Thầy Nhất Hạnh - tuổi trẻ chúng tôi, nhịp cầu giữa Huế xưa và nay
Tâm Hằng NĐX
Vừa qua, trên đường đi t́m tư liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu “Văn học phản chiến ở miền Nam Việt Nam”, Giáo sư Ito Tetsuji thuộc Đại học Ibaraki (Nhật Bản) do Ban Đối ngoại TP Huế giới thiệu, đă đến gặp và hỏi tôi:
-“ Được biết ông là một người cầm bút có sáng tác và nghiên cứu lại xuất thân trong Phong trào đấu tranh ở các đô thị miền Nam Việt Nam, xin ông cho biết Văn học phản chiến ở miền Nam Việt Nam, khởi phát từ đâu và ai là người xướng xuất đầu tiên ?”
Bị hỏi một cách đột ngột nên tôi hơi bất ngờ. Sau một phút tần ngần, nhớ lại chuyện cũ gần 40 năm trước (1965) tôi đáp:
-“ Văn học phản chiến ở miền Nam Việt Nam khởi phát từ Huế và người xướng xuất đầu tiên là Thầy Nhất Hạnh với thi tập Chắp Tay Nguyện Cầu Cho Bồ Câu Trắng Hiện”.
Giáo sư Ito tỏ ra mừng rỡ và nói:
- “ Cám ơn ông, thế là tôi đă gặp được nhân chứng cho điều mà tôi đang cần t́m. Xin ông kể lại sự kiện quan trọng ấy”.
Không thể từ chối trước một yêu cầu chính đáng như thế, tôi đă phải kể lại sơ lược sự kiện ấy. Và, đó cũng là lần đầu tiên (sau 1975) tôi nói về “Văn học phản chiến ở miền Nam Việt Nam” và Thầy Nhất Hạnh hồi giữa những năm sáu mươi của thế kỷ trước.
*
* *
Sau cuộc đấu tranh lật đổ chế độ Ngô Đ́nh Diệm, chúng tôi nghĩ t́nh h́nh miền Nam sẽ khá hơn. Nhưng không ngờ sau đó Tổng thống John F.Kennedy bị ám sát, Lyndon B. Johnson lên thay, Chính phủ Mỹ thực hiện nhiều toan tính leo thang chiến tranh ở Việt Nam. Ngày 2.8.1964, chiến hạm Maddox của Hoa Kỳ gây ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ. Chiến tranh của Mỹ mở rộng ra miền Bắc Việt Nam. Để phục vụ cho việc leo thang chiến tranh, người Mỹ dựng lên ở Sài G̣n nội các quân phiệt Nguyễn Khánh, ban hành Hiến chương Vũng Tàu thâu tóm mọi quyền lực cho quân đội dưới trướng Nguyễn Khánh, ban bố t́nh trạng khẩn trương trên toàn miền Nam, cấm ngặt việc nói, viết, b́nh luận hai chữ hoà b́nh. Cuộc đấu tranh của SVHS và đồng bào Phật tử Huế nổ ra trong đêm 20.8.1964 (kỷ niệm một năm bị Kế hoạch nước lũ của gia đ́nh họ Ngô tàn sát Phong trào đấu tranh chống Diệm ở các đô thị miền Nam Việt Nam), cũng chỉ dám nêu khẩu hiệu chống chế độ “quân phiệt” Nguyễn Khánh chứ không ai dám nói đến hai chữ “hoà b́nh”. Bởi v́ hai từ “hoà b́nh” lúc ấy dưới mắt chính quyền Sài G̣n đương với hai từ “Việt Cộng”. Mà “Việt Cộng” là bị đặt ra “ngoài ṿng pháp luật”. Người bị chụp mũ “Việt Cộng” họ có thể bị bắn bỏ bất cứ lúc nào. Lúc ấy bọn sinh viên Phật tử chúng tôi, phần lớn xuất thân trong các gia đ́nh ở nông thôn, tận mắt nh́n thấy và hứng chịu sự dă man của bom đạn Mỹ gây ra cho người thân, cho