Sen xa hồ sen khô hồ cạn

NHÂN ĐỌC BÀI  TỪ MỘT CHUYẾN ĐI của HOÀNG NAM

Nhật Nam

 

Tháng Ba năm 2005, bài viết Từ Một Chuyến Đi ... Xin Đặt Vấn Đề Với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất của tác giả Hoàng Nam đă được phổ biến rộng răi trên hệ thống thông tin toàn cầu Internet và gây ra nhiều thảo luận sôi nổi v́ tính thời sự của nó. Nội dung bài viết chủ yếu tập trung vào ba câu hỏi trực tiếp đặt ra cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại Hải ngoại (GHPGVNTN) về trách nhiệm của Giáo hội nầy khi dung túng hành xử bất minh và bất xứng, thậm chí c̣n phá Thầy và phản Đạo, của ông Vơ Văn Ái thuộc Pḥng Thông tin Phật giáo Quốc tế, nhân chuyến về thăm Việt Nam của Thiền sư Nhất Hạnh.  

Chính v́ mang một nội dung nóng bỏng như vậy, nên bài viết cũng đă tạo ra được những quan tâm đặc biệt của Phật tử trong nước đang hướng về chuyến đi của thầy Nhất Hạnh với rất nhiều phấn khởi và kỳ vọng. Trên nền một bối cảnh như thế, những ǵ thấp thoáng đàng sau bài viết mà tác giả Hoàng Nam chưa muốn đề cập đến một cách rốt ráo, bỗng hoán vị và mang một vóc dáng mới, có tính căn bản hơn; cũng như tác động của chính bài viết bỗng mang một kích thước mới, sâu rộng hơn. 

Thật vậy, tuy tác giả Hoàng Nam chỉ đặt ba câu hỏi giới hạn trong hành động ‘vội vàng’, ‘nóng nảy’, ‘vô trách nhiệm’, ‘mỉa mai’,  ‘châm chọc’, ‘vu khống’, ‘gian ác’, ‘dối trá’, ‘thêm thắt’, ‘lươn lẹo’ và ‘bêu xấu người một cách tiểu nhân’ của ông Vơ Văn Ái, Giám đốc Pḥng Thông tin Phật giáo Thế giới mà cũng là Phát ngôn viên chính thức của GHPGVNTN, nhưng qua bài viết, Hoàng Nam c̣n hé mở cho người đọc thấy GHPGVNTN đă, đang và sẽ phải đối diện với nhiều vấn nạn cơ bản và trầm trọng hơn nhiều. Vấn nạn về bản chất, về chủ trương, về phương hướng và cung cách hoạt động của một tổ chức Phật giáo cởi nửa áo cà sa để làm chuyện chính trị thế sự. Vấn nạn cả về gốc lẫn ngọn ngành của một Giáo hội về chính bản thân ḿnh, về những động thái tôn giáo và chính trị khi tiếp cận với hiện thực của cuộc đời.  

Ta hăy đọc lại lời tâm sự mang tính cảnh báo của tác giả: ‘Tôi quả đă thực sự có ư, một lần nầy, đặt ra cho hết mọi vấn đề. Giáo hội thực chất là ǵ ? Pháp nạn là đâu ? Kế thừa truyền thống là kế thừa thế nào trong hành động và đời sống ? Đâu là ư nghĩa chân thực của việc bảo vệ và hộ tŕ Chánh pháp ? Những tuyên ngôn, tuyên cáo, quyết định đầy chữ nghĩa kia có giá trị ǵ khi đối chiếu với cuộc sống và thực trạng ? Ai và cái ǵ đang thực sự hủy hoại gia tài tinh thần mà GHPGVNTN đă gầy dựng và vun bồi bằng bao tâm huyết và hy sinh ? Những ai và cái ǵ đă khiến người Phật tử phải ôm lấy nỗi đau nổi nhục ? Căn bản của Thống Nhất là ǵ ? Chia rẽ là bởi đâu ? Và ‘...Tôi có thể đặt ra hàng trăm vấn đề từ trong các vấn đề căn bản trên đây. Nhưng thôi. Càng nói càng đau khi nỗi nhục ai gây nên kia cũng là nỗi nhục của ḿnh. V́ vậy, ít ra trong lúc nầy, tôi tự giới hạn cho ḿnh, chỉ nêu ba vấn đề liên quan trực tiếp đến cách phản ứng của ông Phát Ngôn Viên của GHPGVNTN. Tôi đặt ra là để chờ đợi sự trả lời thích đáng từ quư vị lănh đạo của Giáo hội nầy trước khi, nếu chẳng đặng đừng, phải tiếp tục cái công việc mà tôi không bao giờ muốn làm nầy’. 

