|
MỘT CƠI ĐI VỀ CỦA THIỀN SƯ
NHẤT HẠNH
Hoàng Nguyên Nhuận
Chuyến về của Thiền sư đă hơn được nửa
đường. Hà Nội, rồi! Sài G̣n, rồi! Giờ là Huế và B́nh Định
. Thiền sư không đủ th́ giờ để đi Tây nguyên, Miền
Tây chưa có cơ duyên đón chào Thiền sư. Xin chờ lần tới. Jamais un sans deux.
Đây là lư do tại sao Hoàng tôi xin mượn ư của Trịnh công Sơn làm đề tựa cho một
vài cảm nghĩ quanh chuyến về này.
Thiền sư Nhất Hạnh đă về được một lần, Thiền sư sẽ trở lại,
bởi quê hương cần Thiền sư và Thiền sư cũng cần quê hương. Mấy mươi năm rồi,
Thiền sư đă chọn một pháp tu dễ nhất mà cũng là khó nhất đó là yêu ḿnh bằng
cách yêu quê hương đồng bào. Yêu ḿnh th́ dễ, ngay cả yêu cái ước vọng Niết Bàn
giải thoát, nhưng tự giải thoát bằng cách giải thoát kẻ khác là điều đại khó.
Thiền sư là người đă thực chứng phương tŕnh yêu ḿnh
= yêu đạo
+ yêu nước. Nghĩ rằng
tu là ngồi yên một chỗ nhắm mắt hít thở chờ giải thoát là hoang tưởng. Nếu Phật
ngày xưa chỉ sống với phương tŕnh yêu ḿnh
= yêu đạo th́ sau khi
giác ngộ, Phật cứ thẳng đường nhập Niết Bàn, mắc chi phải ôm b́nh bát lang thang
bụi đời ngót nửa thế kỷ trước khi tịch diệt?
Hoa Sen Thực Sự Nở Trong Ḷ Lửa
Bằng phương tŕnh
yêu ḿnh = yêu đạo
+ yêu nước,
mấy chục năm qua, Thiền sư Nhất Hạnh không tu dùm, Thiền sư
chỉ tu cùng và tu với. Quá tŕnh đó gắn liền với
Hoa Sen Trong Biển Lửa và Nói Với Tuổi Hai Mươi. Trở về quê hương
lần này, Thiền sư hẳn thấy hoa sen thực sự đă nở trong ḷ lửa. Ḷ lửa của bao
nhiêu năm chinh chiến với những cập lụy oan khiên của nhân họa và thiên tai.
C̣n t́nh thương, c̣n t́nh người, c̣n ước vọng tự lực thăng tiến, c̣n tự trọng tự
ái dân tộc là c̣n tất cả. Một số người Do Thái trở thành thiên tài v́ tuyệt vọng
mất quê hương. Thiền sư Nhất Hạnh trở thành thiên tài v́ Thiền sư thấy Thiền sư
có quê hương, một quê hương không hận thù, không phụ rảy, một quê hương cần
Thiền sư trong lúc đang ngoi lên từ cảnh đói cơm rách áo, để tiến tới ăn no mặc
ấm trong ước vọng ăn ngon mặc đẹp.
Tăng đoàn gồm hơn hai mươi quốc tịch khác nhau tháp tùng phù
trợ Thiền sư trong chuyến về này không phải là một biểu hiện của quốc tế chủ
nghĩa trong đó ḷng ái quốc và Việt tính sẽ bị lên án như một chủ nghĩa dân tộc
cực đoan. Phật pháp không phân biệt biên giới quốc gia chủng tộc, nhưng Phật
giáo không phải là một tôn giáo đ̣i hỏi người ta phải quên quê hương đồng bào.
Phật giáo là Phật giáo Việt Nam, chứ không phải là Phật giáo tại Việt Nam
và tầng lớp lănh đạo sơn môn không cần phải qua Ấn Độ, Trung quốc hoặc
một nơi nào khác để được phong Tăng Thống, Hoà thượng, Thượng
Tọa, Đại Đức mới đủ tư cách sống đạo và hành đạo. Tôn giáo không tự trị th́ sẽ
chỉ có những nhà tu bị trị, những thừa sai hành động theo lệnh tha nhân.