làng xă ḿnh mà không dám hé môi tố cáo / phản đối chiến tranh. Đầu năm 1965, đột nhiên một cánh chim hoà b́nh bay đến giữa chúng tôi - thi phẩm Chắp Tay Nguyện Cầu Cho Bồ Câu Trắng Hiện (CTNCCBCTH) của Thầy Nhất Hạnh - một nhà sư du học ở Âu Mỹ mới về Việt Nam từ sau ngày lật đổ chế độ độc tài kỳ thị tôn giáo Ngô Đ́nh Diệm. Qua thơ, Thầy Nhất Hạnh đă phát ngôn hộ khát vọng của chúng tôi. Chúng tôi ngấu nghiến đọc và khóc với nhiều h́nh ảnh trong thơ. Nhân có tập thơ của Thầy Nhất Hạnh (do Nhà xuất bản Lá Bối ấn hành) trong tay, một số đoàn viên SVPT - tôi c̣n nhớ có các bạn Nguyễn Thiết, Bửu Hồ, Phạm Thị Xuân Quế, Lê Minh Trường, Nguyễn Hữu Hiệp, Nguyễn Thế Côn…) bàn với anh Vĩnh Kha (Đoàn trưởng) và tôi (Đoàn Phó phụ trách nội vụ) xin lănh đạo Giáo hội cho tổ chức triển lăm tranh của Hoạ sĩ Lê Minh Trường và nhân có đủ mặt quan khách (kể cả đại diện chính quyền và quân đội Vùng 1 chiến thuật) đến dự triển lăm bất ngờ giới thiệu tập thơ CTNCCBCTH của Thầy Nhất Hạnh để gióng lên “tiếng nói hoà b́nh”. Anh Vĩnh Kha trực tiếp xin phép và được các thầy lănh đạo Giáo hội đồng ư cho tổ chức triển lăm tranh. Chuyện giới thiệu tập thơ th́ giữ tuyệt mật không báo cho các thầy biết. Vào một buổi chiều mưa phùn lạnh lẽo cuối năm Giáp th́n (đầu năm 1995), Pḥng tranh Quê Nghèo của Lê Minh Trường tại nhà giảng chùa Từ Đàm được cắt băng khai mạc. Pḥng tranh có khoảng 25 tấm. Ngoài một vài bức tranh sơn dầu vẽ trên toan (toile) phần lớn tác giả dùng phấn màu vẽ trên bố (bao gạo), giẻ rách, vải tận dụng từ áo quần rằn ri của lính biệt kích, lính dù quân đội VNCH. Nội dung các bức tranh tả thực cảnh nông thôn nghèo bị chiến tranh tàn phá rất cơ cực. Tôi nhớ nhất là bức vẽ trên bao bố h́nh ảnh một bà mẹ với vẻ mặt quắt queo như một trái cau khô bên giàn bầu giàn bí nghiêng đổ. Đây là cuộc triển lăm phản chiến đầu tiên ở miền Nam những năm sáu mươi. Người xem dù với tư cách ǵ, tầng lớp nào cũng đều rất xúc động. Sự xúc động đang lắng sâu th́ đột nhiên Lê Minh Trường đến máy phóng thanh tuyên bố đại ư: “ Thưa quư vị, cám ơn quư vị đă có những lời khen tặng cho các bức tranh nghèo của tôi. Nhưng sự thực, tôi đă lấy một phần cảm xúc từ trong tập thơ CTNCCBCTH của Thầy Nhất Hạnh. Tôi xin giới thiệu một vài bài trong tập thơ để quư vị thưởng thức và cảm nhận thêm thân phận làm người Việt Nam mà tôi đă gởi gắm trong các tranh”.
Trong lúc mọi người đang ngơ ngác, Lê Minh Trường giở tập thơ và đọc ngay bài đầu tiên:
“Hoà B́nh
“sáng nay vừa thức dây
nghe tin em gục ngă
nơi chiến trường
nhưng trong vườn tôi, vô t́nh
khóm tường vi vẫn nở thêm một đoá
tôi vẫn sống, vẫn ăn và vẫn thở
nhưng đến bao giờ mới được nói thẳng
điều tôi ước mơ ?”
