mĩ đệ kiện các công ti hóa chất Mĩ về những tác hại sức khỏe mà họ chịu phải khi tham gia vào chiến dịch phun độc chất.  Vụ kiện, dưới sự chủ tŕ của Thẩm phán Jack Weinstein, tuy nhiên không được tiến hành, mà kết thúc bằng một thỏa thuận ngoài ṭa.  Theo thỏa thuận này, các công ti hóa chất đồng ư lập ra một quĩ y tế xă hội khoảng 180 triệu Mĩ kim nhằm trợ cấp cho các cựu chiến binh Mĩ từng bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam. 

 

Vụ kiện da cam và phán quyết  

            Riêng tại miền Nam Việt Nam, ngay từ thập niên 1960s giữa lúc chiến dịch phun hóa chất đang ở đỉnh cao, báo chí Sài G̣n đă từng báo động về tác hại của chất độc da cam.  Chẳng hạn như trên báo Tin Sáng (số ra ngày 26/6/1969) dưới tựa đề “Thảm họa của hóa chất diệt cỏ: bào thai dị dạng” cho biết tại xă Tân Hội, phụ nữ kéo nhau đến bệnh viện Từ Dũ để hủy những bào thai dị dạng.  Các phụ nữ này cho biết chỉ sau khi có thai khoảng 2 tháng, bào thai làm cho họ đau đớn không thể nào chịu đựng nổi, rồi âm hộ bắt đầu chảy máu.  Sau khi bản tin trên được tường thuật, chính quyền miền Nam lúc đó lập tức đóng cửa báo Tia Sáng, và không có dân chúng vào xem những bào thai dị dạng.  

            Sau năm 1975, Việt Nam có thiết lập một trung tâm chuyên nghiên cứu về hậu quả của chiến tranh, và đặc biệt là hậu quả của chất độc da cam trong thời chiến.  Phần lớn những nghiên cứu này có sự hợp tác của các nhà khoa học Mĩ, nhưng kết quả không được công bố trong các diễn đàn khoa học quốc tế.  Một số ít nghiên cứu được công bố cho thấy một số vùng tại miền Nam vẫn c̣n nhiễm độc chất khá cao.  Điều này cũng phù hợp với thời gian bán hủy của dioxin là khoảng 10 năm trở lên, và phù hợp với các nghiên cứu ở Ư, nơi mà hậu quả của dioxin vẫn có thể tồn tại sau 30 năm.  

            Nhưng phía Việt Nam trong suốt gần 30 năm sau chiến tranh, v́ lí do chính trị và ngoại giao, vẫn không đệ đơn kiện hay đề cập đến chuyện bồi thường chiến tranh như Mĩ đă kí kết trong Ḥa ước Paris 1973.  (Theo Hiệp định này, Mĩ sẽ viện trợ cho Việt Nam 3,25 tỉ Mĩ kim trong ṿng 5 năm, và thêm vào đó là viện trợ dưới các “h́nh thức khác” trị giá 1,5 tỉ Mĩ kim.  Trong một thư tháng 2 năm 1973 Tổng thống Richard Nixon viết cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng, ông cho biết Mĩ sẽ góp phần giải quyết các trường hợp mất mát, di tản v́ chiến tranh và cống hiến vào công cuộc phát triển công nghiệp ở miền Bắc Việt Nam.)  Vả lại, gần như là một mâu thuẫn với các qui ước quốc tế, c̣n có qui định rằng v́ chủ quyền quốc gia, các nước nạn nhân chiến tranh không thể đâm đơn kiện các nước gây ra tai họa chiến tranh nếu các nước này không chấp thuận!  Thành ra, trong thực tế, rất ít trường hợp nạn nhân chiến tranh được bồi thường; chỉ có những trường hợp cá nhân phạm tội chiến tranh bị truy tố trước ṭa án quốc tế dưới áp lực của nước thắng trận như trường hợp ở Rwanda và Nam Tư gần đây.  Vấn đề c̣n lại là chỉ có thể kiện các công ti hóa chất như cựu chiến binh Mĩ đă làm.  

Đầu năm ngoái (ngày 30/1/2004), Hội nạn nhân chất độc da cam Việt Nam quyết định đệ đơn kiện các công ti hóa chất Mĩ.  Các công ti này bị truy tố với 10 tội phạm, kể cả tội phạm chiến tranh, làm lợi bất chính, gây thương tích cho thường dân, v.v.  Vụ kiện tuy c̣n trong giai đoạn đầu nhưng đă gây được chú ư của thế giới về nạn nhân dioxin ở Việt Nam (bởi v́ trước đây nói đến dioxin người ta chỉ nghĩ đến cựu chiến binh Mĩ).  Dư luận thế giới đồng loạt và nhiệt t́nh đứng về phía các nạn nhân.  Hàng triệu chữ kí của công dân Việt Nam và công dân ngoài Việt Nam trên khắp năm châu là một biểu hiện sự ủng hộ của họ dành cho nạn nhân Việt Nam. 

            Sau một thời gian ngắn xem xét bằng chứng và lí luận từ phía nguyên đơn và bị đơn, ngày 10/3/2005 Thẩm phán Jack Weinstein thuộc ṭa án địa hạt Brooklyn, New York, công bố phán quyết trong một tài liệu dài 233 trang [4].  Trong bản phán quyết dài và phức tạp, ông Weinstein đề cập đến các trường hợp kiện cáo trước đây, đến các khía cạnh lí thuyết của luật pháp Mĩ và luật pháp quốc tế, và kết luận rằng: “Các yêu sách của phía nguyên đơn không có cơ sở pháp lí dưới bất cứ luật nội địa, hay luật quốc gia, hay luật tiểu bang, hay luật quốc tế.  Vụ kiện không được xét xử.”  (There is no basis for any of the claims of plaintiffs under the domestic law or any nation or state or under any form of unternational law.  The case is dismissed.)   

