Những nẻo đường về đâu
Tâm Đàn
Những thành phố lớn như Sydney có không biết bao nhiêu nẻo đường chằng chịt. Cho dù tôi sinh sống ở đây đă lâu năm, tôi rất e ngại mỗi khi phải lái xe đến những vùng tôi chưa bao giờ đến. Tuy phải xem bản đồ rất cẩn thận tôi vẫn thường bị lạc đường. Và những lần như thế tôi thường phải mất rất nhiều thời gian xem đi xem lại bản đồ nhiều lần mới có thể t́m ra nơi tôi muốn đến. Tôi đang h́nh dung đến những loại nẻo đường khác, trừu tượng hơn gấp bội: Những nẻo đường trở về nguồn cội của nhân loại. Những nẻo đường đi t́m bản chất của sự vật. Những nẻo đường đi t́m chân lư. Đă biết bao nhiêu nhà triết học danh tiếng từ cổ chí kim đă và đang lang thang trên những nẻo đường ấy suốt cả cuộc đời, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhưng dường như nơi họ muốn đến vẫn c̣n xa xăm mịt mù hoặc có thể đă mất phương hướng. Giá như có những bản đồ chỉ đường như của thành phố Sydney th́ hay biết mấy! Những tranh chấp sẽ giảm xuống. Những xây dựng sẽ tăng lên. Nhưng cũng có thể đến khi đó sự sống trở nên nhàm chán. Có thể bản chất của sự sống là tranh chấp, là xung đột, là chiến tranh. Triền miên.
Dù sao một bản đồ chỉ đường như thế vẫn chưa có. Vậy cứ tiếp tục ṃ mẫm đi t́m. Cứ tiếp tục tranh luận.
*
* *
Triết học phương tây khoảng 2500 năm trước không phân biệt với khoa học và tôn giáo như bây giờ. Triết học, khoa học và tôn giáo là một. Mục đích là t́m hiểu bản chất của sự vật. Những nhà triết học thuộc trường phái Milesian ở Hy Lạp vào thế kỷ thứ sáu trước công nguyên quan niệm rằng vạn vật có sự sống. Thales cho rằng mọi vật thể đều có linh khí. Anaximander thấy vũ trụ như là một cơ thể được nuôi dưỡng bởi vũ trụ khí, giống như sự sống trên địa cầu được nuôi dưỡng bằng không khí vậy. Heraclitus tin rằng vạn vật trong vũ trụ luôn luôn biến đổi. Ông cho rằng tính năng động và tuần hoàn của những cặp gồm những siêu lực đối nghịch là nguyên nhân của sự biến đổi này. Mỗi cặp siêu lực đối nghịch là một đơn vị ông gọi là Logos. Như vậy triết học của trường phái Milesian gần giống như nền cổ học phương đông ở Ấn Độ và Trung Quốc.
Trái lại, triết học của Xenophanes thuộc trường phái Eleatic cho rằng đứng trên tất cả là Thượng Đế (Being) tuyệt đối và vĩnh cửu. Thượng Đế là chân lư tối hậu duy nhất. Những sự sống có cảm xúc như chúng ta chỉ là tạm bợ và có thể bị hủy diệt. Ban đầu Thượng Đế được xem như là một thể thống nhất của vũ trụ, nhưng sau đó Thượng Đế được xem như có nhân tính với đầy đủ những đặc điểm chân thiện mỹ, đứng trên tất cả và d́u dắt vũ trụ. Parmenides, môn đồ của Xenophanes, cho rằng vũ trụ không hề biến đổi. Những biến đổi chúng ta quan sát thấy thực ra chỉ là những ảo ảnh của những giác quan của chúng ta. Với quan niệm này về Thượng Đế, sự phân biệt giữa linh hồn và thể xác bắt đầu h́nh thành, và đă trở thành đặc trưng của nền triết học phương tây.
Để dung ḥa hai quan niệm đối nghịch giữa một Thượng Đế bất biến của Parmenides và một vũ trụ luôn luôn biến đổi của Heraclitus, những nhà triết học Hy Lạp của thế kỷ sau đó (thế kỷ thứ năm trước công nguyên) cho rằng Thượng Đế biểu hiện trong những thể bất biến nhất định nào đó, và sự phối hợp và phân chia của những thể bất biến này là nguyên nhân của những biến đổi trong vũ trụ.