Bài thơ mang tựa đề “Hoà b́nh”, nội dung nói lên cái thực trạng chiến tranh đang sát hại con người một cách oan uổng. Hai từ “hoà b́nh” làm cho các quan chức chính quyền có mặt trong Pḥng triển lăm phải nhíu mày. Nhưng v́ tác giả bài thơ là một vị Thiền sư tốt nghiệp ở Đại học Princeton ở New Jersey, và đang dạy Đạo Phật tại Đại học Columbia (Hoa Kỳ) mới về Việt Nam ít lâu nên không ai dám có ư kiến ǵ cả. Riêng anh chị em SVPT th́ quá “đă”. Nhờ bài thơ của Thầy Nhất Hạnh mà chúng tôi có thể nói lên được hai từ “hoà b́nh” ước mơ của ḿnh.
“Nổ súng khai hoả” rồi mà vẫn thấy được b́nh yên, Lê Minh Trường “thừa thắng” đọc tiếp các bài “Đừng biến mảnh vườn xanh xưa thành mồi ngọn lửa dữ”, “Ruột đau chín khúc”, “Sàig̣n ơi đập tan đi ảo ảnh”… trong tập CTNCCBCTH. Không khí trong nhà giảng bắt đầu căng thẳng. Lê Minh Trường say sưa đọc, không cần biết quan khách và người xem tranh đang nghe thơ trước mặt ḿnh là ai, đang phản ứng trên nét mặt như thế nào. Với cử chỉ khẩn trương, Trường lật vội các trang thơ, mắt liếc nh́n vào các sĩ quan cao cấp ở Vùng I chiến thuật và đọc tiếp bài “Chiến tranh”. Không khí trong Giảng đường trở nên ngạt thở và xáo động khi Trường đọc đến câu:
“ Kẻ thù chúng ta không phải con người
- dù con người Việt Cộng
giết con người đi rồi, chúng ta ở với ai ?”
Một quan chức (tôi không c̣n nhớ tên) bước vội đến nh́n sát vào trang thơ trên tay Lê Minh Trường xem thử đó là lời thơ của Thầy Nhất Hạnh hay lời người đọc thơ “cương” thêm. Ông định nói ǵ đó nhưng rồi lại thôi. Thầy Thích Đức Tâm (Phụ trách các đoàn thể Thanh niên của Giáo hội Phật giáo) biết ư, khoát tay bảo:
-“ Hôm nay khai mạc Pḥng tranh, đọc thơ như vậy là đủ rồi”.
Chúng tôi thấy được như vậy cũng đă đủ rồi. “Con ngưới Việt Cộng” bị đặt ngoài pḥng Pháp luật đi qua thơ Thầy Nhất Hạnh đă hiện diện hợp pháp giữa khuôn viên chùa Từ Đàm. Chúng tôi đă nói lên được “ước vọng hoà b́nh”, phản đối chiến tranh của Mỹ đang gieo rắt trên quê hương Việt Nam.
Lễ khai mạc Pḥng tranh Quê Nghèo của Lê Minh Trường kết thúc. Sau đó chính quyền Thừa Thiên và An ninh quân đội cho người lên nghiên cứu tác giả và tác phẩm Pḥng tranh Quê Nghèo. Để đối phó với những bất trắc có thể xảy ra, sau mấy ngày triển lăm, Lê Minh Trường thu tranh về và phân ra gởi vào nhà các bạn thân. Sau đó anh bị bắt và bị đưa ra toà (v́ một hoạt động khác) và bị giam ở Ba Ḷng (miền tây tỉnh Quảng Trị). Lê Minh Trường bị bắt và bị tù nên hầu hết tranh và tài liệu liên quan đến anh đều bị hủy. Sau nầy t́m hiểu tôi được biết Lê Minh Trường gởi cho anh Hoàng Văn Giàu (Cựu Đoàn trưởng sáng lập đoàn SVPT Huế) giữ bức Hoang Vu, và gởi ở nhà chị Thái Kim Lan ở đường Bạch Đằng Huế bức Thuyền Trăng. May mắn sao bức Thuyền Trăng đến nay em chị Lan là Thái Nguyên Hạnh vẫn c̣n giữ.
