|
Phật Giáo Trong Thời Đại Tin Học
Quán Như Phạm văn Minh
Lắng nghe và hiểu
Thái độ trịch thượng và độc tài của khoa học không phải
chỉ đối với tôn giáo mà c̣n đối với các khoa học ‘nhân văn’ khác. Những môn học
nào không dùng lư trí và phương pháp thực nghiệm đều bị chê là ‘thiếu khoa học”
hay khoa học ‘nửa vời’. Các nhà khoa học đắc thắng biến phương pháp thành ‘chủ
nghĩa’ duy vật khoa học.
Đối tượng của các khoa học tự nhiên như hóa học, vật lư,
địa chất và vũ trụ học đều là vật chất. Để độc giả cảm thấy gần gũi với tư tưởng
Đạo Phật, tôi xin dùng từ ngữ tương đương. Đó là khoa học quan sát chúng sinh
‘vô t́nh’ thuộc sắc giới. V́ là chúng sinh vô t́nh nên dù bị các nhà khoa học vo
tṛn bóp méo, chúng vẫn không thay đổi ǵ và lư do giản dị là chúng không có sự
sống. Nếu đối tượng nghiên cứu là chúng sinh hữu t́nh như trong khoa học đời
sống, các nhà khoa học gặp nhiều rắc rối hơn. Khác nhau giữa ‘một bia đá’ và
‘cây cỏ’ là cây cỏ có ‘sự sống’ trong khi bia đá ngàn triệu năm chỉ có ṃn bớt,
nhưng đá vẫn c̣n là đá. Ngay cả cây cỏ có sự sống đơn giản nhất, chúng cũng có
‘bản năng’ sống c̣n, như lá hướng về ánh sáng và rễ hướng về những phần đất có
mầu mỡ và nước. Nhưng cây cỏ cũng có quá tŕnh thành trụ dị diệt như thực vật
phức tạp hơn và con người.
Trịnh Công Sơn có hỏi một câu thơ mộng: ‘làm sao em biết
bia đá không đau?’ Có thể bia đá biết đau, nhưng hiện nay chưa ai có đủ kiến
thức để trả lời, thông thường chùng ta chỉ biết nước chảy đá ṃn. C̣n cây cỏ?
C̣n những động vật sơ đẵng như côn trùng và chim cá? Gần đây các cuộc nghiên cứu
cho thấy là cá biết đau! Có lẽ Phật tử nào có thói quen câu cá giải trí, nên
dừng lại suy nghĩ và t́m một môn giải trí khác!
Nghiên cứu thú vật đă gặp nhiều khó khăn, đến khi nghiên
cứu con người các nhà khoa học c̣n gặp khó khăn gấp bội. Chắc chắn tổ tiên của
chúng ta và chúng ta phải có nhiều điểm tương đồng trong quá tŕnh tiến hóa,
nhưng sự khác biệt căn bản giữa hai bên là, trong khi thú vật cũng có ư thức như
người, nhưng chỉ có người là một sinh vật có ư thức phản tỉnh. Nhờ ư thức phản
tỉnh con người mới tạo được văn minh, văn hoá và quan trọng nhất là có khả
năng chọn lựa. Chọn lựa tức tự ḿnh tạo nghiệp và giải nghiệp. Cũng đừng
trách lẫn trời gần trời xa!
Lúc khoa học đắc thắng tột đỉnh, hai nhà tâm lư
Behaviourism (xin được phép đề nguyên Anh ngữ) Watson và Skinner cương quyết
loại bỏ thế giới nội tâm như hành, thức ra khỏi phạm vi của tâm lư. Đối với các
tâm lư gia behaviourism, biến đổi năo bộ và cử chỉ là đối tượng chính. Skinner
tuyên bố thẳng thừng là tâm và ư không hiện hữu, mà chỉ là sản phẩm được tạo ra
những giải thích ‘giả tưởng’. Nhiệm vụ chính của khoa tâm lư cũng như các ngành
khoa học khác là tiên đoán và kiểm soát. Ông này c̣n nói là những từ ngữ như cảm
thọ, nhận thức, h́nh ảnh, ham muốn, mục đích phải bị loại ra khỏi từ điển tâm
lư! Thảo nào behaviourism được áp dụng để tẩy năo và nhồi sọ bởi cả hai bên bức
màn sắt. Các nhà tâm lư về sau cho thái độ cực đoan này khá lạ kỳ, v́ chính nhờ
những hoạt động của hành-thức các lư thuyết tâm lư mới được h́nh thành, kể cả
thuyết behaviourism!