Quan điểm dung ḥa trên đă đưa đến khái niệm về atom trong triết học của Leucippus và Democritus. Atom là đơn vị nhỏ nhất của vật chất không thể bị hủy diệt. Atom được xem như những đơn vị cơ bản của vật chất không có linh khí, di chuyển trong chân không dưới sức tác động của những ngoại lực có linh khí. Chủ thuyết atom như vậy đă phân chia một ranh giới rơ ràng giữa thể xác và linh hồn.
Thế giới linh hồn được xem là trọng yếu của sự sống, và do đó vấn đề đạo đức được đặt ra. Aristotle tin rằng linh hồn con người và sự chiêm ngưỡng Thượng Đế quan trọng hơn nhiều so với thế giới vật chất vô tri. Chủ thuyết này của Aristotle được giáo hội Ky Tô giáo thời trung cổ hưởng ứng nồng nhiệt. Nhưng chính chủ thuyết này đă tŕ trệ sự phát triển của khoa học suốt 2000 năm, v́ không có ai quan tâm nghiên cứu cái thế giới vật chất bị xem là thứ yếu này.
Măi đến thời phục hưng khi ảnh hưởng của Aristotle và Giáo hội đă phai mờ, khoa học phương tây bắt đầu quan tâm đến thế giới vật chất. Sự nghiên cứu và thực nghiệm khoa học đă bắt đầu vào cuối thế kỷ 15. Song song với nghiên cứu khoa học, người ta bắt đầu quan tâm đến toán học. Từ đó những lư thuyết khoa học được biểu hiện bằng ngôn ngữ toán học. Galileo là người đầu tiên đă kết hợp kiến thức thực nghiệm với toán học, và do đó được xem như là cha đẻ của khoa học hiện đại.
Vào thế kỷ 17, triết gia Descartes đă phát triển lư thuyết nhị nguyên (linh hồn và vật chất) thêm một bước. Linh hồn và vật chất thuộc vào hai cảnh giới độc lập. Với sự phân chia đó, các nhà khoa học đă xem vật chất như những vật chết, hoàn toàn khác hẳn với sự sống. Họ nh́n vũ trụ như một chiếc máy khổng lồ trong đó mỗi vật thể được xem như một bộ phận. Newton đă dựa trên quan điểm này để xây dựng lư thuyết cơ học của ông, làm nền tảng cho ngành vật lư cổ điển. Mô h́nh vũ trụ như một chiếc máy cơ khí của Newton đă ngự trị những tư tưởng khoa học suốt hậu bán thế kỷ 17. Song song với một vũ trụ như thế là một Thượng Đế bất biến và vĩnh cửu, được xem như một quân vương tối cao, cai trị vũ trụ bằng những dịnh luật thiêng liêng. Những định luật thiên nhiên do các nhà khoa học nghiên cứu được xem như những định luật của Thượng Đế.
Triết học Descartes không những quan trọng trong việc phát triển ngành vật lư cổ điển mà con ảnh hưởng sâu sắc đến cách thức suy nghĩ của phương tây cho đến ngày nay. “Tôi suy nghĩ, do đó tôi tồn tại.” (I think, therefore I exist.) Câu nói này của Descartes đă làm người phương tây xem tri thức là chính yếu và độc lập với thể xác. Thể xác chỉ là thứ yếu. Tri thức mới chính là bản ngă của con người. Tri thức điều khiển thể xác. Điều này dẫn đến mâu thuẫn giữa ư chí và bản năng. Thiên nhiên được xem như riêng rẻ đối với con người nên con người tha hồ khai thác thiên nhiên, không hề nghĩ đến hậu quả. V́ tự cho ḿnh có một bản ngă nên sự so sánh không thể tránh khỏi. Điều này dẫn đến tranh chấp xung đột kỳ thị. Kỳ thị giai cấp. Kỳ thị chủng tộc. Kỳ thị tôn giáo. Kỳ thị chính trị.
Tóm lại, tuy mô h́nh một vũ trụ cơ khí của Newton và triết học Descartes đă làm cho khoa học kỷ thuật phát triển thành công nhưng đồng thời cũng dẫn đến những xáo trộn của sự sống và ô nhiễm môi trường sống.