Trong khi chờ đợi quư vị lănh đạo của GHPGVNTN trả lời thích đáng và có hành động đáp ứng bài viết Từ Một Chuyến Đi ..., tôi xin góp vài ư kiến nhỏ về cái công việc mà Hoàng Nam sẽ không bao giờ muốn làm nầy. Những góp ư sau đây, do đó và trước hết, là để bày tỏ sự đồng cảm về những trăn trở của một người đồng đạo, và đồng thời cũng để chia sẻ với tâm sự của Hoàng Nam, người đă ‘càng nói càng đau khi nỗi nhục ai gây nên kia cũng là nổi nhục của ḿnh’. Và sau đó là, từ cương vị của một Phật tử đang ở hải ngoại và đứng gần trung tâm cơn lốc GHPGVNTN, để xin thẳng thắn đóng góp một phần suy tư rất nhỏ, trong tinh thần Kiến ḥa đồng giải, vào công cuộc vận động phục hoạt của Phật giáo Việt Nam. 

Nếu một tổ chức, theo Hoàng Nam, đang mang trong ḿnh ‘hàng trăm vấn đề’, mà vấn đề nào cũng mang tính sinh tử cả, th́ tổ chức đó chắc chắn có điều ǵ ... không ổn ! Tôi chỉ xin bày tỏ ư kiến rất ngắn về ba trong nhiều vấn đề của GHPGVNTN mà Hoàng Nam có đặt ra dưới dạng câu hỏi nhưng không/chưa muốn trả lời trong bài viết của ông:

·           Vấn đề Truyền thừa

·           Vấn đề Danh tướng

·           Vấn đề Pháp nạn 

1-         Truyền thừa - GHPGVNTN vẫn thường, qua các văn bản chính thức cũng như không chính thức, minh nhiên hay hàm ư xác định rằng Giáo hội là kẻ thừa kế chân truyền và duy nhất của truyền thống Phật giáo Việt Nam. Theo tôi, đó chỉ là một phản ứng chính trị và là một tuyên bố vọng ngữ, mang nhiều tính thách thức, để đối phó với sự hiện diện áp đảo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) trong nước đang được chính quyền nâng đở bảo hộ mà thôi. Và ở một mặt nào đó, để xác nhận với các trung tâm quyền lực quốc tế, đặc biệt là Mỹ và một số thế lực chống Cọng của người Việt  ở hải ngoại, tư cách đầu đàn và thống lănh của Giáo hội khi so sánh với bảy Giáo hội Phật giáo khác cũng đang sinh hoạt ở nước ngoài.(1) Ngoài ra, GHPGVNTN có ‘thống nhất’ được bảy Giáo hội nói trên, và hàng ngàn Tổ đ́nh, Tu viện, Thiền thất, Tịnh xá, Đạo tràng, Phật học viện, Niệm Phật đường, Trung tâm Phật giáo, Hội Cư sĩ ... độc lập khác cả ở trong lẫn ngoài nước (2), vốn không có liên hệ hàng ngang cũng như hàng dọc ǵ với Giáo hội, lại là một vấn đề khác. Sự thậm xưng và mạo nhận đó của GHPGVNTN, dù v́ động cơ ǵ, cũng đều không phản ảnh đúng đắn ư niệm truyền thừa trong quan điểm Phật giáo, nhất là quan điểm vận dụng truyền thống Phật giáo vào đạo và vào đời.      