Chi tiết bản phán quyết của Thẩm phán Weinstein tương đối phức tạp, nhưng có thể chia thành 2 phần: một phần liên quan đến các khía cạnh pháp lí, và một phần liên quan đến các khía cạnh khoa học.  Về các khía cạnh pháp lí, có những điểm chính như sau (các số trang đề cập đến trong các đoạn văn sau đây là số trang trong bản phán quyết của ông Weinstein): 

            Thứ nhất, ông cho rằng Hội nạn nhân chất độc da cam Việt Nam (c̣n gọi tắt theo tiếng Anh là VAVA) là một tổ chức bất vụ lợi, ngoài chính phủ, có tư cách đại diện cho nạn nhân, và có tư cách pháp nhân đệ đơn kiện các công ti hóa chất tại Mĩ (trang 73-4).  Với phán quyết này, ông bác bỏ một trong những cáo buộc khá gượng ép của phía bị đơn (các công ti hóa chất) cho rằng v́ Việt Nam là một quốc gia do Đảng Cộng sản lănh đạo, tất cả những ǵ và những ai làm đều đáng nghi ngờ.  

Thứ hai, Thẩm phán Weinstein bác bỏ luận điểm của phía bị đơn rằng họ chỉ làm theo đơn đặt hàng của Chính phủ Mĩ mà thôi, và lúc đó Chính phủ Mĩ cũng biết về sự độc hại của hóa chất; do đó nếu kiện th́ kiện Chính phủ Mĩ chứ không phải các công ti (trang 11).  Tưởng cần nhắc lại, trước đây (năm 1984) họ cũng lí luận như thế trong phiên ṭa của các cựu chiến binh Mĩ.  Ông Weinstein không đồng ư với lập luận này; ông cho rằng các công ti phải chịu trách nhiệm về sản phẩm của họ.  Ông nói thêm rằng các công ti không thể nói rằng họ chỉ làm theo đơn đặt hàng, v́ họ có thể từ chối hợp đồng nếu họ muốn (trang 154). 

            Thứ ba, trước lập luận của phía bị đơn (và Bộ Tư pháp Mĩ) cho rằng vụ kiện có thể gây trở ngại đến việc thi hành các chính sách bang giao của Mĩ trên trường quốc tế (điểm này c̣n được gọi là vấn đề học thuyết chính trị - political question doctrine), ông Weinstein cho rằng ông không thấy một định nghĩa chặt chẽ nào về vấn đề này, hay nó thực sự có nghĩa ǵ.  Ông phê phán Bộ tư pháp Mĩ muốn đứng ngoài luật pháp quốc tế và có một sự “thổi pḥng” về quyền lực hành pháp (trang 116).  Ông khẳng định rằng nước Mĩ không nằm ngoài luật pháp quốc tế, và ṭa án có vai tṛ bảo đảm các cơ quan hành pháp Mĩ phải tuân thủ theo luật pháp quốc tế.  Đây là một phán quyết quan trọng, v́ các luật sư của chính phủ Mĩ cho rằng cơ quan hành pháp Mĩ (như tổng thống) có thể quyết định luật pháp quốc tế nào mà họ muốn tuân hành và luật nào họ không muốn tuân hành.   

Thứ tư, ông Weinstein cho rằng các nguyên đơn có thể dựa theo luật pháp quốc tế để kiện các công ti hóa học, bởi v́ các công ti này không có đặc ân miễn tố từ các luật pháp quốc tế liên quan đến cá nhân (trang 16 và trang 141).  Nói cách khác, để chiến thắng phiên ṭa và được bồi thường thiệt hại, phía nguyên đơn cần phải chứng minh rằng các công ti đă vi phạm luật quốc tế.  Đây không phải là chuyện đơn giản, nhất là trong các ṭa án Mĩ.  Thật vậy, để thắng kiện, phía nguyên đơn phải chứng minh cho được rằng (a) việc sử dụng hóa chất diệt cỏ là bất hợp pháp dưới luật quốc tế, (b) các công ti biết trước sản phẩm của họ sẽ được dùng cho mục đích ǵ (c) họ cung cấp sản phẩm và trở thành kẻ “ṭng phạm” (trang 141).  Theo ư kiến của Thẩm phán Weinstein phía nguyên đơn có thể chứng minh (b)(c), nhưng không chứng minh được (a).   

Ông Weinstein cho rằng các nguyên đơn chưa chứng minh được rằng việc sử dụng hóa chất diệt cỏ là một hành động vi phạm luật pháp quốc tế (trang 17).  Ông cho rằng lúc tiến hành chiến dịch sử dụng hóa chất ở Việt Nam, chưa có một qui ước nào cấm dùng thuốc diệt cỏ trong chiến tranh (dù ngày nay, quốc tế đă có những qui ước này).  Đây chính là một lí do chính để ông bác đơn của phía nguyên đơn.   

            Tưởng cần nhắc lại rằng Qui ước Hague (c̣n gọi là Hague Convention) năm 1907 cấm dùng “độc chất và vũ khí tẩm độc chất” trong các cuộc xung đột quân sự [5].  Qui ước Hague c̣n giới hạn quyền của các phe tham chiến sử dụng các phương tiện để gây thương tích một cách không cần thiết cho đối phương [6].  Qui ước Hague 1907 sau này c̣n được củng cố thêm bằng Nghị định Geneva năm 1925 (Geneva Protocol of 1925).  Nghị định Geneva cấm dùng các chất hơi ngạt, các độc chất, và các loại khí độc (nói chung là vũ khí hóa học) trong chiến tranh [7]. 