Phật Giáo Là Đạo Của Thời Đại
Ư nghĩa thứ hai
trong chuyến về của Thiền sư Nhất Hạnh là tăng niềm tin của Phật tử Việt Nam về
một cách hành tŕ, tu tập và phục vụ thích hợp không chỉ cho quốc gia mà cả cho
những người ngoài biên giới và truyền thống Việt Nam chứ không chỉ là Phật giáo
tiền Genève như ở Miền Bắc, hay tiền Paris như ở Miền Nam. Thật vậy, trong khi
Phật giáo Miền Bắc c̣n lấn cấn với t́nh trạng sống đạo của thời tiền thống nhất
1951 th́ Phật giáo Miền Nam lận đận với ước vọng độc lập quốc gia và ḥa b́nh
dân tộc cho đến khi ḥa b́nh độc lập và thống nhất được phục hồi.
Năm 1975 đánh dấu
một khúc quanh lịch sử, đất nước có những nhu cầu mới, những định hướng mới đ̣i
hỏi Phật sự phải thích ứng và cập nhật. Phương thức hành tŕ tu tập mà Thiền sư
Nhất Hạnh xướng xuất là một cách đáp ứng những đ̣i hỏi Phật sự đó. Cho nên, nếu
trước năm 1975, Thiền sư đă can đảm và mạnh dạn lên tiếng phản đối nạn kỳ thị
đàn áp tôn giáo, lên tiếng phản đối chiến tranh kêu gọi ḥa b́nh th́ pháp âm của
Thiền sư cũng đă vang lên trước nghịch cảnh huynh đệ tương tàn ở Do
Thái-Palestine, khi hai cao ốc WTC bị đánh sập, khi chiến tranh Iraq bùng nổ và
khi những tsunami cuồng nộ tàn phá một phần Á châu… Thiền sư cũng là người biết
cách nói cho người Trung quốc hiểu để cởi trói văn hóa cho dân tộc Tây Tạng, để
ḥa hợp ḥa giải với Đài Loan, để thực thi một chính sách tôn giáo tự trị vượt
khỏi mọi thao túng và khuynh loát quốc tế. Đoàn tăng thân quốc tế với nhiều
quốc tịch khác nhau tháp tùng Thiền sư trong chuyến về này chứng tỏ phần nào
tinh thần tiếp hiện nhập thế mà Thiền sư muốn chia xẻ không chỉ với quê hương mà
cho cả nhân loại.
Hợp Tác và Bất Hợp Tác
Ngày trước, Thiền sư
Nhất Hạnh và Phật giáo tại Miền Nam đă bị những thành phần CCCB-CCCĐ lên án là
tiếp tay làm sụp đổ Miền Nam, trong khi những thành phần cực đoan ở Miền Bắc lúc
th́ xem Phật giáo như một bộ phận thành thị của MTDTGP hay của Miền Bắc, nghĩa
là âm vang hay cái bóng của CHXHCN, lúc lại tố cáo Phật giáo là công cụ ngoại
quốc. Lịch sử đă và đang chứng minh cả hai điều không phải như thế. Phật giáo
là Phật giáo, không là bóng h́nh âm vang của ai cả. Phật giáo có con đường
riêng của Phật giáo để chấm dứt chiến tranh, thực hiện thống nhất ḥa b́nh. Con
đường đó là độc lập quốc gia, ḥa b́nh dân tộc và cách mạng xă hội.
Chừng nào các chính quyền Miền Nam, MTDTGP hay chính quyền Miền Bắc theo đuổi
những mục tiêu đó th́ tất nhiên phải thừa nhận và ủng hộ Phật giáo, đi xa những
mục tiêu đó th́ tất nhiên phải phủ nhận và t́m cách khuynh loát triệt hạ Phật
giáo. Và quả thật có lúc Phật giáo đă tứ bề thọ khổ.
Nếu chính quyền và
Phật giáo hôm nay có những điểm tương đồng khả dĩ đối thoại và hợp tác, như đang
xảy ra trong chuyến về của Thiền sư Nhất Hạnh, th́ đó chính là các điểm độc lập,
ḥa b́nh và cách mạng vừa nêu trên. Và chừng nào chính quyền vẫn theo đuổi thực
hiện những điểm tương đồng đó th́ Phật giáo sẽ hợp tác và hỗ trợ, phải hợp tác
và hỗ trợ. Đó không phải là điều kiện, đó là quy luật lịch sử.