Tập thơ CTNCCBCTH của Thầy Nhất Hạnh có một tác dụng rất lớn. Không những trong giới SVHS và trí thức, mà ngay cả giới sĩ quan quân đội VNCH cũng bị tác động. Trung úy Thái Luân ở Sư đoàn I sáng tác và cho lưu hành tập thơ Vùng Tủi Nhục tố cáo chiến tranh do Mỹ đạo diễn rất dữ dội. Bản thân tôi với tư cách là một Sinh viên Phật tử, tranh đấu trong tinh thần bất bạo động cũng làm một loạt thơ chống bạo động, chống chiến tranh. Con người luôn nhân danh một lư tưởng ǵ đó để chém giết và cuối cùng cũng nhân danh một cái ǵ đó để giết luôn ḿnh (Bài Nhân Danh), anh em họ hàng giết nhau (Bài Hai Người Lính); tất cả quá khứ để lại là tội lỗi, nghèo đói, nhọc nhằn, chiến tranh, tuổi trẻ phải biết thương nhau để cùng nhau tranh đấu cho hoà b́nh, làm sao “cho súng phải thở dài, cho tàu bay khóc với, cho lựu đạn im tiếng, cho đường vũ khí qua tim” (Bài Để Lại Cho Em cùng soạn với PD). Nhạc sĩ PD rất nhạy cảm trước xu thế tranh đấu của tuổi trẻ đô thị lúc ấy cho nên ông đă cho ra các loạt bài Tâm Ca, Tâm Phẫn Ca, trong đó có nhiều bài ông phổ thơ của chúng tôi. Mở đầu các loạt bài hát nầy là bài phổ thơ Hoà B́nh của Thầy Nhất Hạnh (đổi tựa đề thành Tôi Ước Mơ), sau đó là bài Để Lại Cho Em (tôi soạn chung lời ca với PD), bài Nhân Danh, Hai Người Lính (phổ thơ của Tâm Hằng - Pháp danh và cũng là bút danh của tôi), Bi Hài Kịch (của Thái Luân). Nhưng nổi tiếng nhất là bài Kẻ Thù Ta với lời ca do nhạc sĩ PD phát triển từ một câu thơ trong bài Chiến Tranh của Thầy Nhất Hạnh. Loạt bài Tâm Ca, Tâm Phẫn Ca được tuổi trẻ đô thị lúc đó rất hoan nghinh và hát vang trong các cuộc tụ tập mít-tin, biểu t́nh chống Mỹ, chống chiến tranh. Tuy nhiên cũng có những dư luận không thuận lợi. Kẻ nầy bảo đó là loại thơ nhạc binh vận của Mặt trận giải phóng, người nói chống chiến tranh chung chung không phân biệt địch ta, lại có kẻ viết Tâm Ca, Tâm Phẫn Ca lôi kéo tuổi trẻ vào chuyện hát hỏng thoả măn được khát vọng của ḿnh quên đi chuyện đấu tranh (không rơ đấu tranh cho ai ?). V́ tin vào t́nh cảm yêu nước và tin Phật, tôi không quan tâm đến dư luận phê phán Tâm Ca, Tâm Phẫn Ca, đầu tôi nghĩ sao tôi nói vậy và làm vậy. Không biết ngày mai sẽ ra sao. Riêng Thầy Nhất Hạnh th́ khi được nghe bài Để Lại Cho Em ông rất xúc động. Ông đáp lại thế hệ của “Em” bằng cuốn sách nhỏ Nói Với Tuổi Hai Mươi.