            Trong thời gian chiến tranh, giữa lúc Mĩ phun độc chất xuống Việt Nam, năm 1969 Đại hội đồng Liên hiệp quốc (UN General Assembly) thông qua nghị quyết với tuyên bố rằng chất độc da cam là một vũ khí hóa học và yêu cầu cấm đoán việc sử dụng vũ khí này cũng như các vũ khí sinh học.  Như vậy, chính sách và chiến dịch phun độc chất da cam của Mĩ xuống các nơi dân cư tại Việt Nam đă vi phạm các điều khoản về qui ước chiến tranh. 

Thứ năm, vấn đề bồi thường chiến tranh không áp dụng trong trường hợp này, v́ đây không phải là một phiên tranh tụng giữa hai chính phủ, mà là giữa hai nhóm cá nhân (trang 117, 124).  Ông Weinstein ghi nhận rằng vấn đề bồi thường chiến tranh không được đưa ra bàn thảo sau khi chiến tranh chấm dứt, khác với trường hợp Thế chiến thứ II và các cuộc chiến khác (trang 121).  Đây là một phán quyết có ư nghĩa, bởi v́ các công ti hóa chất và luật sư của chính phủ Bush cứ khăng khăng cho rằng phía nguyên đơn đ̣i bồi thường chiến tranh (làm như đ̣i hỏi này – nếu có thật – là một tội phạm vậy!)  Nhưng ông Weinstein không đề cập rằng Bộ trưởng ngoại giao Mĩ lúc đó là Henry Kissinger có hứa bồi thường cho Việt Nam trong ḥa ước Paris 1973, nhưng sau này th́ bội ước.  Thực ra, năm 1997 chính phủ Việt Nam lại bồi thường cho Mĩ v́ món nợ cũ của chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa.  Phân nửa số tiền này dành cho các quĩ học bổng.   

Về các khía cạnh khoa học và bằng chứng, bản phán quyết có những điểm chính như sau: 

            Thứ nhất, Thẩm phán Weinstein cho rằng chất màu da cam chỉ là một hóa chất diệt cây cỏ chứ không phải là chất độc, dù ông công nhận chất này có chứa dioxin và dioxin là một độc chất (trang 60-1).  Ông c̣n cho rằng các ảnh hưởng xấu của chất độc da cam chỉ là “hệ quả phụ” (“collateral consequences”) chứ không phải do cố ư làm tổn thương đến con người.  Có thể nói đây cũng chính là một phán quyết yếu ớt nhất của Weinstein mà chắc chắn các luật sư sẽ kháng kiện lần sau.  

Phán quyết này c̣n mang tính “chẻ cọng tóc làm tư” và mâu thuẫn.  Trong giới khoa học thế giới, ai cũng biết dioxin là một độc chất số 1 mà con người biết đến, và nó là một thành phần của chất độc da cam.  Công nhận chất màu da cam có chứa dioxin và công nhận dioxin là một độc chất, ấy thế mà cho rằng chất màu da cam chỉ là thuốc diệt cây cỏ chứ không phải độc chất rơ ràng là một mâu thuẫn. 

            Thứ hai, ông Weinstein cho rằng chiến dịch sử dụng hóa chất ở Việt Nam không có ư định để gây tổn thương, đau đớn cho con người, mà chỉ nhằm mục tiêu diệt cây cỏ (trang 175-6).  Ông cho rằng những tổn hại trên dân chúng là hệ quả phụ (ông dùng chữ “collateral harmful consequences for humans”, trang 184), chứ không cố ư.  Do đó, các cáo buộc của phía nguyên đơn như tra tấn, giết người phi pháp, và diệt chủng không thể áp dụng trong trường hợp này, bởi v́ những hành vi này cần phải có ư đồ th́ mới áp dụng luật pháp quốc tế được.   

            Ở đây, h́nh như ông Weinstein lẫn lộn giữa bị đơn (các công ti hóa chất) với người sử dụng hóa chất (lính Mĩ).  Người lính có thể không biết sự độc hại của hóa chất và không cố ư đồ giết người hay gây tổn thương cho dân chúng bằng hóa chất.  Nhưng các công ti biết rơ sản phẩm của họ có nồng độ dioxin cao và biết rơ rằng sản phẩm của họ sẽ dùng để hủy diệt môi trường.  Đây là điểm cần phải xem xét để kháng kiện.  Các công ti sản xuất thuốc lá và asbestos cũng có thể nói sản phẩm của họ đâu có ư giết người (và trước kia họ cũng không biết tác hại của thuốc lá), nhưng trong thực tế các sản phẩm này có khả năng giết người, và các công ti sản xuất đă bị phạt phải bồi thường thiệt hại cho nạn nhân. 

            Thứ ba, Thẩm phán Weinstein không thấy thuyết phục bởi các luận điểm của phía nguyên đơn về nguyên nhân bệnh tật.  Một mặt, ông chấp nhận rằng nguyên đơn bị phơi nhiễm độc chất, mặt khác ông không tin rằng các nghiên cứu trong quá khứ đă chứng minh các độc chất này là nguyên nhân gây bệnh cho nguyên đơn (trang 18).  Ở một đoạn sau, ông c̣n cho rằng những cáo buộc về bệnh tật của phía nguyên đơn mang tính “giai thoại”, chuyện vặt (“anecdotal evidence”) v́ phía nguyên đơn chưa tiến hành một nghiên cứu qui mô dịch tễ học (trang 42).  Ông thêm rằng trường hợp các cựu chiến binh Mĩ được bồi thường vào năm 1984 không áp dụng được cho các nguyên đơn, bởi v́ để nhận tiền trợ cấp của họ (cựu chiến binh Mĩ) không cần đến chứng cớ về nguyên nhân. 