Các lư thuyết gia tâm lư hiện đại từ Freud đến Jung đều
nghiên cứu không những ư thức mà c̣n tiềm thức và vô thức. Vấn đề then chốt hiện
nay vẫn chưa ai đồng ư với ai là sự liên hệ của óc năo và ư thức và hai bên ảnh
hưởng nhau đến mức nào. V́ vui nên chúng ta cười hay nhờ mỉm miệng cười làm
chúng ta vui? Hay con người khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười như Nguyễn công
Trứ? Hay có người vui vũng không cười mà buồn cũng không cười? Các behaviourist
quên ư thức phản tỉnh và ư chí tự do chọn lực của con người. Ngày nay không c̣n
ai chấp nhận giả thuyết cho óc năo quyết định mọi chuyện, và phản ứng luôn luôn
hai chiều. Một học giả Mỹ, Joanna Macy, đă phối hợp duy thức và duyên khởi để đề
nghị lư thuyết Systems, phản ảnh phần lớn lập trường của Duy Thức.
Hai môn nghiên cứu về mối quan hệ giữa người và người, xă
hội học và kinh tế học, thường được gọi chung là khoa học xă hội, thường bị các
nhà khoa học thiên nhiên xem bằng nửa con mắt v́ đây chỉ là loại khoa học nửa
vời. Đó là chưa kể đến các ngành nghệ thuật, văn chương, thi ca và nhất là tôn
giáo.
Để tránh một cuộc đối thoại giữa những người điếc, chúng
ta cần xét lại định nghĩa của phương pháp khoa học và phương thức tôn giáo
thường dùng để khám phá ‘chân lư’.
Theo chủ nghĩa duy vật khoa học, đối tượng của phương pháp
khoa học được quan sát, thực nghiệm trong những điều kiện có kiểm soát và thực
nghiệm có thể lập lại, được đo lường bằng những dụng cụ phổ quát được mọi người
chấp nhận. Đối tượng nào không đo lường được mà chỉ có thể định tính, không thể
nào dùng phương pháp khoa học để nghiên cứu. Chỉ có thế giới vật chất tự nhiên
là có thật và khách quan, c̣n thế giới nội tâm như t́nh cảm, tâm ư (tưởng, hành,
thức) thường chủ quan, duy nhất, siêu hiện tượng và không thể kiểm soát được.
Đối tượng có thể được phân chia ra thành những phần nhỏ hơn để được nghiên cứu
chính xác hơn. Các dụng cụ đo lường chỉ đo được những đặc tính vật lư và cả vũ
trụ sắc giới do vật chất tạo thành và có thể quan sát bằng cảm thọ. Dù hành-thức
có hiện diện hay không, chúng cũng không ảnh hưởng ǵ vào sắc giới. Ngoài khoa
học tự nhiên và thuần lư (luận lư và toán học), các ngành nhân văn khác không
phải là khoa học thực sự và dĩ nhiên nghệ thuật và tôn giáo chỉ do ảo giác sáng
tạo.
Nhà sinh học được giải Nobel, Francis Crick, tuyên bố là
khuynh hướng hiện nay (1960’s) là giải thích sinh học bằng hiện tượng vật lư và
hóa học. Bị khoa học tự nhiên tấn công tới tấp, khoa học xă hội, nhất là tôn
giáo, đâm ra tự ti mặc cảm. Các tín đồ của Marx thường kèm theo chữ ‘khoa học’
sau cụm từ ‘chủ nghĩa xă hội’. Sau thế chiến thứ 2, chủ nghĩa xă hội chinh phục
được hầu hết trí thức thế giới v́ họ thấy Marxism là một triết lư binh
vực cho quyền lợi của những dân tộc bị trị và giai cấp công nhân nghèo khổ sau
cách mạng kỹ nghệ, chứ không phải v́ chủ nghĩa xă hội có khoa học tính.