Nhờ môi giới của văn thơ nhạc hoà b́nh mà sau đó tôi và nhiều SVPT khác được tiếp xúc và thân quen với Thầy Nhất Hạnh. Mỗi lần về Huế thế nào Thầy cũng gặp chúng tôi. Gặp ở chùa Từ Đàm hay gặp ở chùa Từ Hiếu. Chúng tôi đi ấn tống các sách Đạo Phật Ngày Nay, Đạo Phật Đi Vào Cuộc Đời, Đạo Phật Hiện Đại Hoá, Bông Hồng Cài Áo….của Thầy. Sách của Thầy do Lá Bối in đẹp, nội dung dễ hiểu, thích hợp với tuổi trẻ lúc ấy nên ai cũng mua một tập cầm trên tay. Một buổi trưa hồi giữa năm 1965, Thầy Nhất Hạnh ở lại chùa Từ Đàm với SVPT. Nhân đó Thầy bàn chuyện quyên góp để xây dựng Trường Thanh Niên Phụng Sự Xă Hội. Anh Vĩnh Kha (Đoàn trưởng SVPT) biết rơ Thầy có quan hệ với nhiều tổ chức xă hội của Mỹ nên thưa với Thầy rằng:
-“ Sao Thầy không xin các tổ chức xă hội của Mỹ ít đô-la để làm trường mà lại đi quyên góp đồng doi đồng mót của Phật tử làm ǵ cho mệt rứa ?”.
Thầy liền nghiêm sắc mặt nh́n chúng tôi và bảo:
- “ Ḿnh làm công tác xă hội mà lấy tiền của Mỹ để làm trường th́ Mặt trận Giải Phóng họ sẽ cho người về đốt ngay. Và, các em cũng nên thận trọng làm ǵ mà để người Mỹ họ nghi là Việt Cộng th́ họ cũng sẽ bắt ngay. Cho nên muốn giúp dân, muốn đấu tranh lâu dài th́ phải giữ sao cho được sự thuần túy của Phật giáo !”.
Chúng tôi tuổi trẻ rất bồng bột, đem cái thân ḿnh ra đặt cược cho các cuộc đấu tranh. Khi đấu tranh không tính đến hậu quả cho nên không có đường rút những khi đấu tranh không thành công. Lời dạy của Thầy Nhất Hạnh rất thấm thía. Tôi đă lấy ư kiến của Thầy làm châm ngôn hành động của ḿnh. Về sau, nhiều cán bộ đô thị của Mặt trận Giải phóng cũng bảo tôi: “Tụi tôi biết anh là người yêu nước tốt, nhưng không đưa anh vào tổ chức. Để cho anh được tự do, hành động tự phát, nếu có bị địch bắt cũng không bị vỡ dây chuyền. Nhưng đồng thời chúng tôi vẫn tổ chức ở ṿng ngoài bảo vệ anh nếu anh gặp nạn.” Và, các đồng chí ấy đă thực hiện việc “bảo vệ” tôi trong thời gian tôi trốn tránh ở chùa Tường Vân và vùng Dương Xuân thượng hồi mùa hè năm 1966. Vận dụng “cái phương châm” tôi học được ở Thầy Nhất Hạnh, trong các sáng tác cũng như trong những thuyết tŕnh về tranh đấu tôi chứng tỏ tôi là người Phật tử, tôi không theo Mỹ (dĩ nhiên) và cũng không theo Mặt trận Giải phóng. Lập trường Trung lập nầy để lại rất rơ trong sáng tác của tôi, nhưng nó không kéo dài được lâu. Từ đầu tháng 4.1966, sau khi quân đội Thiệu Kỳ không vận ra Đà Nẵng đ̣i “làm cỏ” Phong trào tranh đấu ở miền Trung, chúng tôi thành lập Đoàn Sinh viên Quyết tử Huế (do tôi đứng đầu), chỉ hô hào vũ trang chống Mỹ, không “trung lập”, “bất bạo động” nữa. Tôi đă bị các vị lănh đạo Phật giáo phê phán rất nặng. Các thầy bảo tôi:
-“Anh là Phật tử, lại giữ chức Đoàn phó đoàn SVPT, tại sao anh không giữ đường lối bất bạo động của Phật giáo mà lại đi thành lập Đoàn Sinh viên Quyết tử hô hào vũ trang bạo động ?”