Từ thế kỷ thứ hai, Trung tâm Phật giáo Luy Lâu ở Giao Châu mở đầu cuộc trường chinh mang Chánh pháp của Đức Phật quấn quyện với nền văn hóa dân tộc để đi vào lịch sử giữ nước và dựng nước của tổ quốc. Rồi thời đại Lư Trần gần 400 năm rực rỡ với một Thiền phái Trúc Lâm độc đáo và đậm đà bản sắc dân tộc. Rồi một đêm dài suy nhược, biến dạng và hầu như mất dần sinh lực dưới hai triều đại Lê Nguyễn. Cho đến năm 1963, Phật giáo hùng tráng trở ḿnh để bắt đầu nỗ lực tái xác định vai tṛ chủ đạo văn hóa quốc gia trong một đất nước đang hoang tàn v́ chiến cuộc. Và từ năm 1975, v́ những điều kiện khách quan và chủ quan, Phật giáo Việt Nam bước vào một cuộc khủng hoảng phân liệt, mà trong nước th́ bị nhà cầm quyền nghi ngờ quản chế, c̣n ngoài nước th́ nổi trôi vật vờ trong một môi sinh chính trị lừa lọc và những ḍng chảy văn hóa xa lạ và khắc nghiệt.

Trong suốt hai ngàn năm đó, Phật giáo Việt Nam cũng đă vươn vai lớn dậy và tạo cho ḿnh một vóc dáng đặc thù là nhờ hành trạng và trước tác viết trên giấy cũng như viết trên đời trên đạo của Mâu Tử, Khương Tăng Hội, Huệ Thắng, Pháp Hiền, Thanh Biện, Vân Phong, Vô Ngôn Thông, Khuông Việt Ngô Chân Lưu, La Qúy An, Đỗ Pháp Thuận, Vạn Hạnh, Thuyền Lăo, Viên Chiếu, Chân Nguyên, Lư Thánh Tông, Lư Đạo Thành, Ỷ Lan, Từ Đạo Hạnh, Minh Không, Huệ Quang, Trúc Lâm Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Thông Biện, Măn Giác, Ngô Ấn, Thường Chiếu, Hiện Quang, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Pháp Loa, Huyền Quang, Ức Trai Nguyễn Trăi, Hương Hải, Phổ Tịnh, Liễu Thông, Đạo Thông, Triệu Châu, Lê Đ́nh Thám, Quăng Đức, Thiện Minh ...   

Đó chủ yếu là bề dày lịch sử và những gia tài trí tuệ để từ đó khai sinh ra truyền thống của Phật giáo Việt Nam mà tất cả mọi Phật tử, xuất gia hay tại gia, chứ không riêng một Giáo hội nào, đều thừa kế trong xương tủy của ḿnh bằng những chủng tử trong và đục, nhục và vinh, vốn đă tàng trữ và huân tập trong suốt 2000 năm của ḍng sinh mệnh Phật giáo Việt Nam. Vậy th́ tại sao GHPGVNTN lại có thể độc quyền dành lấy và giữ chặt riêng cho ḿnh, lại gián tiếp dùng những tiêu chuẩn chính trị bèo bọt nhất thời để loại trừ tính thừa kế của người khác hoặc của tổ chức khác ? Và khi nói thừa kế là thừa kế ǵ: Lời dạy của Đức Phật và các Tổ ? Con đường tu chứng ? Triết lư nhập thế ? Quá tŕnh hành hoạt ? Hay hệ thống tổ chức ?

 

Tuy nhiên, cũng xin nói rỏ rằng tôi là ai mà dám phủ nhận tính truyền thừa của GHPGVNTN, hay của bất kỳ một tổ chức Phật giáo nào. Nhưng tôi cực lực phản đối việc Giáo hội này độc chiếm sự thừa kế đó, nhất là độc chiếm chỉ v́ những những nhu cầu chính trị nhất thời. Vă lại, thừa kế để làm ǵ nếu không phát huy được để vận dụng một cách tích cực và sinh động, bất biến và tùy duyên, khế thời và khế cơ, vào việc tu và hành của Tăng đoàn, Tứ chúng, và Chúng sanh. 