Đây là một phán quyết khó hiểu nhất.  Ông Weinstein không nói rằng các cáo buộc về bệnh trạng của phía nguyên đơn là giả dối (như một số báo chí tường thuật sai) hay không có liên hệ với chất độc da cam, ông chỉ nói rằng chưa có đầy đủ bằng chứng về nhân quả (cause-and-effect) để đưa đến một kết luận trong ṭa án Mĩ.  Thực ra, nếu nói về cái gọi là chứng minh mối liên hệ nhân quả th́ nó đi ra ngoài phạm vi của y khoa.  Trong y khoa và khoa học, không có cái gọi là “chứng minh”, mà chỉ có bằng chứng có nhất quán hay không nhất quán với giả thuyết hay không mà thôi.  Trong y tế công cộng, người ta không có và sẽ không bao giờ có (ngoại trừ cố ư giết người) loại thực nghiệm phi đạo đức để thử nghiệm bằng cách cho nạn nhân uống dioxin để xem có bệnh hay không, mà đặc biệt một khi đă biết nó là độc hại.  Không ai biết một cách chính xác cơ chế gây tác hại của thuốc lá, nhưng v́ người hút thuốc có nhiều bệnh so với người không hút thuốc lá, và sự thật đó cũng đủ để xă hội hạn chết hút thuốc lá.  Tương tự, chưa ai biết chính xác những cơ chế sinh học gây tác hại của chất độc da cam và dioxin, nhưng sự thật là cựu chiến binh Mĩ và Việt Nam từng bị phơi nhiễm độc chất có nguy cơ sinh con với dị tật bẩm sinh cao, và sự thật đó cũng phù hợp với giả thuyết gây tác hại của độc chất da cam. 

Trong các trường hợp khác về bồi thường do nhiễm độc chất (như trường hợp “Erin Brockovich” ở California như đề cập đến trong phán quyết), nguyên đơn chỉ cần trưng bày bằng chứng cho thấy tỉ lệ bệnh tật trong nhóm bị nhiễm độc chất cao hơn nhóm không bị nhiễm (và đó không thể là mối liên hệ nhân quả) vẫn được xem là bằng chứng thuyết phục.  Trong trường hợp này, có nghiên cứu cho thấy trong thời gian từ 1955-1964 (trước khi có chiến dịch phun độc chất) tỉ lệ dị tật thai nhi trong 3 làng là 2,1%, và giữa những năm 1965-1974 (sau khi chiến dịch da cam) th́ tỉ lệ này trong 3 làng trên tăng đến 5% (Trích từ bài báo trong tập san Environmental Health Perspectives 2000; 108: số 10), và dùng lí luận của trường hợp Erin Brockovich, người ta cũng có thể xem đó là bằng chứng về tác hại của chất độc da cam.  Do đó, việc đ̣i hỏi bằng chứng của Weinstein xem ra là một đ̣i hỏi quá máy móc! 

Tuy nhiên, cho rằng trường hợp của các cựu chiến binh Mĩ không áp dụng th́ quả là kiểu nói “lưỡng chuẩn” (double standard) bởi v́ trong thực tế, chính phủ Mĩ chỉ bồi thường cho những cựu chiến binh nào mắc những bệnh mà có bằng chứng cho thấy là chúng có liên quan đến chất độc da cam.  Xin nêu một ví dụ cụ thể: đầu năm nay 2003, một thông cáo báo chí từ Viện Y khoa Mĩ (Institute of Medicine; trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Mĩ) cho biết, sau khi duyệt xét qua 6 công tŕnh nghiên cứu về ảnh hưởng của dioxin (trong ṿng 2 năm qua), các nhà khoa học tuyên bố họ đă có đủ bằng chứng để kết luận rằng dioxin là nguyên nhân gây ra chứng ung thư bạch cầu măn tính (tức là Chronic lymphocytic leukemia, hay CLL).  Trước đây, người ta từng nghi ngờ CLL có liên hệ với dioxin, nhưng bằng chứng khoa học chưa được rơ ràng; nay th́ mối liên hệ đó coi như đă được khẳng định.  Điều quan trọng là các dữ kiện khoa học này không phải xuất phát từ nghiên cứu trên cựu quân nhân Mĩ, mà từ các nghiên cứu trên các công nhân làm việc trong các hăng xưởng hóa chất.  Nếu dựa vào cách thẩm định bằng chứng của ông Weinstein, người ta cũng có thể nói rằng chưa có bằng chứng về mối liên hệ giữa dioxin và CLL!  Thế nhưng chính phủ Mĩ nghĩ khác: Với phát hiện mới này, chính phủ Mĩ tuyên bố là họ sẽ đồng ư bồi thường cho cựu quân nhân Mĩ, những người từng tham chiến ở Việt Nam, nếu họ mắc chứng bệnh CLL.  Nếu chính phủ Mĩ chấp nhận những bằng chứng gián tiếp nhưng có cơ sở khoa học như thế th́ hà cớ ǵ chánh án Weinstein lại yêu cầu bằng chứng từ phía Việt Nam? 

            Thứ tư, về vấn đề trách nhiệm cứu trợ, Thẩm phán Weinstein cho rằng Ṭa án không có quyền ra lệnh các công ti phải làm công tác cứu viện, như làm sạch môi trường tại các vùng bị nhiễm, v́ ông cho rằng việc đó không thể thi hành được,  v́ ṭa án Mĩ không thể đi đến một quốc gia khác để giám sát việc thực thi.  Vả lại, Weinstein cho rằng ṭa án Mĩ không có quyền pháp lí để ra lệnh cho các công ti phải làm công tác cứu viện.  Đây có lẽ là một khiếm khuyết của luật pháp Mĩ, bởi v́ các công ti Mĩ có thể đi quanh thế giới và hủy diệt môi trường các nước khác, nhưng các ṭa án Mĩ không có quyền ra lệnh cho họ làm sạch môi trường!    