Tôi đă phải tŕnh bày chống chế măi mà vẫn không được các thầy chấp nhận. May sao, sau đó một Phong trào hô hào vũ trang của nhiều đoàn thể khác như Học sinh Ứng chiến, Nữ sinh Cứu thương, Công chức xung kích, Giáo chức chống đàn áp, Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức...ra đời, Đoàn Sinh viên Quyết tử Huế không c̣n đơn độc nữa nên không bị giải tán. Đặc biệt là sau khi đoàn thể Gia đ́nh Phật tử, Thanh Niên Phật Tử nhập cuộc, tổ chức thành Bách Nhân Đội (đội trăm người) cũng “vũ trang” để tự vệ. Có thể nói mùa hè 1966, đa số Phật tử đă đi “trật đường rầy bất bạo động” của Phật giáo. Nếu lúc đó chúng tôi chỉ “Chắp tay nguyện cầu” trước chủ trương leo thang chiến tranh của Mỹ th́ có lẽ đă bị tiêu diệt hết khi quân đội Thiệu Kỳ kéo ra đàn áp Phong trào ở Huế hồi trung tuần tháng 6/1966.
Sau ngày rước bàn thờ Phật ra đường, Chính quyền Sài G̣n hạ lệnh truy nă tôi và hai anh Hoàng Phủ Ngọc Tường và Hoàng Phủ Ngọc Phan. Hai anh Tường và Phan là cơ sở của Mặt trận Giải phóng nên thoát ly ngay. C̣n tôi và một vài người chủ chốt trong Phong trào được các thầy trong Giáo hội Phật giáo gởi ẩn ḿnh trong chùa Tường Vân của Hoà thượng Thích Tịnh Khiết. Ở đây tôi nghe tin quân đội Sài G̣n đă cho xe ủi dẹp hết bàn thờ Phật, d́m Phong trào đấu tranh trong biển máu. Nguyễn Ngọc Loan - ngừơi thân cận của Chính quyền Sài G̣n cầm súng lục ra Huế đe doạ “Nếu bắt được Ni cô Trí Hải (người phiên dịch cho Thượng toạ Thích Trí Quang - người đứng đầu của Phong trào đấu tranh của Phật giáo lúc ấy) sẽ hiếp trước mặt thiên hạ cho biết tay”. Trong lúc tuyệt vọng ấy, tôi lại nghe tin Thầy Nhất Hạnh đă thoát ra nước ngoài để t́m cơ hội tố cáo với thế giới về hành vi người Mỹ đă hậu thuẫn cho chế độ Sài G̣n bách hại Phật giáo đồ Việt Nam, tôi rất mừng. Đến đầu tháng 7/1966, theo thư anh Hoàng Phủ Ngọc Tường từ chiến khu gởi vào, tôi cũng ra chiến khu ở vùng sau núi Kim Phụng. Ở chiến khu tôi lần lược được gặp lại những người bạn cũ ở Huế như Nguyễn Thiết, Nguyễn Đính (tức nhà thơ Trần Vàng Sao), Nguyễn Khắc Mai, Nguyễn Văn Quang, hai anh em anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, (và nhiều người nữa mà đến nay tôi không c̣n nhớ tên). Sau có thêm chị Lê Thị Mai, anh Nguyễn Minh Trường...vừa vượt ngục ở Ba Ḷng trở lại chiến đấu ở chiến trường Huế. Chúng tôi lại có dịp nói chuyện về Thầy Nhất Hạnh và cũng từ đó tôi không c̣n cơ hội để theo dơi các hoạt động của Thầy Nhất Hạnh nữa. Măi đến mùa thu năm 1967, Thành ủy Huế cho tôi xem cuốn sách mới Hoa Sen Trong Biển Lửa (Việt Nam, Lotus in a Sea of Fire) của Thầy. Cuốn sách viết về các cuộc tranh đấu của Phật Giáo từ 1963 đến năm 1966 với những chết chóc tang thương do Hoa Kỳ và quân đội Sài G̣n gây ra. Tinh thần chống chiến tranh của Thầy Nhất Hạnh trong cuốn sách nầy là một bước