Sự thất bại về chính trị và kinh tế của khối xă hội do nhiều lư do phức tạp,
nhưng về phương diện triết lư, chủ trương bênh vực người bị áp bức và cùng đinh
cho đến bây giờ vẫn là lư tưởng đáng theo, nếu không nói là cần thiết. Tôi sẽ
nhấn mạnh lại điểm này khi bàn về kinh tế Phật Giáo.
Các khoa học nhân văn bị chủ nghĩa khoa học chê bai nên
cũng cố gắng tỏ thực nghiệm và định lượng bằng cách áp dụng toán học, thống kê
xác xuất và thí nghiệm với hy vọng được nh́n nhận là ngành của khoa học, dù là
khoa học nửa với. Kinh tế thời Adams Smith chưa áp dụng kinh toán hay thống kê
và chỉ được xem là triết lư!
Các nhà triết lư khoa học phản công, cho rằng một số ‘giả
thuyết’ trong khoa học tự nhiên vẫn c̣n là ‘giả thuyết’. Khi phủ nhận phương
pháp nghiên cứu của các ngành khác (như nội tỉnh của Phật Giáo), chủ nghĩa duy
vật khoa học đă trở thành giáo điều hơn ai hết, nếu hiểu giáo điều là hệ
thống duy nhất bất biến trên con đường đi t́m chân lư và giải quyết những
vấn đề căn bản của con người. Đó là loại ‘độc tài khoa học’ thay thế cho ‘độc
tài thần học’ của thời Trung cổ. Khoa học hiện đóng vai tṛ của tôn giáo.
Các nhà khoa học này khi đề cập đến tôn giáo, họ chỉ muốn
qui chiếu qua các tôn giáo độc thần Abramic Tây Phương, Ky Tô- Do Thái và Hồi
Giáo. Lư do giản dị là họ không biết ǵ về các tôn giáo Đông phương, nhất là
Phật và Khổng.
Có một số chọn thái độ không thấy không nghe không nói và
không tham dự vào cuộc đối thoại. Họ đă có cái dù thiêng liêng che chở làm họ an
tâm. Về phương diện tín ngưỡng, thái độ nhờ người khác tu dùm tu giúp không có
khác ǵ thành phần tín đồ fundamentalists trong các tôn giáo khác. Tuy nhiên
cũng có những người chống đối dựa trên lĩnh vực, vai tṛ khác nhau của khoa học
và tôn giáo và do đó phương pháp nghiên cứu cũng phải khác nhau. Nhà nghiên cứu
thời cổ đại, Stephen Jay Gould, cho rằng khoa học và tôn giáo có mục tiêu khác
nhau. Trong khi khoa học muốn t́m hiểu vũ trụ cấu tạo và hoạt động thế nào, mục
đích của tôn giáo là đi t́m ư nghĩa và giá trị của đời người. Không nên đọc kinh
điển dưới ánh sáng khoa học và khoa học không nên t́m cách chứng minh giáo điều
tôn giáo là không đúng sự thật. Nhà sinh vật Dawkins trong khi đó cho rằng
không thể đặt ḷng tin tôn giáo ngoài phạm vi nghiên cứu của khoa học v́ tôn
giáo không những chỉ đề cập đến ư nghĩa và giá trị của đời sống mà c̣n muốn xác
nhận về bản chất và nguồn gốc của vũ trụ.
Cũng như trước đây Marx phán đoán về giá trị tôn giáo, các
người phê b́nh phần lớn chỉ biết các tôn giáo độc thần Abramic Ky Tô- Do
Thái-Hồi Giáo và các tôn giáo này có thể được sử dụng như là phương tiện ru ngủ
quần chứng để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị. Theo Ken Wilber, những
huyền thoại trong các tôn giáo độc thần Abramic chỉ là phương tiện khống chế
quần chúng bằng chính sách ‘ngu dân’. Đó là phương tiện bạo động để duy tŕ đẵng
cấp xă hội, chế độ ‘nô lệ tập thể’ về mặt tinh thần và nếu có ai dám đi ngược
lại, các tăng lữ trong giáo hội không ngần ngại sử dụng phương pháp trừng trị
dă man. Gần đây giáo sĩ Hồi giáo ra lện tử h́nh những nhà văn dám xúc phạm đến
đấng tiên tri và giáo lư cho thấy chuyện Bruno lên dàn hỏa không phải chỉ là
chuyện xảy ra trong quá khứ. Nhiều người cho rằng thế kỹ ánh sáng làm tan bóng
tối của huyền thoại. Khi huyền thoại hiện nguyên h́nh là huyền thoại, giai cấp
thống trị mất đi phương tiện chủ yếu duy tŕ quyền lực.