Chính những người hữu trách đương nhiệm cũng phải nhận rằng
trong ba mươi năm kháng chiến, khi nào theo đúng truyền thống dân tộc và giữ
đúng Việt tính th́ chính quyền thành công, khi nào nhắm mắt vội vàng áp dụng
những chủ trương chính sách ngoại nhập th́ vấn đề xuất hiện, và xuất hiện một
cách trầm trọng đau thương dai dẳng. Miền Bắc làm ǵ có giai tầng kulak
đại địa chủ và nông nô theo quan niệm của Trung quốc hay Nga Xô, tại sao cải
cách ruộng đất và chính huấn lại được đem ra thi hành ồ ạt? Tại sao phải rập
khuôn cái bẫy Bách Hoa Tề Khai của Trung quốc để bày ra Trăm Hoa Đua Nở với một
mùa gặt ác bi đát? Chiến tranh Việt Nam là một cuộc nội chiến lồng trong cuộc
chiến chống ngoại xâm, tại sao phải thi hành chính sách khủng bố và nặng tay
trừng trị như hồi Mậu Thân hay trong các vùng xôi đậu thay v́ đặt nặng dân vận
và giáo dục? Hỏa tiễn Sam của Nga rất hữu hiệu biến bầu trời Hà Nội thành một
Điện Biên Phủ trên không cho không lực Hoa Kỳ, nhưng điều đó đâu có tất yếu buộc
phải truy kích địch bằng những gulag gọi là trại học tập cải tạo? Việt
Nam đâu đă hội đủ điều kiện tiến lên xă hội chủ nghĩa
không cần thông qua tư bản chủ nghĩa, tại sao vội vàng đem bước đại nhảy vọt cải
tạo xă hội chủ nghĩa ở Miền Nam ra thi hành ở Miền Nam với bao hậu quả bi hài
đến hôm nay vẫn chưa khắc phục hết? Chưa kể là tốc đoán ngây thơ áp dụng lời
Marx về tôn giáo Tây phương [tôn giáo là thuốc phiện của
nhân dân] rồi xem Phật giáo như một tôn giáo phản động với bao
nhiêu hệ quả bi hài cho đến hôm nay. Những thành phần hữu trách sáng suốt đương
nhiệm c̣n nhận ra được điều ấy th́ làm sao những người Phật tử hữu tâm có thể chấp
nhận, ủng hộ khoan nói là hợp tác với những
thái độ vọng ngoại sai lầm lịch sử đó
được.
Những nhận định và phê phán cần thiết đó quả thực cũng
chẳng mới lạ ǵ. Nhưng lâu nay một số nhận định và phê phán ồn ào nhất lại phát
xuất từ những người cũng có một quá tŕnh vọng ngoại không kém, do đó đă bị nghi
ngờ như là thua cay, cơ hội chủ nghĩa hay công cụ ngoại lai. Thật vậy, cho đến
hôm nay th́ những người này mới ‘đấu tranh’ cho nhân quyền, tự do dân chủ, tự do
tôn giáo và không giải thích tại sao Pháp đến họ theo Pháp, Mỹ đến họ theo Mỹ.
Họ cầu nguyện ḥa b́nh cho Việt Nam nhưng trong chiến tranh khi Mỹ ngưng oanh
tạc Miền Bắc để tạo điều kiện ḥa đàm th́ họ phản đối, cũng như khi Pol Pot và
Đặng tiểu B́nh đánh phá biên giới th́ họ hồ hởi khấp
khởi đợi chờ. Và hoà b́nh, nhân quyền kiểu ǵ khi quân đội Mỹ tấn công
Iraq, thay v́ "chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng" th́ họ lại (ảo tưởng)
nguyện cầu cho quân đội Mỹ thẳng đường trở lại Việt Nam!
Người Tạo Thời Cơ
Ư nghĩa thứ ba trong
chuyến về này là tác dụng khả hữu của Thiền sư Nhất Hạnh đối với tuổi trẻ Việt
Nam. Thế hệ thanh niên thiếu nữ Việt Nam hôm nay sinh ra và lớn lên sau khi đất
nước ḥa b́nh thống nhất và trong cơn sốt học hành-cơm áo-việc làm-thụ hưởng.
Trong cuồng lưu đó, nếu nhu cầu tâm linh đạo đức không được đưa lên hàng đầu th́
cũng là điều không có ǵ đáng ngạc nhiên. Không có ǵ đáng ngạc nhiên nhưng
không phải là không có vấn đề. Nhất là khi tầng lớp trẻ hôm nay luôn luôn bị
thôi thúc bởi những cái gọi là tiên tiến, hiện đại, văn minh đến từ ngoại quốc.