2-         Danh tướng - Trong quá khứ, khi chưa là một Phật tử, tôi đă từng hơn một lần công khai nói và viết về GHPGVNTN với tất cả ḷng kính trọng và ngưỡng mộ. Xuất sinh từ cuộc vận động cách mạng xă hội mà đ̣i hỏi tiên quyết là quyền b́nh đẳng tôn giáo dưới chế độ độc tài tôn giáo trị Ngô Đ́nh Diệm vào năm 1963, Giáo hội đă bi hùng đóng trọn vai tṛ lương tâm quốc gia của ḿnh bằng không biết bao nhiêu hy sinh thống khổ. Chủ trương Bất bạo động và sách lược Công tâm, dùng chính nội lực của ḿnh để đánh vào ḷng người, đă được vận dụng và triển khai tuyệt vời, mà cao điểm là ngọn lửa Thích Quảng Đức với lời nguyện lấy nhân thân làm ngọn đuốc để tha thứ và thức tỉnh chính kẻ đang đày đọa ḿnh, đă là một dấu ấn hào hùng và nhân bản, một thể hiện tṛn đầy của Bồ Tát Đạo cả trong ḍng sử Phật giáo lẫn ḍng sử  dân tộc. Rồi GHPGVNTN được thành lập năm 1964 bằng một văn kiện hành chánh của chính phủ Nguyễn Khánh trong khung pháp lư của chế độ Việt Nam Cọng ḥa tại miền Nam Việt Nam. Đến năm 1967, v́ lư do chính trị nhưng chủ yếu v́ nội bộ của Phật giáo phân hóa, chính quyền Nguyễn văn Thiệu chỉ thừa nhận ‘Phật giáo Quốc tự’, c̣n ‘Phật giáo Ấn Quang’, cái nôi của các thầy Huyền Quang, Quăng Độ, Tuệ Sĩ, Nhất Hạnh hôm nay th́ đi vào đối lập dù cả hai phía đều sử dụng cùng danh xưng GHPGVNTN. Và sau năm 1975, như tất cả mọi định chế, cơ cấu, tổ chức của chính phủ VNCH và của xă hội dân sự  miền Nam, dù lớn hay nhỏ, GHPGVNTN cũng đă bị giải thể trong chế độ mới nầy. Như vậy, ít nhất là trên nguyên tắc hành chánh có giá trị tại Việt Nam kể từ sau 1975, Giáo hội nầy với tên gọi của nó, cùng với giáo hội của các tôn giáo dân tộc khác,  chính thức chấm dứt sự tồn tại của ḿnh. 

Nhưng trước chính sách độc tài kiểu Stalinist theo cung cách Việt Nam của chính quyền mới, nhất là chính sách đối xử hà khắc và bất công với đồng bào miền Nam, trong đó có đồng bào Phật tử, Phật giáo đă có những phản ứng nổi và ch́m. Nổi là những vụ tự thiêu và các tuyên ngôn phản kháng không đi đến đâu trước khí thế và sức mạnh của lực lượng thắng trận, vừa hoàn thành được một sứ mạng lịch sử là thống nhất đất nước; và ch́m là sự phục hoạt và đưa tổ chức GHPGVNTN vào bóng tối với mục tiêu mới, cơ cấu mới, và phương thức hành động mới. Tuy nhiên, quyết định sử dụng danh xưng, tức là tư cách pháp nhân, do chính quyền củ phê chuẩn, vô t́nh hay cố ư, lẽ dĩ nhiên bị xem như là �tàn dư� kéo dài của chế độ VNCH và đă đương nhiên đặt Giáo hội và nhà nước Việt Nam vào thế đối nghịch mất c̣n ‘Cọng sản - Quốc gia’ của thời kỳ ‘ai thắng ai’ trước 1975.  Quyết định sai lầm đó cũng đă làm cho Giáo hội mất đi ba cơ hội chiến lược hiếm có để tồn tại và phát triển. Thứ nhất là vào năm 1981, khi Giáo hội, với tất cả uy tín và sức mạnh của ḿnh chưa sứt mẽ, có thể  tiềm tàng gia nhập GHPGVN do nhà nước tác thành dưới sự quản chế của Mặt trận Tổ quốc, để bảo toàn tiềm lực và chuyển hóa tở chức. Thứ nh́ là vào năm 1986, khi đất nước bắt đầu đổi mới, khi chế độ Cọng sản bắt đầu ‘đổi tính mà không đổi tên’, thay da đổi thịt để trở nên thông thoáng hơn hầu h́nh thành những sinh hoạt của một xă hội dân sự, trong đó hoạt động tôn giáo và tín ngưỡng là một h́nh thái, nhằm yểm trợ cho tiêu chí ‘dân giàu nước mạnh’ trong tiến tŕnh toàn cầu hóa. Và thứ ba là vào năm 2004, khi cuộc gặp mặt của người lănh đạo cao cấp nhất của Nhà nước với vị lănh đạo cao cấp nhất của Giáo hội đă bị đi vào ngơ cụt v́ nhiều chướng duyên cố chấp và vọng động, mặc dầu cả hai vị nầy đều có nhiều thiện chí đối thoại để ḥa giải.  