Khác hẳn với các tôn giáo độc thần Abramic, sự xuất hiện
của Phật Giáo khởi đầu cho một cuộc ‘cách mạng’ nhằm phá hủy những huyền thoại
của Ân Giáo đă được dùng làm nền tảng thần học để ‘bảo chứng’ hệ thống đẳng cấp
khắc nghiệt được các huyền thoại Hindu bảo chứng. Khi huyền thoại này bị lộ mặt
là những kể lể siêu h́nh bịa đặt, giai cấp tăng lữ Brahman dĩ nhiên mất tất cả
quyền lực ‘thiêng liêng’ và hiện nguyên h́nh là những người khổng lồ có chân
bằng đất sét!
Phật Giáo xuất hiện khiến cho những thần tượng Ấn Giáo đi
vào giai đoạn hoàng hôn, như Nietzsche tuyên bố. Nói một cách khác, sự xuất
hiện của Phật Giáo trong lịch sử Ấn Độ tương tự như sự xuất hiện của thế kỹ ánh
sáng ở Tây Phương. Thế kỹ ánh sáng làm sụp đổ thần học Trung Cổ, ánh sáng trí
tuệ của đạo Phật đă làm huyền thoại của Hindu thành những con ma trơi lập ḷe.
Sự biến mất của Phật Giáo ngay trên đất Ấn không phải chỉ v́ 10 ngàn vị tăng bị
quân Hồi tàn sát, nhưng một phần bởi các tăng lữ Brahman không thể tha thứ cho
Phật Giáo đă làm tan vỡ những huỳền thoại ‘thiêng liêng’ và do đó làm mất quyền
lợi của họ.
Nếu hiểu tôn giáo là một hệ thống tín ngưỡng và thực hành
dưới sự ‘hướng dẫn’ của nhăn quan về hiện hữu và ư nghĩa của đời người, với ước
vọng giải thoát và đạt đến hiện hữu đích thực, đạo Phật là một tôn giáo. Tuy
nhiên đạo Phật không hoàn toàn đáp ứng với tất cả tiêu chuẩn của định nghĩa này.
V́ không chấp nhận một đấng sáng tạo như các tôn giáo Abramic khác, đạo Phật
không có kể lể siêu h́nh hay huyền thoại về quyền năng thiêng liêng nào. Trong
lần giảng pháp cho 5 anh em Kiều Trần Như, Đức Phật chỉ giảng tứ diệu đế,
phân tích nguyên nhân khổ đau và do đó t́m ra con đường thoát khổ. Đức Phật
không hề đưa ra bất cứ một giả thuyết siêu h́nh nào để bắt mọi người phải phụng
thờ. Đức Phật không hề đề cập đến nghi lễ phiền phức nào. Nếu lột dần các lớp vỏ
h́nh thái văn hóa để t́m tinh yếu của đạo Phật, có lẽ chúng ta kể thêm bát
chánh đạo và xâu chuỗi 12 nhân duyên trong mạng lưới duyên khởi. Trừ vô
minh, nguyên nhân đau khổ đầu tiên mà Đức Phật ít khi đề cập, tất cả chỉ là
những phương pháp hành tŕ để chấm dứt khổ đau. Đạo Phật không có mục đích nào
khác hơn là thoát khổ. Trong lần chuyển pháp thứ nhất, đức Phật không hề đề cập
đến nghi lễ, thế mà 25 thế kỹ sau, nghi lễ đă trở nên rườm rà và đă được ‘kỹ
nghệ’ hóa. Hoạt động chính của Phật giáo Nhật hiện nay là kỹ nghệ ma chay! Tôi
không có đủ con số thống kê, nhưng nghĩ rằng về phương diện này, Phật giáo Việt
Nam chưa chắc đă thua Phật Giáo Nhật.
