|
Để thay lời chúc Tết
HÔM NAY LÀ XUÂN MAI C̉N XUÂN
Hoàng Đông Tà
Đầu đề h́nh như là câu thơ của Nguyễn
Bính mà Hoàng tôi mượn để chúc xuân, chúc Tết. Hôm nay là 30 Tết Việt Nam, nhưng
nơi chốn lưu đày này th́ ngày nào cũng như ngày nấy thôi. Có nhớ th́ bất quá
cũng mơ về cố quận mà ‘lặng nh́n thiên hạ đón xuân sang’ như Nhất Linh một thuở
ngậm ngùi.
Bản nhạc đang vang
lên khắp nơi đâu đó h́nh như là Ly Rượu Mừng? Nhưng bài ấy vui hồn nhiên
như một khúc nhạc Hướng Đạo và chỉ hợp lúc pháo nổ giao thừa. Rốt cuộc hai bài
nhạc tôi thích vẫn là Bến Xuân và Hải Ngoại Thương Ca. Bến
Xuân lúc c̣n ở quê nhà, và Hải Ngoại Thương Ca khi đă lêu bêu quê
người.
Tuổi trẻ lông bông,
tim rộng mà chưa biết toan tính nên ai mà chẳng họa hoằn rơi vào cảnh ‘mỗi mùa
tiễn đưa một người’ như Mạnh Phát thành thật khai báo trong Nỗi Buồn Gác Trọ.
Nhưng tự giác như Mạnh Phát th́ đúng là tự sát nên cho tôi xin …không có ư
kiến. Hà! Hà! Nếu tôi được quyền phê điểm trao giải th́ Bến xuân và Hải ngoại
thương ca sẽ được liệt vào danh sách mười bản nhạc hay nhất của Việt Nam hiện
đại. Bất kể cái uẩn khúc tại sao Bến xuân là bến xuân, mà bến xuân cũng là Đàn
chim Việt? Văn Cao đă trở về thiên thai, Phạm Duy th́ nghe đâu đang bận đón
xuân giữa phồn hoa ba mươi sáu phố thị. Không ai trả lời tôi, nhưng rứa cũng
được, miễn hay th́ thôi mà!
‘Nhà tôi bên chiếc
cầu soi nước, em đến tôi một lần, bao lũ chim rừng họp
đàn trên khắp bến xuân.’ Bức tranh của một cuộc hẹn ḥ viên măn, một cuộc t́nh
dang dở ngậm ngùi? Hồi c̣n trên Blue Mountains, mỗi lần đi qua ḍng suối trên
đỉnh đèo gần nhà, tiếng nước róc rách dưới cầu lại khiến tôi nhớ Bến xuân, da
diết nhớ về những ngày cưỡi ngựa xem hoa thuở nào. Những ngày xưa thân ái, như
Phạm Thế Mỹ từng nói. Đó là bóng mát cho kẻ lữ hành
trên đường đời xuôi ngược. Tôi có cái may mắn chia xẻ đời ḿnh với một người
tôi yêu và yêu tôi. Tôi có cái may mắn hơn nữa là cuộc t́nh trọn vẹn đó không
làm mất đi trong tôi những hoài niệm ngọc ngà thời niên thiếu. Tôi luôn luôn tự
nhủ ḷng bội bạc với quá khứ là bất trung với hiện tại, nên tôi chắt chiu từng
đoạn đời đă qua, nâng niu từng niềm thương nỗi nhớ qua bao nhiêu lận đận bầm dập
đời dành cho hay tôi tự t́m lấy. Không chỉ trân quư những niềm vui mà nâng niu
những niềm đau nữa. Bởi nói cho cùng quá khứ nào mà chẳng là một thất bại, cố
nhân nào mà chẳng là một kẻ thua cuộc th́ tại sao phải phụ hoài niệm, sao phải
ghen với quá khứ? Lại nữa, không thất bại th́ quá khứ thành tựu đă trở thành
hiện tại, ai vào đó nữa mà phụ mà ghen, phải không?!
‘Em đến tôi một
lần…’ dù là trên bến xuân hoang đường. Một lần thôi cũng đủ cho phù du thành
thiên thu, cũng đủ ngàn sau tiếp nối ngàn xưa. Xuân mà không có những sát-na
thần tiên th́ làm ǵ có xuân? Tuổi trẻ không có những chuyện hoang đường mà rất
thực đó th́ c̣n ǵ là tuổi trẻ? Và do đó cũng làm ǵ có trưởng thành, hay cùng
lắm cũng chỉ có một trưởng thành b́nh thường đến độ chẳng có ǵ đáng để ‘lưu
luyến một ngày qua’ cả.