Cho nên GHPGVNTN, với danh xưng mang nhiều hệ lụy chính trị quá khứ đó, với quá tŕnh hành động đối đầu một mất một c̣n đó, đă bỏ lỡ chuyến tàu lịch sử. Bây giờ, năm 2005, trong khi sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng đang, ít nhất là trên bề mặt, nở rộ tại Việt Nam; trong khi GHPGVN đă âm thầm và kiên tŕ đóng góp được ít nhiều Phật sự cả bề sâu lẫn bề rộng, cả đạo lẫn đời, cho Tăng chúng và tuyệt đại đa số đồng bào Phật tử trong nước; trong khi Giáo hội Công giáo La Mă �khôn ngoan� tiến hành sách lược đối thoại và hợp tác với nhà nước để cũng cố và phát triển công cuộc truyền giáo và tham vọng chính trị của họ; trong khi toàn dân đang hướng về tương lai để xây dựng một đời sống ấm no hạnh phúc; và quan trọng nhất, trong khi cả dân tộc - từ nhà nước đến người dân - có vẽ như đang chờ đợi Phật giáo đóng vai tṛ phên giậu quốc gia trước những đợt tiến công ác liệt vào nền văn hóa dân tộc, vào nền đạo lư cha ông, vào niềm tự hào tổ quốc, th́ GHPGVNTN vẫn giậm chân tại chỗ, sống trong hào quang nay đă mờ nhạt của một thời đă qua, và mượn ngọn cờ vàng ba sọc đỏ của một chế độ đă tiêu vong để quyết giải thể chế độ hiện tại, chống Cọng đến vị Trưởng tử Như Lai cuối cùng của Giáo hội.  

Tất cả bắt đầu cũng v́ chấp vào danh nên lụy vào tướng, tạo ra sợi xích thằng rồi thủ chấp tự trói lấy ḿnh. Danh tướng của Giáo hội mà bây giờ Tây Mỹ đang thổi lên v́ quyền lợi của nước họ và được các ‘Phát ngôn viên’ của GHPGVNTN ở nước ngoài, nhiều khi nhận tiền của họ, để phù phép khuếch đại lên. Danh tướng do hệ thống truyền thông gọi là �chống Cọng� của Công giáo La Mă hải ngoại tô son điểm phấn rồi xui nguyên dục bị cho ư đồ chiến lược thế tục ‘lá trái lá mặt’ của họ. Và quan trọng hơn cả, danh tướng vạch ra một lằn ranh phân biệt Phật giáo nầy th́ truyền thừa và Phật giáo kia th́ thân chính, đào sâu hố chia rẽ, có khi c̣n hận thù,  trong ḷng đại khối đồng đạo cùng một niềm thao thức, cùng một niềm ước mơ về một Phật giáo Việt Nam ‘thống nhất Bắc Nam Trung từ nay, một ḷng chúng ta tiến lên v́ Đạo thiêng’ ...        