Ngược với những quan điểm trên đây, triết học đông phương quan niệm vũ trụ là một vũ trụ hữu cơ. Mọi sự vật và biến cố chúng ta cảm nhận được liên quan mật thiết lẫn nhau. Tất cả những sự vật và biến cố đó thật ra là những biến hóa khác nhau của cùng một thực tại. Theo quan điểm đông phương, khuynh hướng xem vạn vật như những vật thể riêng rẻ và xem mỗi chúng ta như có một bản ngă chỉ là một ảo tưởng của tâm thức. Theo triết học Phật Giáo, ảo tưởng đó là do sự mê muội của chúng ta. Ảo tưởng đó tượng trưng cho một trạng thái rối loạn của tâm thức. Khi trạng thái tâm thức trở nên thanh tịnh, ảo tưởng đó sẽ tự nhiên tan biến.
Mặc dù nhiều trường phái triết học đông phương khác nhau về nhiều chi tiết, tất cả các trường phái đó, dù là triết học Phật Giáo, Ấn Độ Giáo hay Lăo Giáo, đều nhấn mạnh một trọng điểm rằng vũ trụ là một thể thống nhất, là hữu cơ, có sinh khí, luôn biến động, trong đó mọi sự vật tương quan phụ thuộc lẫn nhau. V́ biến động là đặc trưng của sự vật, lực gây nên sự biến động đó không phải là ngoại lực như triết học cổ điển Hy Lạp quan niệm, trái lại, lực thuộc vào bản chất của sự vật. Cái tinh khiết nhất theo triết học đông phương không phải là một thượng đế tối cao cai trị thế giới, trái lại, cái tinh khiết nhất là nguyên tắc đạo đức, là phương châm xử thế, xuất phát từ ngay bên trong sự vật.
*
* *
Trên đây là mấy nét chính yếu của các nền triết học đông và tây kể từ hơn 2500 năm lịch sử. Quá tŕnh tiến hóa của khoa học phương tây bắt đầu từ những triết học huyền bí từ Hy Lạp, dần dần phát triển theo chiều hướng luận lư và đi xa dần cái nguồn gốc huyền thoại đó và trở thành hoàn toàn tương phản với triết học đông phương. Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, quan điểm triết học ngày nay dường như tiệm cận với những quan điểm của nền triết học ban đầu của Hy Lạp cũng như của triết học đông phương. Điều khác nhau là, không những chỉ dựa trên trực giác mà c̣n dựa trên những thực nghiệm chính xác và tinh vi của nền khoa học hiện đại.
Sau đây là hai trong những cái nh́n của nền khoa học hiện đại có thể dùng để chứng minh sự tiệm cận nói trên: (1) Sự tương quan phụ thuộc của vạn vật; (2) Bản chất biết tự tổ chức và tính sáng tạo của vạn vật.
*
* *
Trong vật lư cổ điển, khi thực hiện một thí nghiệm, người ta dùng xác suất để tiên đoán kết quả nếu chúng ta không thể biết chi tiết liên quan đến thí nghiệm đó. Những chi tiết này gọi là những biến số cục bộ v́ những chi tiết đó thuộc vào thí nghiệm chúng ta đang thực hiện. Trong ngành vật lư tiềm nguyên tử, những biến số cục bộ được tượng trưng bằng những truyền thông giữa những biến cố thông qua những tín hiệu tuân theo những định luật về khoảng cách, chẳng hạn, mọi tín hiệu đều không thể truyền đi nhanh hơn vận tốc ánh sáng. Ngoài những truyền thông cục bộ c̣n có những truyền thông được gọi là truyền thông toàn bộ. Những truyền thông toàn bộ là những truyền thông tức th́ và không thể tiên đoán được.