Thứ năm, Thẩm phán Weinstein mở một cánh cửa cho việc kháng kiện với khả năng là nhiều thông tin về chất độc da cam sẽ được tŕnh bày thêm.  Ông viết rằng nếu Ṭa phúc thẩm không đồng ư với những phán quyết của ông, th́ ṭa án sẽ sẵn sàng xem lại vấn đề với điều kiện phải có nhiều dữ kiện dịch tễ học về mối liên hệ giữa bệnh tật và chất độc da cam (trang 128).   

Vài kinh nghiệm và bài học  

            Có thể nói những vấn đề liên quan đến hệ quả của chiến dịch phun độc chất da cam trong thời chiến tranh Mĩ – Việt chưa bao giờ được thảo luận đến nơi đến chốn ở chốn pháp đ́nh.  Khoảng 20 năm về trước khi các cựu chiến binh Mĩ kiện các công ti hóa chất Mĩ về những tác hại sức khỏe mà họ chịu phải khi tham gia vào chiến dịch phun độc chất, và vụ kiện được kết thúc bằng một thỏa thuận ngoài ṭa mà theo đó các công ti hóa chất đồng ư lập ra một quĩ y tế xă hội nhằm trợ cấp cho các cựu chiến binh Mĩ từng bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam.  Rồi nay, vụ kiện do Hội nạn nhân chất độc da cam Việt Nam đệ đơn, cũng dưới sự chủ tọa của chánh án Weinstein, cũng được kết thúc bằng một phán quyết có thể hiểu theo nghĩa thông thường là “không nên tiến hành”. 

            Có thể hiểu ư nghĩa đằng sau của phán quyết trên là các giới chức tư pháp Mĩ không muốn phiên ṭa tiến hành, bởi v́ có lẽ họ không muốn những sự thật về độc chất da cam được phơi bày trước công chúng và trước ṭa.  Nếu những sự thật lịch sử về mục đích, qui mô và hệ quả của chiến dịch dùng độc chất da cam được phơi bày trước công chúng, các giới chức và kĩ nghệ Mĩ chắc chắn sẽ không thoải mái và thậm chí cảm thấy họ đă phạm phải lỗi lầm.  Cũng cần phải nhắc lại một sự thật ở đây là chiến dịch phun độc chất da cam đă được quyết định từ một quyền lực cao nhất nước Mĩ: [cựu] Tổng thống John F. Kennedy.  Ngay cả những địa điểm phun độc chất cũng phải qua sự phê chuẩn của tổng thống Kennedy hay Nhà trắng.  Do đó, nói đến trách nhiệm ở đây là nói đến trách nhiệm của cơ quan quyền lực cao nhất nước Mĩ, chứ không chỉ các công ti hóa chất mà họ vẫn khăng khăng cho rằng họ chỉ làm theo đơn đặt hàng của chính phủ Mĩ. 

Cơ hội mà vụ kiện đem lại không chỉ có ư nghĩa hạn chế trong các nạn nhân chất độc da cam ở Việt Nam, mà c̣n đem lại một thông điệp ḥa b́nh cho thế giới.  Như đă có lần phát biểu, vụ kiện này làm cho công luận thế giới thức tỉnh, bởi v́ qua các thông tin liên quan, thế giới mới nhận ra rằng không chỉ cựu quân nhân Mĩ, mà c̣n có một cộng đồng lớn tại Việt Nam vẫn c̣n bị ảnh hưởng bởi độc chất da cam.  Đúng như Philip Jones Griffith, nhiếp ảnh gia tác giả cuốn sách “Agent Orange: ‘Collateral Damage’ in Vietnam,” viết: “Việt Nam là một pḥng thí nghiệm nơi mà người ta có thể phát hiện được sự tàn sát của dioxin vẫn c̣n tiếp diễn một cách chậm chạp,” nhưng “Thật là đáng tiếc, không ai có hành động ǵ [trước thảm trạng dioxin].”  Chiến dịch dùng độc chất da cam tại Việt Nam đă sản sinh ra một danh từ mới trong kho tàng ngữ vựng tiếng Anh: ecocide (tạm dịch: huỷ diệt môi sinh).  Hiệp ước Geneva phải thay đổi điều khoản để ngăn ngừa một chiến dịch như thế tái diễn trên thế giới.  Do đó, vụ kiện c̣n là một lời cảnh cáo những thế lực muốn gây chiến biết rằng hệ quả của một chiến tranh hóa học sẽ c̣n kéo dài cho dù cuộc chiến đă chấm dứt ba thập niên.   

Vụ kiện c̣n cho chúng ta một cơ hội để nh́n lại chính chúng ta để rút ra những bài học và kinh nghiệm.  Bài học quan trọng nhất qua vụ kiện này, theo tôi, là vấn đề nghiên cứu khoa học và bằng chứng.  Thẩm phán Weinstein nhận xét rằng phía Việt Nam thiếu bằng chứng về tác hại của độc chất da cam v́ thiếu một nghiên cứu qui mô dịch tễ học.  Đây không phải là một nhận xét thiếu cơ sở, bởi v́ phải thẳng thắn để nh́n nhận rằng về phía Việt Nam, có thể nói vấn đề nghiên cứu chất độc da cam là một sự bỏ lỡ cơ hội.  Hơn một phần tư thế kỉ sau khi chiến tranh chấm dứt, Việt Nam vẫn chưa tiến hành những nghiên cứu qui mô, có hệ thống để xác định mức độ nghiêm trọng cũng như  tác hại của dioxin trong sức khỏe của người Việt Nam, hay có nhiều nghiên cứu riêng lẻ nhưng ít khi nào được công bố trên các diễn đàn khoa học thế giới.   