Thế hệ trẻ hôm nay sẽ có cơ duyên thực chứng những quan hay công án
thường thấy nơi Thiền sư như ư nguyện tiếp hiện, phong cách tỉnh giác, thư thái,
nghệ thuật, không g̣ ép khổ hạnh, tu để thấy vui và thấy vui mà tu, tu như sống
và sống như tu, ḿnh v́ mọi người mọi người v́ ḿnh. Đem tuổi trẻ Việt Nam hải
ngoại về gần với quê hương và đem tuổi trẻ Việt Nam hải nội bung ra với thế
giới. Đó là một trong những đóng góp lớn lao tích cực Thiền sư Nhất Hạnh có thể
thực hiện kể từ chuyến về này. Và Thiền sư Nhất Hạnh chắc sẽ làm được. Thiền
sư Nhất Hạnh hẳn sẽ có cơ duyên khai thị cho thế hệ trẻ Việt Nam thấy rơ họ là
thành phần chủ lực và chủ động để triển khai những điểm mạnh mà Việt Nam đang
may mắn có được để kiên tŕ góp phần xây dựng một Việt Nam đủ sức, đủ tài trí để
‘anh dũng oai hùng chen chân thế giới’ như một lời nhạc của Nguyễn văn Đông.
Chỉ cần lớp trẻ quyết tâm, và chắc chắn Thiền sư Nhất Hạnh có cách nhắc nhở họ
điều ấy. Bởi Thiền sư Nhất Hạnh là người có biệt tài tạo ra biến cố. Chưa ai
quên là chỉ một bài Giọt Mưa Trên Lá, Thiền sư đă quạt bùng lên cả một
phong trào thơ, văn, nhạc phản chiến mơ ḥa b́nh. Chỉ một bài Bông Hồng Cài
Áo cũng đủ tạo thành truyền thống ghi khắc và ca ngợi t́nh gia đ́nh mẫu tử.
Chưa kể phong trào kibbutz Thanh Niên Phụng Sự Xă Hội, chưa kể ḍng
Tiếp Hiện, chưa kể thiền xuống đường, thiền giữa phồn hoa…
Ḥa Hợp Ḥa Giải Với Ḿnh Với Người
Ư nghĩa thứ tư có
thể thấy trong chuyến về này là Phật tử có cơ hội thấy được cuộc ‘nội chiến’
giữa Phật giáo với chính quyền và Phật giáo với Phật giáo lâu nay qua những cặp
sắc tướng như thân chính-đối chính, quốc gia-quốc doanh là vô bổ và không lợi ǵ
cho nhu cầu Phật sự cả. Kẹt vào những cặp sắc tướng đó nên Phật giáo đă dậm
chân tại chỗ trong khi các tôn giáo khác đủ thời giờ và điều kiện để thực hiện
biến động Tây nguyên, chui sâu trèo cao vào mọi cơ cấu chính quyền,
giành dân lấn
đất ở duyên hải, biến La Vang Quảng Trị thành một Gdansk mơ ngày hiện thực diễn
biến ḥa b́nh. Thiền sư Nhất Hạnh không phải, và chưa hề tự xưng là Hội Chủ,
Pháp Chủ, Tăng Thống, Thượng Thủ, Vô Thượng Sư. Thiền sư chỉ là một Sư ông,
một người Thầy, một thiền sư của Làng Mai. Thiền
sư khéo léo từ chối danh xưng Viện Chủ, Hoà thượng trong các buổi pháp thoại.
Nhưng Phật sự và ảnh hưởng của Thiền sư, của Làng Mai vể mọi phương diện là
điều hiển nhiên. Những quan hệ oan khiên tiêu cực giữa Phật giáo và chính
quyền, ít nhiều vẫn c̣n đó và cần thời gian cũng như thiện chí của cả hai phía
để tháo gỡ chứ không phải để làm trầm trọng thêm v́ tự ái, v́ tư lợi, v́ vô minh
và sân si.