Theo lư thuyết nguyên lượng, nguyên nhân của một biến cố không phải bao giờ cũng được hoàn toàn xác định. Chẳng hạn sự nhảy vọt của một điện tử từ quỹ đạo này sang quỹ đạo khác trong một nguyên tử, hoặc sự thoái hóa của một hạt tiềm nguyên tử thường xảy ra một cách tự nhiên, không cần một nguyên nhân nào hết. Chúng ta không thể tiên đoán một hiện tượng như thế khi nào sẽ xảy ra và sẽ xảy ra như thế nào. Điều chúng ta có thể tiên đoán là xác suất để hiện tượng đó có thể xảy ra. Nói khác đi, sự xuất hiện của những hiện tượng như thế không phải v́ những nguyên nhân cục bộ. Nguyên nhân của sự xuất hiện những hiện tượng đó hẳn phải là những nguyên nhân toàn bộ, xảy ra tức th́ và không tiên đoán được. Trạng thái của mỗi phần trong một tổng thể được xác định bằng những truyèn thông toàn bộ trong tổng thể. Những định luật của ngành vật lư nguyên tử là những định luật thống kê, theo đó, những biến cố xảy ra được xác định bởi động lực của toàn bộ. Trong vật lư cổ điển, tính chất của từng phần xác định tính chất của toàn thể. Trái lại, trong vật lư nguyên lượng, tính chất của toàn bộ xác định tính chất của những cục bộ.
Sự tồn tại của những nguyên nhân toàn bộ gắn liền với vai tṛ then chốt của xác suất. Einstein tuy đă có những đóng góp quan trọng trong việc thành lập ngành cơ học nguyên lượng, ông không bao giờ chấp nhận xác suất đóng một vai tṛ then chốt của thực tại. Ông phát biểu: “Thượng Đế không chơi những hạt súc sắc” (God does not play dice). Ông tin rằng thực tại của vũ trụ bao gốm những phần tử tách rời và độc lập nhau. Như vậy, theo ông, không thể có những nguyên nhân gọi là nguyên nhân toàn bộ như Bohr và Heisenberg quan niệm.
Để chứng minh quan điểm của Bohr và Heisenberg là sai lầm, Einstein, cùng với Podolsky và Rosen, đă tưởng tượng ra một thí nghiệm (gọi là thí nghiệm EPR) được đơn giản hóa như sau:
Chúng ta biết mỗi loại hạt tiềm nguyên tử có một độ quay nhất định theo chiều kim đồng hồ hoặc chiều ngược lại với chiều kim đồng hồ. Trục quay chịu ảnh hưởng bất định nguyên lượng nên chúng ta chỉ có thể nói rằng mỗi hạt tiềm nguyên tử có khuynh hướng quay quanh một trục nào đó. Trục quay chỉ trở nên xác định khi chúng ta thực hiện quan sát sự quay đó.
Thí nghiệm EPR giả sử hai hạt điện tử có khuynh hướng quay ngược chiều nhau theo một trục quay nào đó. Do đó tổng số hai độ quay luôn luôn là zero. Bây giờ cho hai hạt điện tử đó rời nhau với một khoảng cách lớn tùy ư. Sau đó chúng ta đo dộ quay của một trong hai điện tử, giả sử có độ quay theo chiều kim đồng hồ quanh trục quay thẳng đứng. V́ tổng hai độ quay luôn luôn bằng zero đối với một hướng quay nào đó, quan sát viên sẽ biết ngay tức th́ vào lúc đó điện tử thứ hai đang quay theo chiều ngược với chiều kim đồng hồ quanh trục thẳng đứng.
Einstein lập luận: V́ hai điện tử bây giờ đă cách xa nhau và độc lập nhau, và v́ tín hiệu không thể truyền nhanh hơn vận tốc ánh sáng, nên nếu chỉ đo một điện tử không thể biết ngay tức th́ hướng quay của điện tử kia.
Bohr lập luận: Hai điện tử bây giờ dù đă cách xa nhau cũng vẫn thuộc vào một hệ thống, do đó chúng vẫn ảnh hưởng lẫn nhau bằng sự truyền thông toàn bộ. Sự truyền thông này là tức th́, không như những tín hiệu giới hạn bởi vận tốc ánh sáng.
Sự tranh luận mang tính chất lịch sử này giữa Einstein và Bohr đă xảy ra trong thập niên 1920. Ba thập niên sau đó, John Bell đă chứng minh được rằng quan điểm của Einstein không phù hợp với những định luật của lư thuyết nguyên lượng. Nói một cách khác, vũ trụ là một thể thống nhất bao gồm những tương quan liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, không thể tách rời. Vũ trụ quan đề cập trong Kinh Hoa Nghiêm của Phật Giáo Đại Thừa có nhiều nét tương đồng với vũ trụ quan trên đây của thuyết nguyên lượng.