Đối thoại nghĩa là lắng nghe, hiểu và tiếp nhận, và hai
bên đối thoại có thể có những đóng góp hữu ích. Khác với các tôn giáo độc thần
Abramic, đạo Phật không loại trừ tôn giáo khác, Đức Phật không hề nói ‘ta là sự
thật, ta là con đường’. Phật nhũn nhặn cho ḿnh là người chỉ đường, một vị thầy
của ‘thiên nhân’, tức là những người chưa giải thoát và có ước vọng muốn được
giải thoát. Đức Phật cẩn thận dặn đệ tử ‘Pháp chỉ là cái bè qua sông, nếu cần
chánh pháp c̣n phải bỏ, huống nữa là phi pháp’. Không thấy đâu là rừng, đâu là
cây, đâu là tinh yếu, đâu là hoa lá cành văn hóa, có nhiều người vẫn h́ hục mang
cái bè trên vai đi t́m đất sạch.
Cho và nhận
Không như ở thế kỹ 19, chủ nghĩa duy vật khoa học hay thực
nghiệm quá khích đă bắt đầu chịu lắng nghe phương pháp đi t́m chân lư của các
ngành khác. Freud, Jung và nhất là Fromm không những nghiên cứu ư thức mà c̣n
khai phá kho tàng tiềm thức.
Các nhà khoa học chịu đối thoại và lắng nghe quan điểm của
Phật Giáo, qua những công tŕnh hợp tác với Đức Đạt Lai Lạt Ma trong vài năm
qua. Trong The Qantum and the Lotus, nhà sư Matthieu Richard
‘công’ nhiều hơn ‘thủ’. E.F Schumacher không những chỉ viết về kinh tế Phật Giáo
mà c̣n thảo luận đến triết lư khoa học, trong tác phẩm A Guide For The
Perplexed, đă đề cập đến 4 loại chúng sinh khác nhau và cho rằng cần những
phương pháp khác nhau để t́m hiểu các đối tượng đa diện. Phương pháp thực nghiệm
tuyệt đối thường được dùng để nghiên cứu chúng sinh vô t́nh như đất đá. Phương
pháp nghiên cứu trong khoa thực vật mà đối tượng là chúng sinh có sự sống, dù
chỉ ǵới hạn trong bản năng sinh tồn ‘hướng động’ đối với ánh sáng và đất đai
mẫu mỡ, đă bắt đầu có những giới hạn. Cây cỏ cũng quá quá tŕnh thành trụ dị
diệt như các sinh vật khác. Trong khoa sinh học, thú vật vừa có sự sống vừa có ư
thức và t́nh cảm (cảm thọ). Con người là đối tượng phức tạp nhất, vừa có sự
sống, ư thức, cảm thọ nhưng đồng thời có ư thức phản tỉnh mà các loài
khác không có (ít nhất theo kiến thức hiện nay). Nhờ ư thức phản tỉnh con người
có thể tạo ra văn hóa, văn minh và quan trọng nhất là có quyền chọn lựa.
Phương pháp t́m hiểu trực tiếp tâm lư con người là phương pháp nội tỉnh, tức
phương pháp thiền định và thiền quán. Phương pháp thiền quán để nghiên cứu thực
nghiệm nội tâm cũng như phương pháp thực nghiệm nghiên cứu vật chất trong các
khoa học tự nhiên. Nằng nặc đ̣i phải dùng phương pháp thực nghiệm trong khoa học
tự nhiển để nghiên cứu một sinh vật có ư thưc phản tỉnh mới là thài độ phản khoa
học và giáo điều!
Thiền quán là phương pháp thực nghiệm thế giới tâm linh
không có ǵ huyền bí cả và kinh nghiệm nội tỉnh đă được truyền thừa qua bao
nhiêu thế hệ và chỉ nam thiền quán. Muốn nghiên cứu th́ phải học tập nghiên cứu,
nghĩa là tọa Thiền. Đă không chịu học tập nghiên cứu mà cứ kết luận là chỉ quan
và huyền nhiệm, mới là thái độ giáo điều. Khác với các phương pháp nghiên cứu
trong khoa học tự nhiên, không ai dùng lời nói để mô tả cho người khác biết kết
quả của thiền quán là ǵ, v́ nói đến mấy đi nữa, người nghe cũng chỉ thấy và
hiểu ở b́nh diện tri thức. Muốn thực nghiệm được hương vị của giài thoát, phải
tự ḿnh áp dụng thiền quán để khám phá thề giới kỳ diệu của nội tâm. Không có
con đường nào khác!