Hải ngoại thương ca
của Nguyễn văn Đông là bài tủ của tôi khi đă phải xa quê. Lời nhạc chân chất đi
suốt vào những ngơ ngách con tim như nước thấm vào hốc đá:
Một mùa thương kết muôn hoa ḷng
Người về đây nối câu tâm đồng
Về cho thấy xuân nồng áo em
Cho t́nh xưa thôi cách xa
Về chung mái nhà lá.
Người về đây giữa non sông này
Hội trùng dương hát câu sum vầy
Về cho thấy con thuyền nước Nam
Đi vào mùa xuân mới sang
Xa rồi ngày ấy ly tan.
Tôi đi giữa trời bồi hồi
Cờ bay phất phới quên chuyện ngày
xưa
Mong sao nước Việt đời đời
Anh dũng oai hùng chen chân thế
giới.
Mặc thời gian tóc pha đôi màu
Mặc đại dương sóng to mưa gào
Đàn chim bé trong làn chớp xanh
Yêu trời tự do Á Đông
Thương về đồi núi xa xa.
Ba mươi chín năm ĺa nơi chôn nhau cắt rún, một phần tư thế
kỷ xa quê hương sống đời lưu đày, mỗi lần Tết đến tôi lại quay cuồng ray rứt với
bản nhạc đó như một hẹn ḥ tái ngộ. Tiếng hát đơn thuần như một bài hài cú đó
đă nói dùm tôi những ǵ tôi ấp ủ, đă dạy cho tôi thương, đă khuyên tôi đừng thù
hận, đă ngăn tôi đừng thất vọng.
Trước ngày về, tôi đă được cảnh tỉnh: ‘Anh nhớ giữ ǵn sức
khoẻ để đủ sức vi hành nhé, về lại nơi xưa chốn cũ là có nhiều người, nhiều cảnh
gợi cảm lắm, rất nguy hiểm cho những người có trái tim bao la…’ Nhưng
điều ‘gợi cảm’ với tôi không phải là người mà là tâm cảnh. Giờ đây người Việt
không c̣n phải lo giết ai và phải lo sợ bị ai giết, có thể đi đâu th́ đi từ Bắc
vô Nam từ Nam ra Bắc. Nước tôi có gạo dư ăn, có dầu hỏa, có lâm hải sản. ‘Gợi
cảm’ là đồng bào tôi có thể, và có quyền, nghĩ tương lai đang ở trong tầm tay
ḿnh. Những điều khác, c̣n tùy thời gian, tùy nổ lực
tự quyết của mọi người, tùy can đảm tự giác của kẻ có quyền. Kinh nghiệm đó đă
tập cho tôi kiên định hơn với ḷng tin một đất nước anh hùng, luôn luôn có anh
hùng. Tôi khỏi cần thất vọng, tôi khỏi cần bục dọc, tôi khỏi cần băn hăn bó hó.
Trên chuyến bay
chặng đầu trở lại đời xa xứ, khi mở hộp điểm tâm nâng ổ ḿ thịt lên miệng, tôi
bỗng ứa nước mắt dù không có ǵ để khóc. Tôi lật đật chùi mắt và phân vân không
hiểu tại sao. Cho đến lúc chợt ngộ rằng, đây là lần đầu tiên từ ngày thật sự
đặt chân lên quê hương, tôi đang ăn một ḿnh, không có cha mẹ anh em bạn bè thân
thương bên cạnh! Những buổi ăn vui vầy, những buổi chuyện tṛ thân mật thẳng
thắn, những cuộc họp mặt đầm ấm vui nhộn, tôi đành để lại đàng sau. Chuyến về
thật như chim chóc trở về rừng núi, như ḱnh ngư trở về biển cả, như tôm tép trở
về sông lạch. Hay như Nguyễn văn Đông đă tiên đoán cho tôi từ mấy mươi năm
qua:
Về cho thấy con thuyền nước Nam
Đi vào mùa xuân mới sang
Xa rồi ngày ấy ly tan.
Có người vẫn thường
hoài nghi làm ǵ có Xuân, có Tết. Không có một hiện thực nào là giao thừa trừ
tịch. Bởi tất cả đều là chuyển dịch. Hiện tại chỉ là sát-na của sát-na. Tôi bắt
đầu hoài nghi cái hoài nghi đó. Để thấy rằng có thiên thu trong phù du và phù
du trong thiên thu. Qua ánh mắt nụ cười thương yêu và nguyện ước mọi điều tốt
đẹp cho nhau.
Hoàng Đông Tà
30 Tết Ất Dậu, 2005.
|