*
* *
Vạn vật dường như có một năng khiếu bẩm sinh, biết dùng năng lượng của môi trường chung quanh để tự biến đổi trở nên có những trật tự tinh vi hơn. Nguyên tắc tia laser là một ví dụ điển h́nh: Khi một vật nóng hay khí nóng ở gần trạng thái cân bằng nhiệt động lực, vật nóng hay khí nóng đó chỉ phát ra những ánh sáng yếu ớt giống như những cây đèn thông thường, bởi v́ những nguyên tử phát ra ánh sáng đó có những chuyển động ngẫu nhiên vô trật tự, tạo nên những sóng ánh sáng không đồng bộ với nhau, giao thoa và phần lớn triệt tiêu lẫn nhau. Tuy nhiên nếu những nguyên tử đó được cung cấp năng lượng từ bên ngoài, những sóng ánh sáng phát ra sẽ đồng bộ hơn, sự giao thoa đồng bộ sẽ gia tăng cường độ và do đó ánh sáng có thể truyền xa hằng ngàn dặm.
Chúng ta có thể t́m thấy những hệ thống có tổ chức tương tự như thế hầu như ở khắp nơi: Nồi nước trên bếp ḷ, ḍng nước xoáy, những hoa tuyết mùa đông và tất cả những sinh vật từ những côn trùng đến những loài động vật khôn ngoan như chúng ta. Đối với nồi nước trên bếp ḷ, nước được đun nóng từ phía dưới làm cho nước ở đáy nồi trở nên ấm hơn, mật độ trở nên loảng hơn và có khuynh hướng trồi lên mặt nồi. Nếu nhiệt độ của phần trên và phần dưới của nước trong nồi không chênh lệch nhiều (nghĩa là nước vẫn đang ở trạng thái tương đối cân bằng), khuynh hướng trồi lên của phần nước ở đáy nồi thường bị tính nhớt của nước cản lại. Tuy nhiên khi nhiệt độ đáy nồi tăng lên, nước không thể ở trạng thái cân bằng được nữa và bắt đầu nhào lộn. Dưới những điều kiện được điều chỉnh thỏa đáng, nước trong nồi nhào lộn theo những h́nh dạng nhất định.
Đối với ḍng nước chảy qua một chướng ngại vật, chẳng hạn một cột trụ, ở tốc độ chậm, ḍng nước chảy quanh cột trụ một cách b́nh thường, nhưng với tốc độ nước mạnh hơn, nước sẽ làm thành hai vũng xoáy phía sau cột trụ, và hai vũng xoáy này vẫn được duy tŕ nếu tốc độ nước không thay đổi.
Tinh vi hơn là những bông tuyết mùa đông. Tuy đa số bông tuyết đều có h́nh lục giác nhưng hiếm có thể t́m thấy hai bông tuyết hoàn toàn y hệt nhau. Cũng như chúng ta, hiếm thấy người giống người.
Trong khoảng bốn tỷ năm qua kể từ khi sự sống bắt đầu h́nh thành trên địa cầu, năng lượng do mặt trời cung cấp đă tăng lên 25%. Dù vậy nhiệt độ trên mặt đất vẫn điều ḥa ở mức độ thích hợp cho sự sống. Dựng như thiên nhiên (bầu khí quyển, sông ng̣i, biển cả, các loài dộng thực vật, các khoáng sản, v.v.) biết cách dùng năng lượng đó để tự tổ chức, điều ḥa, duy tŕ ở nhiệt độ thích hợp nhất để phát triển và tiến hóa. Địa cầu đă bắt đầu từ một hành tinh hoang vu nóng bỏng trở thành xanh tươi đầy sức sống. Với nhận xét đó, Lovelock, với sự hợp tác của Margulis, đă đưa ra lư thuyết gọi là lư thuyết Gaia, cho rằng địa cầu là một hệ thống biết tự điều ḥa để phát triển thành sự sống. Thuyết Gaia chứng minh sự tương quan mật thiết giữa sự sống (các loài cây cỏ, vi trùng, động vật) và vật chất (đất đá, sông biển, bầu khí quyển). Vạn vật trên địa cầu là một mạng lưới tinh vi không thể tách rời.