Tiếng Vọng Từ Đáy Giếng
Quanh chuyến về của
Thiền sư Nhất Hạnh, lác đác cũng thấy có một vài lời phản đối. Thô bạo, dung
tục và ồn ào nhất là của Vơ văn Ái, phát ngôn viên của GHPGVNTN Hải Ngoại, Hoa
Kỳ, Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan, Pháp, Đức … của quư ngài Tâm Châu, Hộ Giác, Quảng
Ba. Họ hi vọng và đ̣i hỏi Thiền sư Nhất Hạnh phải lặp lại những điệp khúc nhân
quyền, tự do tôn giáo, tự do dân chủ của họ. Nhưng Thiền sư Nhất Hạnh là con
phượng trên mây chứ không phải là con gà trên đỉnh núi.
Những người chống
chuyến về của Thiền sư Nhất Hạnh cũng không từ nan dùng đến những đ̣n bá đạo như
tung hỏa mù về chuyện đời tư, tiền bạc. Phải dùng đến những đ̣n bá đạo đó th́
cũng đủ thấy họ đă bế tắc, bất lực và tuyệt vọng như
thế nào. Vơ văn Ái c̣n thác lời HT Quảng Độ và TT Tuệ Sĩ rằng hai vị này đă tẩy
chay không gặp Thiền sư Nhất Hạnh. Cũng chẳng có ǵ ngạc nhiên, bởi lư hai vị
này mà gặp Thiền sư Nhất Hạnh mới là điều ngạc nhiên. Gặp Thiền sư là xác nhận
những điều lâu nay họ lên án như vi phạm nhân quyền, chà đạp tự do tôn giáo … là
không thực. Bằng chứng là Thiền sư Nhất Hạnh ‘là’ thượng khách của chính quyền,
‘là’ làm lợi cho chính quyền như phát ngôn viên của họ là Vơ văn Ái tố cáo, thế
mà họ vẫn dám không gặp! Điều đáng ghi nhận là HT Quảng Độ và TT Tuệ Sĩ tự do
không gặp Thiền sư Nhất Hạnh và cũng tự do không tuyên bố lời nào, ngay cả để
giải thích tại sao họ làm như vậy. Quư vị đó chịu giảm thiểu trận giặc ngôn từ
vô bổ như thế là điều đáng mừng rồi. Cũng c̣n một số khác cũng không muốn Thiền
sư Nhất Hạnh về đó là HT Thiện Hạnh, TT Trí Tựu, ĐĐ Chí Thắng, những tay chủ
chốt của Tăng Đoàn, một sản phẩm chia để trị dùng Tăng Ni chống Tăng Ni của
chính quyền các cấp liên hệ thời đó nhân tang lễ của Thiền sư Đôn Hậu mươi năm
trước đây.
Từ phía ngoài, những thành phần CCCB-CCCĐ ngoan cường ngoại
đạo dĩ nhiên là không muốn Thiền sư Nhất Hạnh về. Nhưng họ không dại ǵ công
khai phản đối v́ đă có những Phật tử CCCĐ như Vơ văn Ái và những người liên tôn
cả tin làm chuyện đó thay họ rồi. Họ đang dành thời giờ, phương tiện để chuẩn
bị chiến dịch kỷ niệm 30 Năm Mất Nước bằng ba giai đoạn ở Mỹ, ở Indonesia và ở
La Vang Quảng Trị. Trước mắt họ sẽ làm áp lực buộc chính quyền Việt Nam phải để
cho Giáo Hoàng đến La Vang, và biến nơi này thành một Gdansk để thao dượt kế
hoạch diễn biến ḥa b́nh như ở Ba-lan 25 năm trước.
Thủ bản của kế hoạch có thể nói là quyển Đức Giáo Hoàng John Paul 2 và Lịch
Sử Bị Che Đậy Trong Thời Đại Của Chúng Ta, do nhà xuất bản Công An Nhân Dân
in năm 1997. Đây là bản dịch quyển His Holiness John Paul 2 and the hidden
history of our time của Carl Berstein và Marco Politi. Trách nhiệm chuyển
Việt là Nguyễn Bá Long và Trần Quư
Thắng. Hi vọng Nguyễn Bá Long này không phải là
Nguyễn Bá Long ở Canada, chủ tịch Phong trào Hiến
Chương Roma do Đức Ông Trần văn Hoài chủ xướng trước đây để khai thác mối căn
thẳng giữa chính quyền và Phật giáo sau khi có văn thư 9 điểm của HT Huyền
Quang?
