Bàn thêm về sự nghiệp của Trần Nhân Tông

 

Lê  Cung

 

Xuyên suốt lịch sử dân tộc Việt Nam, có biết bao nhân vật với tư cách là người đứng đầu đất nước đă có kỳ tích hết sức lẫm liệt trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Có nhân vật nổi bật lên trong sự nghiệp giữ nước, có nhân vật nổi bật lên trong sự nghiệp  dựng nước, lại có nhân vật nổi bật lên trong sự nghiệp mở nước, hoặûc cũng có khi một nhân vật có cả hai hoặc ba mặt. Trần Nhân Tông là một vị hoàng đế mà sự nghiệp nổi hẳn lên trên cả ba lănh vực: Giữ nước, dựng nước và mở nước. Có thể nói rằng ở cả ba lănh vực này, mặt nào Trần Nhân Tông có những đóng góp hết sức đặc biệt.

Trước hết, về sự nghiệp giữ nước, thời Trần Nhân Tông ở vị trí hoàng đế, dân tộc ta phải đương đầu với một kẻ thù hung hăn nhất của thời đại: Giặc Nguyên Mông. Cần thấy rằng trong ṿng nửa thế kỷ, phong kiến Nguyên Mông đă kéo thế giới vào một cuộc chiến tranh khủng khiếp. Kết quả, một đế quốc Nguyên Mông mênh mông được thành lập từ bờ Hắc Hải đến Thái B́nh Dương. Nhưng khi đụng đầu với Đại Việt, đội quân "bách chiến bách thắng" đó ba lần đều bị đánh bại (trong đó 2 lần diễn ra dưới thời Trần Nhân Tông trị v́: 1285 và 1288). Dĩ nhiên, chiến công hiển hách này thuộc về của cả dân tộc, trong đó nổi bật lên những danh tướng như Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lăo, Trần Quốc Toăn, ...  Song vai tṛ của Trần Nhân Tông với tư cách là người Tổng chỉ huy tối cao phải ở vị trí hàng đầu, bởi lẽ nếu "vua không hiền" th́ dù tôi giỏi cũng không thể nào phát huy được cái sở đắc của ḿnh trong việc điều quân ngoài mặt trận. Hơn thế nữa, chính Trần Nhân Tông cũng là một người cầm quân xông ra trận mạc.

Dừng lại ở một số "chấm phá" trên đây, chúng ta cũng có đủ cứ liệu để hiểu được tầm cao của Trần Nhân Tông trong sự nghiệp giữ nước.

Thứ hai, về sự nghiệp dựng nước, sự nghiệp của Trần Nhân Tông thể hiện trên nhiều mặt. Đoăn khúc này chỉ đề cập về sự nghiệp văn hóa của Trần Nhân Tông. Trên lĩnh vực văn hóa, có thể xem Trần Nhân Tông là một trong những người đi tiên phong trong việc sử dụng tiếng Việt trong sáng tác văn học. Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca là hai tác phẩm của Trần Nhân Tông được viết bằng tiếng Việt (chữ Nôm). Theo Lê Mạnh Thát: "Hai tác phẩm này thuộc loại văn học luận đề. Chúng là những bản văn chính luận tập trung tŕnh bày một số vấn đề tư tưởng và lư luận. Chúng đă dùng tiếng Việt như một ngôn ngữ để phát biểu những tư tưởng trừu tượng tương đối khó nắm bắt một cách khéo léo và dễ hiểu. Từ đó tiếng Việt đă trở thành một ngôn ngữ đủ khả năng chuyển tải bất cứ nội dung tư tưởng khác nhau nào và có một vẻ đẹp của riêng nó. Nhờ thế, các tác phẩm ấy không những đă lôi cuốn được sự chú ư của người đương thời, mà c̣n có sức hấp dẫn đối với hậu thế. Tiếng Việt tự bản thân nó đă trở thành một ngôn ngữ văn học. Đây chính là một trong những cống hiến lớn, mà hai tác phẩm này đă mang lại cho văn học Việt Nam" (1).