Để có thể bắt đầu cuộc đối thoại, Ken Wilber đề nghị định
nghĩa của phương pháp thực nghiệm khoa học: thực nghiệm vật chất như trong các
khoa tự nhiên như hóa học vật lư, thực nghiệm lư trí như trong các khoa luận lư,
toán học và thực nghiệm tâm linh, như phương pháp thiền quán của Phật giáo và
các ḍng Trappist của Thiên Chúa giáo. Ngược lại tôn giáo phải sẵn sàng bỏ những
huyền thoại phản khoa học như đức mẹ đồng trinh, thế giới sáng tạo trong 5 ngày
hay Moses rẽ sóng đi giữa Hồng Hải, con người là phần máu thịt thiêng liêng của
Chúa vân vân. Những huyền thoại này chỉ có tính cách ẩn dụ nên không thể hiểu
theo nghĩa đen không ai chấp nhận, kể các các tín đồ ngoan đạo, trong thời hiện
đại.
Đức Phật bắt đầu bằng giảng pháp bằng Tứ Diệu Đế, hoàn
toàn không dựa vào một ư niệm siêu h́nh thiêng liêng nào, tuy nhiên qua quá
tŕnh phát triển, nhiều huyền thoại đă đưọc tạo ra và trở thành niềm tin ‘bất
biến’ đối với một số Phật Tử. Liệu chúng ta có can đảm giải thích những huyền
thoại này theo ánh sáng của nhận thức hiện đại như ?
Rũ bỏ mặc cảm truyền kiếp
Trong khi nghiên cứu tác phẩm Phật Giáo Nhập Thế Việt Nam,
tôi có ghi nhận lời phê b́nh của cố vấn Ngô Đ́nh Nhu về Phật Giáo. Ông dè bĩu
cho Phật Giáo là một trong những trở ngại chính cho sự phát triển Việt Nam, v́
Phật Giáo đầy rẫy mê tín dị đoan. Ngô Đ́nh Nhu c̣n ngạo nghễ phê b́nh là, trong
quá khứ Phật Giáo không có đóng góp quan trọng nào vào văn hoá và xă hội Việt
Nam. Nhu hàm ư là chỉ có Thiên Chúa giáo mới có thể có những đóng góp tích cực
vào sự phát triển Việt Nam và đưa Việt Nam vào với cộng đồng văn minh khoa học
Tây Phương. Thực dân và những người cộng tác cũng chỉ muốn cho người Việt Nam,
nhất là thế hệ thanh niên, tin rằng tư tưởng truyền thống Đông Phương đă
làm tŕ trệ việc canh tân đất nước. Luận điệu tuyên truyền này cũng hàm ư là
việc chống đối sự du nhập thực dân và đạo Thiên Chúa là một sai lầm. Nguyễn Văn
Trung dù lên án chế độ thực dân và việc cải đạo tập thể của các thừa sai Thiên
Chúa, xem đây là một sự xấu, nhưng lại nhấn mạnh đó là một sự xấu cần thiết.
Nguyễn văn Trung phải dùng lư luận thuyết phục v́ ông biết độc giả phần lớn là
sinh viên và trí thức, không thể dùng luận điệu hàng tôm hàng cá mà chỉ có thể
dùng kỹ thuật đưa tin tức sai lạc và nói nửa sự thật. Đến các cán bộ tuyên
truyền thân thực dân như Nguyễn gia Kiểng th́ hết thuốc chữa. Dân tộc Việt Nam
chống thực dân và Thiên Chúa là một sai lầm lớn lao. Ai lại chống phúc âm và sứ
mệnh văn minh bao giờ! T́nh trạng chậm tiến và chiến tranh Việt Nam là hậu quả
sai lầm này. Tổ quốc và dân tộc Việt Nam phài ăn năn và xin lỗi thực dân và các
thừa sai Thiên Chúa!