Núi lửa phun ra một số lượng lớn khí carbon dioxide suốt hàng triệu năm. Khí này làm tăng nhiệt độ địa cầu và do đó hạn chế sự sống. Cây cối và các loài động vật đă dùng khí này cũng như khí oxygen cho sự hô hấp, sư quang hợp và sự thoái hóa. Số lượng khí carbon dioxide dư thừa sẽ được loại trừ thông qua sự phong hóa (weathering) của đất đá: Đất đá phối hợp với nước mưa và khí carbon dioxide để thành lập những hóa chất carbonates. Tốc độ sự phong hóa càng gia tăng nhờ sự hiện diện những vi trùng trong đất đá đóng vai tṛ như những chất xúc tác. Khi carbonates trôi dạt vào biển cả sẽ được hấp thụ bởi những algae nhỏ bé, dùng làm những vỏ che thân. Algae ở biển cũng có thể hấp thụ khí carbon dioxide trực tiếp từ không khí.
Vỏ của những algae đă chết sẽ ch́m xuống đáy biển và dần dần tích tụ thành đá vôi. Sức nặng sẽ làm đá vôi ch́m sâu trong ḷng đất, gặp sức nóng và hóa lỏng có thể làm di chuyển những tấm kiến tạo (tectonic plates). Một phần khí carbon dioxide trong đá lỏng do núi lửa sẽ phun vào bầu khí quyển trở lại, hoàn tất chu kỳ biến đổi của khí carbon dioxide. Chu kỳ này góp phần điều ḥa nhiệt độ địa cầu.
Khi mặt trời trở nên nóng hơn, sự hoạt động của những vi trùng trong đất đá gia tăng làm tốc độ phong hóa gia tăng. Do đó số lượng khí carbon dioxide trong bầu khí quyển càng thấp xuống, và địa cầu sẽ trở nên mát hơn. Ngoài ra c̣n có những chu tŕnh tương tự khác, cũng với mục đích điều ḥa những điều kiện cần thiết cho sự phát triển trên địa cầu. Như vậy địa cầu không chỉ là một môi trường thuận lợi cho sự sống mà chính sự sống đă sáng tạo điều kiện cho chính sự sống đó.
Để bảo vệ và củng cố lư thuyết Gaia, Lovelock sang chế một mô h́nh chạy máy vi tính gọi là Daisyworld. Daisyworld là một hành tinh được sưởi ấm bởi một mặt trời với năng lượng cung cấp tăng dần. Trên hành tinh có hai giống hoa dại trắng và đen. Hạt giống của hai loại hoa này được gieo trồng khắp mặt đất với độ ẩm và phân bón đồng đều. Các loài hoa dại này chỉ có thể sinh sống trong những giới hạn nhiệt độ nào đó. Mục đích của mô h́nh này là để chứng minh rằng sự sống và môi trường trên hành tinh tự động điều ḥa khí hậu thích nghi cho sự sống.
Lovelock dùng toán học để viết chương tŕnh cho máy vi tính. Ông chọn nhiệt độ ban đầu trên hành tinh là 0oC. Kết quả nhận được hết sức khích lệ: Khi hành tinh ấm dần, vùng nhiệt đới và xích đạo trở nên đủ ấm để hoa mọc. Loại hoa đen mọc trước bởi v́ hoa đen hấp thụ nhiệt tốt hơn hoa trắng nên thích hợp hơn cho sự sinh sôi nẩy nở. Nhiệt độ ở vùng nhiệt đới và xích đạo trở nên cao hơn so với nhiệt độ nếu không có hoa đen mọc ở đây.
Khi mặt trời trở nên ấm hơn chút nữa, loài hoa đen không thể mọc ở vùng nhiệt đới và xích đạo nhưng bây giờ xuất hiện ở vùng ôn đới. Trong lúc đó loài hoa trắng xuất hiện ở vùng nhiệt đới và xích đạo. V́ hoa trắng phản chiếu nhiệt rất tốt nên khí hậu ở đây trở nên mát hơn so với khí hậu nếu không có loài hoa này sinh sống. Đồng thời vùng ôn đới trở nên ấm hơn so với khí hậu nếu không có hoa đen mọc ở đây.