3-         Pháp nạn - Biến cố 1963, tuy được chúng ta gọi là Pháp nạn nhưng đó cũng là thời kỳ mà Phật giáo Việt Nam cường thịnh nhất trong lịch sử cận đại. Cường thịnh nhất v́ tuy bị bạo quyền đàn áp và khống chế nhưng Tăng chúng th́ đạo hạnh vững vàng, Phật tử th́ đoàn kết muôn người như một, Phật sự th́ thễ hiện đúng Chánh pháp. Cho nên khi tiếng hịch của Phật giáo cất lên th́, từ vị trí nạn nhân, tức khắc chúng ta có chính nghĩa, tức khắc chúng ta có được sự đồng t́nh, đồng chí, đồng ư, đồng thuận, do đó là sự đồng hành sắt son của toàn dân. Bị cường quyền thực dân, rồi đế quốc phương Tây và tay sai bản xứ kỳ thị, áp bức, đè nén trong hơn 150 năm, Phật giáo đă tránh trực tiếp đối đầu, xét lại chính ḿnh để nghĩ đến đường xa, lui về ẩn náu trong căn cứ địa vững chắc nhất của ḿnh: Văn hóa dân tộc và Ḷng tin của dân tộc. Để bảo vệ Giáo hội, kiện toàn Tăng chúngï và xiển dương Chánh pháp từ đáy tầng xă hội.  

C̣n bây giờ, 30 năm đă trôi qua kể từ ngày đất nước được thống nhất, Phật giáo Việt Nam vẫn bị phân chia tách biệt ra hai vùng địa dư và hai măng tư duy. Trong nước cũng chia hai, ngoài nước cũng chia hai, tạo ra bốn xứ trú hầu như bất khả tương thông và dứt đường đối thoại. Trong nước, các ‘thầy Thống Nhất’, tuy tuyệt đại thiểu số và chính v́ tuyệt đại thiểu số, nên càng lúc càng cứng nhắc không khoan nhượng trong lập trường cũng như trong hành động. Chủ yếu tồn tại là nhờ áp lực của ngoại bang, bất kể áp lực ǵ và đến từ đâu, hơn là nhờ nội lực của chính ḿnh, các Thầy chỉ biết chống và chống. C̣n các ‘thầy Thân Chính’ th́ thu ḿnh trong sự bao che và chỉ đạo của Nhà nước, bị động và thiếu sinh khí, biến Phật giáo đồ thành một lực lượng quần chúng bên lề và tác động không được bao nhiêu đến đời sống của quốc gia và trong đục của xă hội. Giáo pháp trong sáng, tích cực, hiện thực và nhân bản của Đức Phật mà Tây phương đang hân hoan t́m đến ở xứ người, th́ tại Việt Nam, hoặc trở nên bi quan dị ứngï với giới trí thức và thanh niên, hoặc trở thành mê tín dị đoan, ẩn hiện huyền bí sau nhang đèn của những người đi xin lộc cầu phước.  

Ngoài nước th́ c̣n tệ hơn, dù phe nầy hay phía kia th́ cũng chỉ là những ốc đảo rời rạc, năng động lắm th́ biến thành công cụ múa may của các thế lực thần quyền và thế quyền phi dân tộc và phản dân tộc. Bị khống chế bởi chính tư duy hóa thạch của ḿnh, bị điều động bởi những phù thủy chính trị chuyên nghiệp đi làm chuyện ‘Liên tôn chống Cộng’, bị lạc lơng trong một thế hệ người Việt mới, và quay cuồng trong đời sống duy lợi và duy danh, Phật giáo Việt Nam tại hải ngoại lo xây chùa lớn, lo biểu t́nh đă đảo, lo vận động chính trị hành lang, lo ra ṭa để chuẩn bị vào khám, lo xin tiền cúng dường để bảo đảm thu nhập, ... 

Phật giáo Việt Nam ngày hôm nay mà bị suy nhược như thế, th́ trước hết và trên hết là do đạo hạnh và hành hoạt của quư Thầy, một Tăng đoàn và là một Nhị bảo để Phật tử quay về và nương dựa, đang từ từ xa ĺa Chánh Pháp. Cũng có trường hợp của một số hiếm hoi các Tăng và Ni trẻ năng động, hoặc lác đác đôi ba vị cao tăng thầm lặng, hay một vài tập hợp cư sĩ đứng đắn, nhưng đó chỉ là biệt lệ v́, trên tổng thể, rơ ràng là Tăng đoàn thiếu tu học, phẩm hạnh đáng nghi ngờ, lại chia rẽ ḱnh chống nhau, nói lời ác ngữ, thích tŕnh diễn danh tướng, buông chạy theo thế sự. T́nh trạng  thê thảm đó, theo tôi, mới thật sự chính là Pháp Nạn.