Khi nghiên cứu Phật Giáo trực tiếp qua sách vỡ và tư tưởng
của người Tây Phương, tôi mới có cơ hội thấy được sự thật đơn giản: thần học Ky
Tô đă hoàn toàn tương phản với những tiến bộ khoa học và văn minh Tây Phương.
Dùng huyền thoại thần học, giáo hội La Mă đă t́m mọi cách để bịt miệng những
người có viễn kiến và tinh thần khoa học, ngăn cản bước tiến kinh tế và xă hội,
che chở và cũng cố cho cho các chánh quyền bạo tàn địa phương để tiếp tục thi
hành chánh sách ngu dân. Không có phong trào duy lư dùng ánh sáng giác ngộ để
giải phóng con người khỏi sự khống chế của thần học Thiên Chúa. Phong trào hiện
đại có lư do để hănh diện v́ nhờ ánh sáng duy lư mới có văn minh Tây Phương được
ngày hôm nay. Thay v́ dân tộc Việt Nam phải xin lỗi thực dân và các thừa sai,
chính Giáo Hoàng Joan Paul 2 cùng quần thần vào ngày 12 tháng 3 năm 2000 đă
công khai xin lỗi nhân loại về tội lỗi mà giáo hội Thiên Chúa đă gây ra cho nhân
loại trong suốt 2000 năm.
Không thể nào có một cuộc đối thoại có ư nghĩa nào giữa
các tôn giáo độc thần Abramic (chỉ trừ một vài ḍng tu dùng phương pháp nội tỉnh
như Trappist) và khoa học. Einstein đă sớm nhận thấy tính ‘khoa học’ của Phật
Giáo và từng tuyên bố là nếu có tôn giáo nào xứng đáng gọi là tôn giáo toàn cầu
trong tương lai, đó là Phật Giáo. Ambedkar đă quy y cho hàng triệu dân
Untouchables ở Ấn thành Phật tử sau khi nghiên cứu kỹ các tôn giáo khác tại Ấn
như Thiên Chúa, Tin Lành, Ấn Giáo và Sikh, thấy chỉ có Đạo Phật đặt vấn đề giải
phóng con người khỏi nô lệ tư tưởng. Không phải sự t́nh cờ mà các khoa học gia
tây phương chỉ muốn đối thoại với Phật Giáo, hay nói một cách chính xác
hơn, chỉ có Phật giáo mới có đủ tầm vóc để có đặc quyền để trở thành một người
đối thoại b́nh đẳng với khoa học.
Các nhà tôn giáo học và khoa học nh́n thấy sự tương đồng
giữa hai bên: đối tượng, mục đích và phương pháp nghiên cứu. Người làm ra lá cờ
Phật Giáo, Đại tá Henry Steele Olcott, trong tác phẩm Buddhist Catechism,
cho rằng cả khoa học và Phật giáo đều chủ trương chúng sinh và vũ trụ bị chi
phối bởi luật nhân duyên và tiến hóa từ các chủng loại hạ đẳng lên dần tới những
chủng loại cao hơn. Đạo Phật là ‘lộ tŕnh khoa học’, không phải chỉ là lư thuyết
đạo đức thuần túy và cũng như khoa học, tư tưởng đạo Phật không đắm ch́m trong
lư thuyết siêu h́nh về nguyên thủy của vạn vật.
Trong nghị hội Phật Giáo tại Chicago vào năm 1893,
Anagarika Dharmapala, người khởi xướng phong trào chấn hưng Phật Giáo tại Ấn Độ,
v́ đạo Phật không chấp nhận một đấng tạo hóa, Phật Giáo không cần giải thích nào
khác hơn là giải thích khoa học! Paul Carus, tác giả The Gospel of the Buddha,
cho rằng Phật Giáo có vị thế đặc biệt trong số các tôn giáo thế giới để ‘ḥa
giải’ với khoa học. Hay theo Đại Sư Suzuki, Phật Giáo phối hợp tinh thần của
khoa học và triết lư.