Một vị Hoàng đế, một vị Thiền sư, rất giỏi chữ Hán, mà lại diễn đạt những tư tưởng triết lư cao siêu của Phật giáo bằng chữ Nôm, đặc biệt là trong bài Cư trần lạc đạo phú. Đây không phải ngẫu nhiên mà là một tất yếu trong tính thống nhất về tư tưởng và hành động của Trần Nhân Tông trong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc. Từ kinh nghiệm giữ nước trong những thời kỳ trước đó của lịch sử dân tộc, đồng thời là người lănh đạo tối cao dân tộc trong một giai đoạn lịch sử hết sức cam go và ác liệt, Trần Nhân Tông ư thức sâu sắc rằng việc bảo vệ độc lập dân tộc không tách rời việc xây dựng và phát huy về chiều sâu của nền văn hóa dân tộc. Việc sử dụng tiếng Việt trong sáng tác, do đó, đối với Trần Nhân Tông không chỉ dùng lại ở chỗ "nghệ thuật vị nghệ thuật" mà c̣n là và chính là "nghệ thuật vị nhân sinh", tức là phải đáp ứng được yêu cầu phát huy tính độc lập dân tộc ngay cả trong văn tự.

Mặt khác, đây được xem như là mặt nổi bật nhất trong sự nghiệp văn hóa của Trần Nhân Tông. Đó là việc Trần Nhân Tông đă sáng lập ra phái Thiền Trúc Lâm. Đầu thế kỷ XII, ba Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường dần dần thống nhất, trên cơ sở đó h́nh thành phái Thiền Trúc Lâm. Đây là thiền phái đầu tiên do một người Việt Nam sáng lập, mà người đó chính là một vị hoàng đế đứng đầu một đất nước đă từng chiến thắng đội quân hung hăn nhất của thời đại - Đội quân Nguyên Mông. Thiền phái Trúc Lâm đề cao sự tự ngộ, sự nỗ lực rèn luyện của hết thảy mọi người. Dù xuất gia hay tại gia, sống trong chùa hay ở ngoài đời, miễn là biết tu tập, cải tạo tâm từ ác chuyển thành thiện, từ xao động chuyển thành b́nh lặûng, định tĩnh, biết phá trừ vô minh, tham dục th́ đều đi đến con đường giác ngộ. Trần Nhân Tông viết:

"Dứt trừ nhân ngă, th́ ra tướng thực kim cương;

Dừng hết tham sân, mới lảu ḷng màu viên giác".

........

"Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc,

Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thực đă đồ công" (2).

 

Điều quan trọng nhất là Thiền phái Trúc Lâm do Trần Nhân Tông sáng lập thể hiện tinh thần nhập thế hết sức mănh liệt. Khi xuất gia, Trần Nhân Tông vẫn quan tâm đến vận mệnh đất nước. Trần Nhân Tông đă chọn Yên Tử làm trung tâm của Giáo hội Trúc Lâm. Tại đây, trên đỉnh núi Yên Tử, cùng với việc tu chứng, Trần Nhân Tông có thể quan sát được sự động tỉnh của các cánh quân xâm lăng từ phương Bắc xuống. Mặt khác, Trần Nhân Tông đi khắp các chốn thôn dă, khuyên dân bỏ những hủ tục, mê tín và thưch hành giáo lư Thập thiện. Theo Trần Nhân Tông th́ “sống mà không giúp ǵ cho đời là điều đáng hỗ thẹn của kẻ trượng phu”. Ngay cả đến thời điểm trước lúc viên tịch, Trần Nhân Tông vẫn căn  dặn các đệ tử rằng: "Các người hăy xuống núi lo tu hành, đừng coi sinh tử là việc nhàn" (3). Cuộc đời của Trần Nhân Tông thể hiện một cách sinh động về tinh thần nhập thế mănh liệt của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Khi làm vua th́ thu phục được nhân tâm, "dĩ nhân tâm, vi kỷ tâm" để đạt cho được mục đích tối hậu: "Non sông muôn thuỡ vững âu vàng". Khi trở thành thiền sư, Trần Nhân Tông, không chỉ chuyên lo việc "kinh kệ".  Thực ra việc "kinh kệ" đối với Trần Nhân Tông cốt để trí tuệ bừng sáng nhằm phục vụ nhân quần với một hiệu quả cao nhất.