Thật vậy, trước giờ phút nhập Niết Bàn, Đức Phật đă căn dặn, như một �trối trăn� quan trọng, như một tiên đoán đầy ứng nghiệm trong khoa học quản lư, rằng: ‘Này ông A-nan ! Ví như con sư tử mệnh tuyệt thân chết, dù ở không trung, dù ở đất, dù ở trong nước, dù ở cạn, tất cả chúng sinh không dám ăn thịt con sư tử ấy. Tự thân con sư tử ấy sinh ra ḍi bọ, chúng liền dám ăn con sư tử ấy. Này ông A-nan, Phật pháp của ta không có cái ǵ khác có thể phá hoại được, chỉ có bọn ác Tỳ-khiêu trong đạo pháp của ta giống như cái ṿi độc hại, phá hoại Phật pháp của ta cần khổ tập thành suốt ba A-tăng kỳ kiếp.’(3)

Cọng sản độc tài làm sao ăn được thịt con sư tử ấy, Tư bản duy lợi làm sao ăn được thịt con sư tử ấy, Vatican xảo quyệt làm sao ăn được thịt con sư tử ấy, chỉ có bọn ác Tỳ-khiêu ẩn náu trong Tăng đoàn của Phật mới phá hoại được Phật pháp. Cho nên khi mà sư tử trùng đă tung ṿi độc ra th́ Phật giáo sẽ mệnh tuyệt thân chết. Đó mới thật sự chính là Pháp Nạn. 

 

Lời cuối, xin có vài ḍng tâm sự với Hoàng Nam:

Tôi không có được tấm ḷng rộng răi bao la như ông, lấy cái nhục của người làm cái nhục của ḿnh. Tôi cũng không gắn bó thiết thân với GHPGVNTN như ông, để muốn nói hết về Giáo hội nầy nhưng vẫn c̣n ngần ngại không nói. Nhưng có lẽ giống ông, tôi có một niềm tin vững chắc vào giáo lư của Đức Phật và một t́nh yêu không bờ bến cho tổ quốc Việt Nam.   

Cho nên nh́n lại Phật giáo Việt Nam và nh́n về tổ quốc Việt Nam vào thời điểm nầy, chưa bao giờ tôi thấy Việt Nam cần Phật giáo và Phật giáo cần Việt Nam như bây giờ để giải quyết cuộc khủng hoảng khốc liệt và sinh tử nhất cho dân tộc mà ông đă đúng đắn nêu ra trong bài viết:  T́nh trạng vong thân văn hóa và mất định hướng đạo lư của con người và xă hội Việt Nam. Mà giải quyết vấn đề con người, th́ tiên quyết phải giải quyết vấn đề tâm thức con người, vốn là sở trường số một của Phật giáo, tại v́ ‘sự  đóng góp quan trọng của Phật giáo là đóng góp trên lănh vực tâm linh, tinh thần, văn hóa và xă hội chứ không phải là trên lănh vực quân sự và quốc pḥng.’(4) Phật giáo cường thịnh th́ quốc gia hùng mạnh, Phật giáo suy nhược th́ quốc gia suy vong. V́ vậy, tôi không thể không nói rằng Pháp nạn của Phật giáo Việt Nam hôm nay như tôi hiểu mới sẽ là Quốc nạn của Tổ quốc Việt Nam ngày mai như sen xa hồ th́ sen cũng khô mà hồ cũng  cạn vậy. 