Khi mặt trời trở nên nóng hơn nữa, ngay cả loài hoa trắng cũng không thể mọc ở vùng nhiệt đới và xích đạo và hoa đen cũng không thể mọc ở vùng ôn đới được nữa. Bây giờ hoa trắng mọc ở vùng ôn đới và hoa đen ở vùng hàn đới. Nhiệt độ ở vùng ôn đới bây giờ thấp hơn nhiệt độ nếu không có loài hoa trắng mọc ở đây. Và nhiệt độ ở vùng hàn đới trở nên cao hơn so với nhiệt độ nếu không có hoa đen mọc ở đây.
Giai đoạn tiếp theo, khi năng lượng mặt trời cung cấp nhiều hơn nữa, hoa đen chỉ có thể mọc ở nam và bắc cực, c̣n hoa trắng ở hàn đới. Nhiệt độ ở hàn đới bây giờ thấp hơn so với nhiệt độ nếu không có sự hiện diện của loài hoa trắng ở đây. Và nhiệt độ ở bắc và nam cực trở nên cao hơn so với nhiệt độ nếu không có hoa đen sinh sống nơi đây.
Trong giai đoạn kế tiếp, hoa đen không thể mọc ở bất cứ nơi nào nữa, trong lúc hoa trắng chỉ có thể mọc ở bắc và nam cực, và do đó làm khí hậu ở đây mát hơn so với khí hậu nếu không có sự hiện diện của chúng. Và tất nhiên sau giai đoạn này khi năng lượng mặt trời cung cấp quá mức, cả hai loài hoa đều biến mất trên hành tinh.
Như vậy, chỉ nhờ vào sự hiện diện của hai giống cỏ dại, khí hậu trên hành tinh đă được điều ḥa. Lovelock vẽ đồ thị mô tả sự biến đổi nhiệt độ theo thời gian khi có sự sống và khi không có sự sống của các loài hoa. Hẳn nhiên, nếu không có các loài hoa này, nhiệt độ tăng dần theo thời gian. Nhưng đồ thị cho thấy rằng khi có sự hiện diện của các loài hoa này, nhiệt độ trên hành tinh gần như không thay đổi bao nhiêu.
Lovelock cũng đă xây dựng những mô h́nh phức tạp hơn. Chẳng hạn mô h́nh một hành tinh có nhiều giống hoa dại hơn, mỗi giống có một màu sắc khác nhau. Hoặc mô h́nh trong đó những hoa dại có thể đổi màu theo sự biến hóa. Cũng có mô h́nh trong đó hoa dại là thực phẩm của thỏ trong lúc thỏ lại là thực phẩm của chó sói. Và kết quả cho thấy đối với mô h́nh càng phức tạp, sự điều ḥa của môi trường sống càng ổn định hơn. Ông cũng đă dựng mô h́nh trong đó sự sống phải chịu những thiên tai theo những chu kỳ nhất định. Và ông nhận thấy rằng sự tự điều ḥa của sự sống biết co giản trước những tai họa này.
Tóm lại, vạn vật không những liên đới phụ thuộc lẫn nhau thành một khối thống nhất không thể tách rời mà c̣n biết tự tổ chức để cùng nhau biến hóa. Khái niệm Phật Tâm của Phật Giáo c̣n tiến thêm một bước nữa: Khi Phật Tâm ở vào vị trí sáng ngời, vạn vật sẽ biết tự tổ chức thành tinh vi hơn để xây dựng. Nhưng khi Phật Tâm bị lu mờ, có thể tính tự tổ chức của vạn vật sẽ dẫn đến sự tinh vi để tàn phá.
*
* *
Khu vườn nhỏ bé ở nhà tôi trước đây có cây đoát đứng sừng sững, lực lưỡng to cao và ngạo nghễ. Những bẹ lá xanh dài và cứng cát vươn ḿnh trong ánh nắng ban mai trông rất uy nghi. Cứ khoảng mỗi tháng bẹ lá phía dưới cùng từ từ héo úa, rụng xuống, lộ ra một cái bọc màu vàng nhạt. Sau đó bọc từ từ mở ra. Một chùm hoa tím nhỏ chi chít trên những cọng thon dài duỗi xuống như một mái tóc tiên. Những suối tóc tiên cứ thế mà xuất hiện, tô điểm nét lộng lẫy của cây đoát.