Sau hết, một thành
phần khác cũng không muốn chuyền về của Thiền sư có một tác dụng nào đó là thành
phần đă được Hồ Chí Minh cảnh giác khi đọc bốn vần tắt
chỉ Liên Bang Xô Viết có dạng như là CCCP. Hồ Chí
Minh đă phiên âm bốn vần CCCP đó ra thành: c̣n của cứ phá-các chú cứ phá-các
con cứ phá-c̣n chi cho phá. Tham ô cửa
quyền. Đây không phải là một căn bệnh đặc thù Việt Nam như bệnh do chất độc Da
Cam gây ra. Đây là bệnh của mọi hệ thống công quyền, chỉ khác nhau về h́nh thức
và mức độ tùy theo biên giới quốc gia. Chỉ có một xă hội trọng pháp, với một
thành phần đối lập, một đội ngũ truyền thông trưởng thành có trách nhiệm và hữu
hiệu và tác dụng của một nên văn hóa đạo đức và tâm linh đích thực th́ mới mong
ngăn chận cái tệ nạn thân thế nồi xổm trên chính quyền và chế độ này. Chính
quyền hôm nay đă nghiêm túc ư thức rơ điều đó. Bằng không th́ những ư kiến của
Thiền sư Nhất Hạnh về bố thí, về giới không trộm cắp, về b́nh đẳng
thăng tiến hẳn không khỏi làm cho một số người khó chịu hơn.
Một Cách Cám Ơn Thiền Sư Nhất Hạnh
Linh hồn của phong
trào Thanh Niên Phụng Sự Xă Hội là Nhất Chi Mai người đă tự thiêu v́ ḥa b́nh
Việt Nam ngày 16/5/1967 trước Chùa Từ Nghiêm Sài G̣n. Nhất Chi Mai là người đă
son sắc theo bước chân Tiếp Hiện của Thiền sư Nhất Hạnh cho đến chết. Trong tập
hồi kư Learning True Love (Pallax Press, Ca 1993), chị Cao ngọc Phượng,
thế danh của Sư Bà Chân Không, đă viết: ‘Người chị em tôi, Nhất Chi Mai, đă
không tự tử. Chị yêu thương cuộc đời. Chị được ăn học đến nơi đến chốn và sống
thoải mái, ngay cả trong thời buổi chiến tranh này. Chị quyết hy sinh đời ḿnh,
v́ trên tất cả, chị muốn cảnh chém giết phải chấm dứt. Chị muốn đem chính đời
ḿnh làm cái giá để mua ḥa b́nh cho Việt Nam.’ (sđd, tr. 105-106). Thế
giới yêu chuộng ḥa b́nh ngậm ngùi xúc động và cả Miền Nam sôi động v́ cuộc tự
thiêu này. Nhân chuyến về của Thiền sư Nhất Hạnh, Hoàng tôi trộm nghĩ chính
quyền có thể mạnh dạn đi bước trước bằng một cách ghi nhớ đẹp và khiêm cung nào
đó, ví dụ như một tượng đài, một tên đường, một công viên…, để trợ duyên cho
Thiền sư, Sư Bà Chân Không và Làng Mai trước tiên, thứ nữa là cho Phật tử Việt
Nam tưởng niệm và ghi khắc công đức của một người đă yêu quê hương bằng thân
mạng của chính ḿnh.
Tạm Thay Kết Luận
Hoàng tôi đă mở đầu với đề tựa bản nhạc của Trịnh công Sơn.
Một cơi đi về. Để kết luận, xin mượn thêm câu mở đầu trong bản nhạc của Trịnh
công Sơn:
Bao nhiêu năm rồi c̣n măi ra đi
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi
mệt
Trên hai vai ta đôi vầng
nhật nguyệt
Rọi xuống trăm năm một cơi đi về.
Khác chăng là chuyến đi về này, Thiền sư Nhất Hạnh và đoàn
tăng thân tháp tùng đă không phải gặp những
Đôi tay nhân gian chưa từng độ
lượng
Ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân th́.
như Trịnh công Sơn từng than thở. Bởi
đâu đâu Thiền sư và đoàn tháp tùng cũng được đón chào bằng những nụ cười vui
hiền và những bàn tay h́nh búp sen của những người cảm mến.
Để đón người về, để tiễn người đi và chờ đợi để đón người về
lần nữa, lần nữa và nhiều lần nữa.
Hoàng Nguyên Nhuận
Trên đường trở về nơi hạ trại, 2/2005.
|
|