Trong suốt thời gian 30 năm qua, chỉ có 6 bài báo khoa học từ Việt Nam (nhưng 4 bài là do các nhà khoa học Mĩ đứng tên!) được công bố trên các tập san khoa học quốc tế.  Và, ngay cả những nghiên cứu này, không những c̣n ít về số lượng mà cũng chẳng cao về chất lượng.  Dù điều này cũng có thể giải thích được v́ vấn đề tài trợ cho nghiên cứu c̣n quá hạn chế, nhưng sự thật vẫn là sự thật: nghiên cứu từ Việt Nam c̣n quá ít, nếu không muốn nói là “không có ǵ”.  Ở đây, tôi thấy cần phải nhấn mạnh hai chữ “công bố”, bởi v́ như nói trên trong thực tế Việt Nam đă từng thu thập dữ kiện, từng 'công bố',  nhưng các dữ kiện này h́nh như ít khi nào, thậm chí chưa bao giờ, được công bố trên các tập san y học quốc tế, và do đó thế giới vẫn không biết ǵ.  Tôi cho rằng đó là một điều rất đáng tiếc, không chỉ trên phương diện khoa học mà c̣n trên phương diện đạo đức đối với nạn nhân của độc chất.  Nhà nghiên cứu cần và nên công bố những dữ kiện đó để thế giới biết được tác hại của độc chất.  

Kinh nghiệm từ Mĩ và Ư như tŕnh bày trước đây [8] cho thấy nghiên cứu tác hại lâu dài của độc chất da cam hay dioxin là một việc làm hoàn toàn khả dĩ.  Trong cuốn sách mới xuất bản (Chất độc da cam, dioxin và hệ quả, Nhà xuất bản Trẻ, 2004), tôi đă bàn tương đối chi tiết về ba định hướng nghiên cứu, mà tôi xin tóm lược như sau: Thứ nhất, phát triển cho được một phương pháp để ước định mức độ phơi nhiễm độc chất cho từng cá nhân trong những vùng từng bị ảnh hưởng độc chất; thứ hai, thiết lập mối liên hệ giữa mức độ phơi nhiễm độc chất da cam và các bệnh như ung thư, dị tật bẩm sinh, tiểu đường, và tỉ lệ giới tính; thứ ba, thẩm định tác hại của dioxin hay độc chất da cam đối với cấu trúc di truyền (gen).  

            Để đạt được những mục tiêu trên, chúng ta cần phải thiết kế một chương tŕnh nghiên cứu cho có hệ thống khoa học.  Nói có “hệ thống khoa học” có nghĩa là các công tŕnh nghiên cứu trong chương tŕnh này phải được tổ chức và tiến hành theo các nguyên tắc khoa học để sao cho kết quả có thể công bố trên các diễn đàn khoa học quốc tế và sao cho đồng nghiệp trên thế giới công nhận.  (Hiện nay, cũng có một vài công tŕnh nghiên cứu nhỏ trong nước, nhưng kết quả chưa được giới khoa học quốc tế đánh giá đúng mức v́ các khiếm khuyết liên quan đến phương pháp khoa học, mà một khi một công tŕnh nghiên cứu có dù quy mô đến đâu, mà không đúng phương pháp nghiên cứu th́ coi như công tŕnh đó bị huỷ bỏ). 

            Trước mắt một công tŕnh nghiên cứu có thể tiến hành ngay.  Năm 1991-1992 các nhà khoa học Mĩ và Việt Nam đo nồng độ dioxin trên 3.243 đối tượng khắp ba miền đất nước và kết quả đă được công bố vào năm 1995 [9].  Đây là một nghiên cứu rất tốn kém, nhưng rất tiếc là dữ kiện chưa được tận dụng đúng mức.  Vấn đề đặt ra là sau 10 năm, t́nh trạng sức khỏe của những đối tượng này ra sao: những người có nồng độ dioxin cao (hay thấp) vào năm 1991-1992 thường hay mắc những bệnh ǵ trong 10 năm sau đó, hay nguy cơ tử vong có liên hệ ǵ đến nồng độ dioxin hay không.  Để trả lời những câu hỏi này (và cũng là một cách cung cấp bằng chứng về ảnh hưởng của chất độc da cam trên sức khỏe nạn nhân) một nghiên cứu có thể được thiết kế rất đơn giản: tái thu thập các thông tin về sức khỏe của những đối tượng này, và sau đó tiến hành phân tích mối liên hệ giữa nồng độ dioxin và bệnh tật.  Đây là một nghiên cứu hoàn toàn khả thi (về nguồn nhân lực và tri thức sẵn có mà không phải chi phí quá tốn kém để đo nồng độ dioxin nữa), bởi v́ thông tin ban đầu đă có, chỉ cần thu thập thêm thông tin kế tiếp mà thôi.   

Tất nhiên khó khăn th́ vẫn đang trực chờ đấy, nhưng khó khăn không thể là hàng rào ngăn cản một công tŕnh nghiên cứu như thế, mà là những thách thức chúng ta cần giải quyết một cách sáng tạo.  Không thể thụ động để nói khó khăn mà không bắt tay làm.  Chỉ khi nào chúng ta tiến hành nghiên cứu th́ mới có số liệu để công bố, để làm cơ sở cho các đàm phán và phản biện với phía các công ti hóa chất Mĩ.  Tôi tin rằng với quyết tâm của lănh đạo và các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước một chương tŕnh nghiên cứu như thế có thể đem lại nhiều kết quả có ích không chỉ cho nạn nhân của độc chất da cam, mà c̣n cống hiến nhiều tri thức quan trọng cho thế giới y học. 