Thứ ba, về sự nghiệp mở nước của Trần Nhân Tông. Nói đến mở nước là nói đến "Công cuộc Nam tiến" của dân tộc ta. Khi nghiên cứu "Công cuộc Nam tiến" của dân tộc ta, Trần Nhân Tông cần phải được đặt ở một vị trí cao nhất. Lập luận này có thể được giải thích bằng một số ư kiến sau:

Một là, sau gần 1000 năm bị phong kiến phương Bắc đô hộ, dân tộc ta bước vào kỷ nguyên độc lập từ chiến thắng của Ngô Quyền đối với quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (938). Từ đây, với nhiều lư do khác nhau (4) , việc yên ổn biên cương phía Nam được đặt ra. Từ trong mối quan hệ Việt - Champa, lúc "đối đầu", lúc "đối thoại", lănh thổ Đại Việt dần dần được mở rộng về phía Nam. Lịch sử đă ghi nhận "cuộc đối thoại" giữa hai vương triều Việt - Champa do Trần Nhân Tông khởi xướng là ngọn nguồn dẫn đến cuộc hôn nhân Chế Mân - Huyền Trân, đem lại cho Đại Việt một vùng đất hết sức rộng lớn: Châu Ô và Châu Lư, tức vùng đất từ Triệu Phong (Quảng Trị) đến Duy Xuyên (Quảng Nam). Dĩ nhiên để có được "cuộc đối thoại" đầy ngoạn mục, Trần Nhân Tông vừa gây dựng thế lực của Đại Việt, vừa tạo cho chính bản thân ḿnh một uy đức (5) đủ sức thuyết phục Champa đi theo con đường ḥa b́nh trong việc bang giao giữa hai quốc gia. Trong lời đề từ cho bức tranh Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ, Trần Chí Chính viết: "Có lúc Ngài viễn du hóa độ cho các nước lân bang, phía Nam đến tận Chiêm Thành, đă từng khất thực ở trong thành. Vua nước Chiêm Thành biết được điều đó, hết sức kính trọng mời, dâng cúng trai lễ, sắp sẵn thuyền bè, thân hành tiễn Ngài về nước và đem đất hai Châu làm lễ cúng dâng cho Ngài. Ấy là Thần Châu và Hóa Châu nay vậy" (6).

Sau cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1288) thắng lợi, dưới thời Trần Nhân Tông, thanh thế Đại Việt lẫy lừng khắp cơi Đông Nam Á mà chọn kế sách mở nước bằng con đường hữu nghị và ḥa b́nh quả thật là vĩ đại. Bởi lẽ xưa nay trong lịch sử dân tộc cũng như lịch sử thế giới, việc mở nước theo con đường phi binh đao th́ hiếm thấy.

Hai là, như trên đă nói, "cuộc đối thoại" giữa Trần Nhân Tông và Chế Mân dẫn đến cuộc hôn nhân lịch sử mà chú rể là hoàng đế Champa và cô dâu là Công chúa Đại Việt. Và tất nhiên, để có được cuộc hôn nhân lịch sử này, Trần Nhân Tông đă phải vượt qua nhiều trở lực khác. Chúng ta biết rằng Công chúa Huyền Trân là người con gái duy nhất của Trần Nhân Tông. Vượt qua được những vướng mắc t́nh cảm thiêng liêng của gia đ́nh, Trần Nhân Tông và con là Huyền Trân đă nêu một tấm gương sáng ngời v́ đại cuộc mà hy sinh.

Một trở lực lớn hơn là sự kỳ thị chủng tộc. Khi vấn đề cầu hôn của Chế Mân được đặt ra, hầu hết triều thần đều không muốn. Hẳn là triều thần không hiểu hết ư nghĩa của cuộc hôn nhân, nhưng chắc chắn trong họ vẫn c̣n vướng bận sự kỳ thị chủng tộc. Mặc dầu vậy, quyết định Trần Nhân Tông trước sau vẫn không thay đổi. Tháng Sáu - 1306, khi đưa công chúa Huyền Trân về Champa, văn nhân trong triều ngoài nội phần lớn mượn việc vua Hán đem Chiêu Quân gả cho Hung Nô, làm bài thơ Nôm để mà mĩa mai, chê cười. Không phải là ngẫu nhiên mà  xuất hiện những câu ca như:

"Tiếc thay cây quế giữ rừng,

Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo".

Hoặc:   "Tiếc thay hạt gạo trắng ngần,

Đă vo nước đục lại vần lửa lửa rơm" (7) .

Vừa là Thái thượng hoàng, vừa là một vị thiền sư uyên thâm Phật học, Trần Nhân Tông đă thấm nhuần sâu sắc tinh thần b́nh đẳng chứa đựng trong giáo lư Phật giáo: "Không có đẳng cấp trong ḍng máu cùng đỏ; không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn", nên trở lực của sự kỳ thị chủng tộc ở Trần Nhân Tông đă bị loại bỏ một cách tuyệt đối. Và cuộc hôn nhân kỳ thú đó được tạo dựng trong một tinh thần như vậy.