Trên đây là quan điểm của các nhà nghiên cứu vào thế kỹ 19
và đầu thế kỹ 20. Hiện nay sự liên hệ giữa Phật Giáo và khoa học c̣n chặt chẽ
hơn nữa. Các nhà tôn giáo học như Thomas Wilson và Dyer Daniel Lum cho rẳng khác
với Ky Tô-Do Thái, Phật Giáo với tinh thần phê phán triệt để, không chấp nhận
giáo điều và nhất là nhấn mạnh vào vai tṛ của cá nhân trong việc giải
thoát, rất gần gũi với tinh thần khoa học. Luật duyên sinh trong Phật Giáo tương
tự như luật nhân quả phổ biến của khoa học. Phật Giáo là một hệ thống khoa học
thực nghiệm nhằm chuyển hóa tâm linh con người và chuyển hóa được tâm linh là
chuyển hoá được nhiều chuyện khác, kể cả xă hội. Như tôi đă nhấn mạnh trong tác
phẩm Phật Giáo Nhập Thế Việt Nam, không chịu chuyển hóa tâm linh mà cứ đ̣i làm
cách mạng, chỉ gây nhiễu nhương cho con người và xă hội.
Lúc bắt đầu cuộc hành tŕnh vào Phật Giáo (1963), cũng như
nhiều thanh niên trí thức khác, tôi thú nhận là có mặc cảm các tôn giáo trưyền
thống có chứa đựng quá nhiều mê tín dị đoan. Lời tuyên truyền của thực dân và
các thế lực cộng tác không phải là không có hiệu quả. Tuy nhiên, mặc cảm và nhận
thức sai lạc này không phải là không do chính những tổ chức Phật Giáo Việt Nam
lúc bấy giờ góp phần vào. Dưới cặp mắt đầy nghi ngờ của các cán bộ (kiểm soát)
tư tưởng, Phật Giáo không phát triển ở miền Bắc đă đành, nhưng ở miền Nam, chùa
chiền đầy dẫy những thầy cúng thầy pháp Cổ sơn môn, thấy bói lăng ông, bà đồng
chúa xứ. Khá hơn một chút là các nhóm Tịnh Độ Tông, một phần nhờ chính thống,
một phần các cư sĩ lănh đạo có học có tu (như cư sĩ Đoàn Trung C̣n) nhưng phần
lớn đại chúng cũng như giới tu hành xem chùa chiền là nơi mua bán phước báu. Chỉ
có mấy ḍng Thiền chính thống thưa thớt ẩn nấp sau mấy ngôi chùa ở miền Nam và
phần lớn ở miền Trung. Nhất Hạnh từng cay đắng nói trong thời đó, ‘lương sư’ th́
ít mà ‘bất lương sư’ th́ nhiều. Đó là lư do giải thích tại sao tác phẩm Nẻo Vào
Thiền Học của thầy một sớm một chiều đă trở thành sách gối đầu giường của cả thế
hệ thanh niên vào hai thập niên 60 và 70.
Gần đây, mấy linh mục Việt Nam ở Queensland dở tṛ ‘Đức Mẹ
chảy máu’ để lường gạt nhóm giáo dân nhẹ dạ, cho thấy rơ ảnh hưởng kéo dài của
chánh sách ngu dân của Thần Học Ky Tô.
Cũng như khoa học duy lư, Phật Giáo là ‘thế kỷ ánh sáng’
nhấn mạnh trên năng lực cá nhân và giải thoát con người. Có nghĩa là Phật tử sẵn
sàng từ bỏ đạo quân ‘bất lương sư’ đang cổ động cho những lễ nghi mê tín dị đoan
‘tiền hiện đại’, sẳn sàng đối thoại với các ngành khoa học và như lời đức Đạt
Lai Lạt Ma, bỏ những niềm tin mà khoa học phủ nhận. Phật giáo cần giải thích lại
giáo lư theo nhận thức hiện đại và chấp nhận một Phật Giáo không cần niềm tin
(mê tín), như Stephen Batchelor đề nghị. Thần học Ky tô và luận điệu vong bản
của thực dân và giáo sĩ thừa sai đă được giải hoặc và hiện nguyên h́nh là những
con ma trơi, đến lúc Phật tử cần giải hoặc những huyền thoại tiền hiện đại của
một số ‘bất lương sư’ lười học biếng tu vẫn c̣n đang thuyết giảng.
Quán Như Phạm văn Minh
|
|