Vấn đề đạo đức và “bồi thường”  

            Có một sự thật cần phải nêu ra ở đây là trong quá tŕnh vận động cho vụ kiện, tuy có hàng triệu chữ kí ủng hộ của nhiều bạn bè trên thế giới, nhưng con số chữ kí từ người Việt hải ngoại th́ rất ít.  Có lẽ một phần là do những người điều hành các cơ sở truyền thông Việt ngữ hải ngoại tỏ thái độ chống lại tất cả những ǵ xuất phát Việt Nam mà họ vốn có thành kiến là của “Cộng sản Việt Nam”, nên hậu quả là hầu hết các cơ sở truyền thông hải ngoại đều im lặng, thậm chí có người c̣n chống lại cuộc vận động, v́ họ cho rằng việc đó chỉ làm lợi cho “cộng sản”!  Một vài cá nhân, được một vài cơ sở truyền thông hải ngoại trân trọng giới thiệu là “nhà nghiên cứu khoa học”, th́ t́m những lí lẽ cực ḱ ấu trĩ và phi khoa học để nói ngược lại các luận điểm của phía nguyên đơn.  Một số khác th́ có quan điểm cho rằng nếu phiên ṭa kết thúc có lợi cho phía nguyên đơn th́ số tiền bồi thường sẽ chẳng đến tay nạn nhân mà chỉ nằm đâu đó trong các cán bộ.  Những hiểu lầm và thái độ trên làm cho một bộ phận lớn trong cộng đồng người Việt hải ngoại thờ ơ trước một vấn đề hết sức lớn cho đồng bào trong nước.  

            Nhưng nói đến hai chữ “bồi thường” có phải là nói đến chuyện nạn nhân đ̣i tiền từ các công ti hóa chất Mĩ hay không?  Thực ra trong đơn kiện, các nạn nhân không đề cập cụ thể vấn đề này, mà một phần lớn chỉ nêu ra những cáo buộc về vi phạm luật pháp quốc tế.  Thành ra, trong t́nh h́nh quan hệ Việt – Mĩ ngày càng tốt đẹp như hiện nay, một vấn đề đặt ra những thành phần liên đới trong chiến dịch phun độc chất phải làm ǵ để hàn gắn vết thương chiến tranh, để khép lại một chương lịch sử đau ḷng.   

Các văn kiện quốc tế về quyền con người (human rights) như Qui ước về bảo vệ quyền con người và các quyền tự do cơ bản năm 1953 (European Convention for the Protection of Human Rights and Fundamental Freedoms) [10] và Qui ước của Mĩ về quyền con người năm 1978 (American Convention on Human Rights) đều có liệt kê điều khoản về bồi thường chiến tranh [11].  Theo các qui ước này, các thành phần tham chiến hay lực lượng vũ trang của thành phần tham chiến vi phạm điều khoản của Qui ước Hague 1907, nếu được yêu cầu, phải chịu trách nhiệm bồi thường cho nạn nhân [12].  Quyền được bồi thường là một quyền không thể tách rời khỏi các qui ước quốc tế về quyền con người và qui ước chiến tranh.  Quyền được bồi thường sau chiến tranh được ghi nhận và chấp nhận bởi các quốc gia trên thế giới.  Gần đây, Đạo luật Rome về Ṭa án tội phạm quốc tế cũng thiết lập một quĩ tài trợ (trust fund) cho nạn nhân chiến tranh và gia đ́nh của họ [13]. 

            Tuy trên văn bản là như thế, song trong thực tế th́ rất phức tạp, bởi v́ vấn đề có liên quan đến quan hệ chính trị, ngoại giao, và kinh tế giữa các phía lâm chiến.  Gần như là một mâu thuẫn với các qui ước quốc tế, c̣n có qui định rằng v́ chủ quyền quốc gia, các nước nạn nhân chiến tranh không thể đâm đơn kiện các nước gây ra tai họa chiến tranh nếu các nước này không chấp thuận!   Sau thế chiến thứ II, các nhà nước đồng minh thắng trận thiết lập một ṭa án quân sự (gọi là Tokyo Trial) để truy tố một số người Nhật (chính xác là 28 cá nhân) đă có hành động phạm tội chiến tranh, nhưng song song với truy tố tội phạm chiến tranh, các nước đồng minh cũng đề ra Kế hoạch ḥa b́nh Marshall (Marshall Peace Plan), mà theo đó, Mĩ viện trợ cho một Nhật dưới h́nh thức đầu tư kinh tế và hỗ trợ kĩ thuật.  

            Trong trường hợp Việt Nam, có lẽ cách thực tế là thiết lập một quĩ tài trợ quốc tế cho nạn nhân chất độc da cam tại Việt Nam.  Quĩ này sẽ do các nước trên thế giới từng tham chiến ở Việt Nam, kể cả có lẽ phần lớn từ Mĩ, đóng góp.  Quĩ nên được một hội đồng quốc tế đứng ra quản lí và điều hành dựa vào những tiêu chí nghiêm ngặt mà mọi bên đều nhất trí.  Vài việc làm cụ thể mà quĩ này có thể tiến hành như:  

Một, tổ chức điều trị những bệnh được công nhận là do phơi nhiễm độc chất gây ra (như ung thư, dị tật bẩm sinh, tiểu đường, bệnh da, v.v.), tạo công ăn việc làm cho những cư dân trong các vùng bị nhiễm (như lập ra những trường hay trung tâm dạy nghề theo mô h́nh của trung tâm do ông Trần Duyên Hải điều hành ở Hà Nội), lập bệnh xá và trường học để nâng cao đời sống vật chất và tŕnh độ văn hóa cho nạn nhân và cư dân tại những nơi bị nhiễm độc chất.  