Mấy con ong vàng tha hồ đến hút nhụy hoa. Những bông hoa tím nhỏ bé theo thời gian từ từ biến thành những hạt đoát xanh tṛn xinh xắn. Khi hạt bắt đầu chín đỏ là khi mấy con chim bắt đầu đến ăn. Mỗi buổi sáng tôi thường ra đứng trước lan can ngắm cái khung cảnh rực rỡ và nhộn nhịp đó. Những người qua đường ai cũng nh́n và chép miệng khen cây đoát đẹp. Dường như không một ai để ư đến cây chanh đang đứng khép nép bên cạnh, đừng nói đến mấy cây bông dại đang cố gắng phô trương những bông hoa rực rỡ của ḿnh. Ngay cả những cây cỏ cú lỳ lợm nhất cũng phải cúi ḿnh chung quanh chân cây đoát hùng hỗ.
Nét oai phong của cây đoát là nét oai phong hôm qua của mùa xuân tươi mát, có nắng xuân sưởi ấm, có mưa xuân nuôi dưỡng. Nhưng hôm nay là mùa thu, hoa đoát chỉ thoi thóp nở vài trái nhỏ yếu, không đủ sức trưởng thành để có thể thu hút bầy chim. Hoa thiếu nhựa, bầy kiến chẳng thèm đếm xỉa. Cây đoát nhà tôi đang ủ rủ buồn tàn thu, với “lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc”. Rồi tiếp theo sẽ là những cơn mưa hiu hắt mùa đông, dầm mưa giăi gió đợi xuân về. Cứ thế cho đến lúc tàn lụi. C̣n chăng chỉ là lời an ủi “lá xanh rơi rụng, buồn chi lá vàng”.
Nhưng cây đoát nhà tôi vẫn chưa đến lúc tàn rụi. Tôi h́nh dung cây đoát vẫn sẽ sừng sững ở đó rất nhiều nhiều năm nữa. Có thể nó vẫn c̣n đó sau khi tôi đă biến thành cát bụi nhiều năm. Đùng một cái, tôi phải đồng ư để người ta chặt cây đoát xuống. Nhiều tháng nay Sydney thường có những cơn băo gió mạnh. Cây đoát trở nên một đe dọa. V́ an toàn tôi phải mất cây đoát. Tôi nh́n người ta cưa từng bẹ lá, rồi thân cây, cưa thành từng khúc ngắn từ ngọn xuống gốc. Rồi người ta chở đi mất. Bây giờ khung trời trước nhà tôi trở nên rộng hơn. Nhưng tôi không thích khung trời đó mấy. Tôi thích cây đoát vẫn ở đó với tôi. Biết bao nhiêu buổi sáng ra đứng ở lan can ngắm nh́n nó. Chúng tôi như chuyện tṛ thân mật lắm. Biết bao nhiêu chim chóc đến làm bạn với chúng tôi. Bây giờ đă mất hết. Cây đoát nhà tôi đang đi về đâu? Tôi biết đây chỉ là một sự biến hóa. Tôi biết nó đang ḥa nhịp với vạn vật. Tôi biết những nguyên tử và phân tử rời ră của nó sẽ ḥa hợp với thiên nhiên, cùng nhau tự tổ chức để trở thành những h́nh hài tinh vi khác. Có lẽ một số nguyên tử hay phân tử đó sẽ vẩn vơ trong bầu khí quyển, một số trôi lững lờ theo những ḍng suối, một số ở trong đất đai, cây cỏ hay trong các loài động vật. Nhưng làm sao có thể biết một cách đích xác quá tŕnh biến hóa của cây đoát nhà tôi, và nó sẽ đi về đâu?
Tài liệu tham khảo:
Capra, F., The Tao of Physics, Shambhala, Boston, 1991
Capra, F., The Web of Life, Flamingo, London, 1997
Davies, P. C. W., The Mind of God, Penguin, London, 1994
Gribbin, J., Q is for Quantum, Phoenix, London, 1999.