Lễ Bố Tát chung tại Huế trong mùa Xuân năm nay, mà thầy Nhất Hạnh đề xuất và các thầy từ những vị thế khác nhau ở Huế  chấp hành, chính là mệnh lệnh của lịch sử , là nhu cầu của đất nước và là ước mơ nóng bỏng của Phật tử để mở đầu một chu kỳ tươi sáng hơn cho dân tộc và đạo pháp. Tôi thiết tha mong rằng những người đang nắm quyền quản trị đất nước hiện nay, và nhất là một số Giáo hội và Phật tử đang chếnh choáng trong cơn Pháp nạn, thấy được cả ư nghĩa tôn giáo lẫn siêu tôn giáo của hành sự này (5), để chúng ta c̣n được hy vọng về một quê hương Việt Nam có trời thật xanh, gió thật mát và nắng thật hiền ...     

  

 Nhật Nam

 3-2005.          

Cước chú:

1 - Tống hội Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ của Thầy Măn Giác, Giáo hội Tăng già Thế giới của Thầy Tâm Châu, Giáo hội Phật giáo Tăng già Khất sĩ Thế giới của Thầy Giác Nhiên, Giáo hội Linh Sơn của Thầy Huyền Vi, Giáo hội Phật giáo Thiền Lữ của Thầy Thanh Cát, Giáo hội Phật giáo Nguyên Thủy của Thầy Hộ Giác, và Ḍng tu Tiếp Hiện của Thầy Nhất Hạnh.

2 - Theo Tập Địa chỉ Các Chùa trên Thế giới do Giáo hội Phật giáo Tăng già Khất sĩ Thế giới phát hành, ấn bản năm 2005, th́ chỉ riêng ở hải ngoại đă có 563 chùa/cơ sở Phật giáo. Đông nhất là tại Mỹ với 286 cỡ sở, và ít nhất (chỉ một chùa) là tại chín nước gồm Côte d'Ivoire, Áo, Ái Nhĩ Lan, Ư, Nhật, Nepal, Ḥa Lan, Phi Luật Tân, và Nga. C̣n trong nước, với hơn 60 Thành phố và Tỉnh thị, con số được ước đoán là 6.000 chùa/cơ sở th́ người viết chưa có tài liệu để kiểm chứng.

3 - Hoa Diện Kinh (quyển Thượng) nói về việc Đức Phật sắp sửa nhập Niết Bàn, sai ngài A-nan quan sát kỹ càng kim thân, nói cho ngài Xá Lợi Phất về những Phật sự cần làm, lại hiện rơ những việc xấu hoại Pháp trong tương lai để các ngài đó sinh ḷng chán ghét xa ĺa (Từ Điển Phật Học Hán Việt - Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phân viện Nghiên cứu Phật học, Hà Nội, 1998)

4 - Lư Khôi Việt, Hai ngàn năm Việt Nam và Phật giáo, Phật học viện Quốc tế, Hoa Kỳ, 1981

5 - Mục đích chính của việc hành sự Bố Tát định kỳ nửa tháng là duy tŕ sinh mệnh tồn tại của Tăng đoàn theo tinh thần ḥa hợp và thanh tịnh. Tuy nhiên, tinh thần Bố Tát cũng được Đức Bổn Sư mở rộng cho các đệ tử tại gia dưới h́nh thức thọ tŕ Bát Quan Trai trong thời hạn một ngày một đêm ... Bất cứ trú xứ nào mà các Tỳ kheo không ḥa hợp tụ hội định kỳ nửa tháng làm lễ Bố Tát để tụng đọc giới bổn Ba La Đề Mộc Xoa, th́ nơi ấy Tăng Đoàn được xem như là bị chia rẽ, chưa có sự ḥa hợp.  Và nếu trú xứ nào mà Tăng chúng định kỳ nửa tháng ḥa hợp tụ hội để Bố Tát th́ Tăng đoàn trú xứ ấy xem như là Phật giáo hưng thịnh và được coi như có sự hiện diện của Đức Bổn sư Thích Ca Mâu ni Phật. Do đó, Bố Tát là mạng mạch của Tăng đoàn nên không có chúng Tỳ kheo nào được gọi là Tăng mà không thực hành Bố Tát, ngoại trừ những kẻ lạm dụng Tăng để phá hoại Chánh Pháp. Chỉ có ngoại đạo và kẻ tà kiến mới làm như vậy. (Luật Tạng - Thượng Tọa Thích Minh Chuyển).