Hai, quĩ nên bỏ ra một số ngân khoản để làm sạch môi trường tại những nơi bị nhiễm nặng như Biên Ḥa, A Lưới, A Sao, v.v.  Hiện nay, kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy tại các địa điểm này, nồng độ dioxin rất cao, có khi cao hơn 130 lần nồng độ an toàn cho phép, v́ chất độc đă lắng đọng xuống ḷng đất, nhất là các nơi bùn lầy.  Do đó, nhu cầu làm sạch môi trường tại những nơi này phải được xem là một ưu tiên hàng đầu.  

Ba, quĩ tài trợ nên hỗ trợ và giúp đỡ thành lập một viện nghiên cứu quốc tế về chất độc da cam và dioxin.  Viện sẽ qui tụ nhiều chuyên gia trên thế giới về hóa học, y học, môi trường học và dịch tễ học để tiến hành những nghiên cứu cơ bản cũng như nghiên cứu lâm sàng xác định cơ chế tác hại của dioxin và chất độc da cam trên con người và môi trường.  Viện cũng có thể phục vụ như là một trung tâm đào tạo các nhà khoa học tương lai chuyên về môi trường học và y tế - môi trường học. Đây là một việc làm mang ư nghĩa quốc tế v́ nó sẽ cung cấp thông tin khoa học quí báu vào kho tàng tri thức của con người về tác hại của dioxin.   

Nước Đức thời hậu chiến ghi nhận trách nhiệm về sai lầm của Đức trong thế chiến thứ II, không chỉ v́ nạn nhân của chiến tranh, mà c̣n v́ tương lai nước Đức.  Người Đức hiểu rằng một quốc gia không dám nh́n nhận cái sai trái của ḿnh trước con em ḿnh và trước thế giới th́ không thể nào khôi phục đạo đức được.  Do đó, vấn đề c̣n có một ư nghĩa lớn hơn ở đây: Trong tương lai khả năng mà nước Mĩ gây ảnh hưởng tích cực đến thế giới tùy thuộc vào uy tín đạo đức của Mĩ.  Một nước Mĩ vĩ đại và hào hiệp chỉ có thể xây dựng trên nền tảng đạo đức vững mạnh.  Người Mĩ từng ghi nhận rằng không chỉ Mĩ mà c̣n có nhiều người khác trên hành tinh này cũng có quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc như người Mĩ.  Trong trường hợp nạn nhân chất độc da cam, người Mĩ cũng có thể bắt đầu với một trong những chân lí quan trọng nhất: đó là nên nhận lănh trách nhiệm về những tác hại của độc chất trong thời chiến.

 

 Chú thích 

[1] Xem Diễn Đàn số tháng 6/2003, Nguyễn Văn Tuấn, “Chất màu da cam trong cuộc chiến Việt Nam: Xét lại qui mô và tầm ảnh hưởng”. 

[2] “Vietnam: ‘The Biggest Chemical War’ in History”, Le Nouvel Observateur, số ra ngày 14/3/2004.  Ngoài ra, Tháng Tư năm 2002, một cuộc hội thảo khoa học tại Đại học Yale, qui tụ nhiều nhà khoa học môi trường hàng đầu trên thế giới, họ xem xét và đánh giá những bằng chứng nghiên cứu khoa học mới nhất, và đi đến kết luận rằng chiến dịch phun hóa chất da cam trong thời chiến là một “cuộc chiến tranh hóa học lớn nhất trong lịch sử nhân loại.”   

[3] Xen Diễn Đàn số tháng 12/2001, Nguyễn Văn Tuấn, “Dioxin và bệnh tật”.   

[4]  Nguyên văn bản phán quyết (tiếng Anh) có thể xem tại địa chỉ sau đây: http://www.ffrd.org/AO/10_03_05_agentorange.pdf http://Vietnam-Dioxine.org 

[5]  Section 2, Chapter 1, Article 23 of Convention (IV) respecting the Laws and Customs of War and Land and its annex: Regulations concerning the Laws and Customs of War on Land.  The Hague, 18 October 1907. 

[6]  Tài liệu đă dẫn số [5], Article 22. 

[7]  Protocol for the Prohibition of the Use of Asphyxiating, Poisonous or Other Gases, and of Bacteriological Methods of Warfare.  Geneva: 17 June 1925. 

[8]  Xem Diễn Đàn số tháng 4/2002 “Dioxin, Việt Nam và Mĩ: giữa t́nh cảm và khoa học” và Diễn Đàn số tháng 12/2004, “12/2004 “Dioxin và kinh nghiệm từ Seveso”.  

[9]  Công tŕnh nghiên cứu này do Giáo sư Arnold Schecter chủ tŕ dưới sự cộng tác của các đồng nghiệp Mĩ – Việt, đă được công bố dưới tựa đề “Agent Orange and the Vietnamese: the persistence of elevated dioxin levels in human tissues,” đăng trong American Journal of Public Health, năm  1995, tháng Tư, bộ 85, trang 516-22.  

[10] Article 5 of the European Convention for the Protection of Human Rights and Fundamental Freedomes, 3 September 1953. 

[11]  Article 10 of the American Convention on Human Rights, 18 July 1978. 

[12]  Article 3 of the Hague Convention of 1907. 

[13]  Article 79 of the Rome Statute of the International Criminal Court.

Bài trong tháng

 

 

   

Copyright Chuyển Luân 2005

Designed by HT MEDSOFT

CHUYỂN LUÂN ONLINE