Lịch sử "có sự lắp lại trong tính không lắp lại của nó". Sau Trần Nhân Tông gần bảy thế kỷ, trong Tuyên ngôn Độc lập (2-9-1945), Hồ Chí Minh đă diễn đạt tư tưởng trên đây bằng những ngôn từ cụ thể, rơ ràng, chứa đựng tinh thần b́nh đẳng trong thời đại mới: "Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra b́nh đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do" (8). Và ngày nay trong sự nghiệp đổi mới đất nước, chúng ta đang đẩy mạnh chính sách b́nh đẳng giữa các dân tộc. Điều này càng có thêm cơ sở giúp chúng chúng ta thấy được tầm cao của Trần Nhân Tông trong sự nghiệp mở nước với tinh thần b́nh đẳng.

Ba là, việc mở nước vượt qua đèo Hải Vân, một dăy núi cao và hiểm trở nhất, chắn ngang con đường thiên lư Bắc - Nam mà không bằng con đường đao binh; và chắc chắn nếu lịch sử không chọn cuộc hôn nhân Chế Mân - Huyền Trân mà bằng một con đường khác th́ xương máu đồng loại cũng phải chất thành sông núi. Mặt khác, vượt qua đèo Hải Vân đem lại cho Đại Việt hai cửa biển: Tư Hiền và Đà Nẵng, sâu và thuận lợi cho thủy quân, kết hợp với núi cao hiểm trở không chỉ góp phần bảo vệ biên cương phía Nam mà hơn thế nữa nó đă mở ra bước phát triển mới trong chiến lược Nam tiến của dân tộc ta. Có thể xem đây như là bước then chốt của quá tŕnh Nam tiến. Thật vậy, từ đây ḍng Nam tiến của người Việt ngày càng dồn dập như một cơn thủy triều đang cuồn cuộn dâng lên. Chưa đầy một thế kỷ sau khi Ô Lư sáp nhập vào Đại Việt th́ Hồ Quư Ly đă có thêm Thăng Hoa và Tư Nghĩa. Thêm nửa thế kỷ nữa, Lê Thánh Tông đă cắm mốc trên núi Đá Bia ở Phú Yên, ...

Xem thế th́ sự nghiệp của Trần Nhân Tông đối với dân tộc thật là vĩ đại. Và để kết thúc bài tham luận này, một vấn đề đặt ra là phải chăng lịch sử chưa có một cái nh́n toàn diện về sự nghiệp của Trần Nhân Tông ? Với tư cách là người cầm bút, người nghiên cứu lịch sử, tôi tin không như thế. Và nếu điều tôi tin là sự thực th́ tại sao ở nhiều thành phố, thị xă trong cả nước, tên đường phố Trần Nhân Tông ít xuất hiện ?  Có điều đáng nói là Đông Hà, Quảng Trị, Đà Nẵng, Hội An nơi mà sự nghiệp Trần Nhân Tông rất đậm nét lại không có một con đường nào mang tên Trần Nhân Tông. Ở những nơi này, nhất là Huế, thành phố lịch sử - văn hóa - du lịch, tên đường Trần Nhân Tông chúng tôi cho rằng vẫn chưa đủ mà c̣n phải có cả tượng đài vua cha Trần Nhân Tông và Công chúa Huyền Trân nữa.

 

Chú thích:

1.         Lê Mạnh Thát. Toàn tập Trần Nhân Tông. Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 2000, tr. 274.

2.         Lê Mạnh Thát, Sđd., tr. 401, 403.

3.         Ủy ban Khoa học xă hội Việt Nam, Viện Triết. Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Nxb. Khoa học Xă hội, Hà Nội, 1991, tr. 275.

4.         Từ sau khi ta giành được độc lập (938), họa xâm lăng phương Bắc vẫn không dừng lại mà vẫn mang tính thường trực. Mặt khác, biên cương phía Nam trên thực tế cũng không yên ổn. Các triều đại của Champa nối tiếp nhau phát động những cuộc chiến tranh chống Đại Việt.

5.         Trong cuộc chiến tranh Nguyên -  Champa (1283), Trần Nhân Tông đă gửi 2 vạn quân và 500 chiến thuyền chi viện, góp phần giúp Champa chiến thắng quân Nguyên Mông.

6.         Lê Mạnh Thát, Sđd., tr. 202.

7.         Phan Khoang. Việt sử Xứ Đàng Trong (1558 - 1777). Khai Trí xuất bản, Sài G̣n, 1967, tr. 67.

8.         Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập  4. Nxb. Sự Thật, hà Nội, 1984, tr. 1