phát triển mới của tập thơ Chắp Tay Nguyện Cầu Cho Bồ Câu Trắng Hiện đă ra đời trước đó hai năm. Phần lớn những sự kiện đấu tranh của Phật tử nêu trong Hoa Sen Trong Biển Lửa tôi đều biết hay đă từng trải qua. Duy chỉ có một điều tôi đă khác Thầy Nhất Hạnh rất xa. Tác giả Hoa Sen Trong Biển Lửa đề nghị hai bên ngồi lại thương lượng chấm dứt chiến tranh lập lại hoà b́nh để cứu dân. Tôi trưởng thành và bắt đầu cuộc đời tranh đấu yêu nước trong vùng đô thị của Mỹ và chính quyền Sài G̣n, nay tôi lại có dịp tiếp xúc, học hỏi trực tiếp với Mặt trận Giải phóng và đọc tài liệu từ Hà Nội gởi vào, tôi thấy đề nghị thương lượng của Thầy Nhất Hạnh khó trở thành hiện thực. Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào, hai bên nhận thấy không thể thắng nhau trên chiến trường th́ mới chịu ngồi vào bàn hoà đàm. Ở đây, người Mỹ nghĩ rằng họ có thể leo thang chiến tranh cùng với chính phủ Thiệu Kỳ có thể chiến thắng được Mặt trận Giải phóng. Trong lúc đó, Mặt trận Giải phóng với rừng núi và khát vọng giải phóng miền Nam, khi chưa hoàn thành được lư tưởng đó th́ người của Mặt trận vẫn tiếp tục cuộc chiến đấu. Chỉ sống qua một thời gian ở chiến khu tôi đă cảm nhận được quyết tâm đó. Nguời Mỹ và Chính quyền Sài G̣n không thể hiểu được cái sức mạnh của ḷng quyết tâm đó. Măi cho đến nay tôi vẫn chưa hề được đọc một tài liệu nào, phim ảnh nào, tiểu thuyết nào của cả hai bên thể hiện được cái quyết tâm của Mặt trận Giài phóng lúc ấy. Và chính cái quyết tâm giải phóng dân tộc đó đă giúp cho tôi chịu đựng được những gian khổ ác liệt của núi rừng, bom đạn, để hội nhập một cách êm ái với cuộc sống kháng chiến. Từ đó (1967) tất cả những quan hệ, t́nh cảm, suy nghĩ của tôi về Thầy Nhất Hạnh chỉ c̣n là những kỹ niệm chôn sâu ở đáy ḷng. Nhưng không ngờ ....
*
* *
Sau ngày thống nhất đất nước tôi lên Đa Lạt thăm gia đ́nh mẹ tôi và đi xe đ̣ về Cầu Đất (Entreraille) thăm gia đ́nh o Cửu Ba (bà Đoàn Bá Quế, chị của ba tôi) - nơi ba tôi gởi má con tôi lên tá túc lúc tôi mới 4 tuổi (1941). Dượng Cửu từng là sếp-săng-chê (chef chantier) sở trà Cầu Đất của ông Lord. Lúc mới lên Đà Lạt, má tôi được Dượng Cửu xin cho làm công nhân trong sở trà nầy. O dượng Cửu Ba cũng là một trong những người sáng lập ra Đạo Tràng Phật Giáo ở Cầu Đất nên rất có uy tín với dân địa phương. Ở lại trong nhà O Dượng, tôi ṭ ṃ xem tủ sách của gia đ́nh, bất ngờ tôi thấy có một loạt sách của Thầy Nhất Hạnh, trong đó có nhiều cuốn tôi đă từng cầm đi ấn tống, cũng có những cuốn ra đời sau khi tôi đă thoát ly (như cuốn Nẽo Về Của Ư), tôi chú ư đặc biệt đến cuốn Nói Với Tuổi Hai Mươi đă ra đời cách đó đúng 10 năm. “Bộ” sưu tập sách Thầy Nhất Hạnh gợi lại những h́nh ảnh về Thầy Nhất Hạnh đă chôn sâu trong tâm trí tôi. Tôi hỏi chị Đoàn Thị Thành - con của o tôi:
-“ Em không ngờ nhà o dượng ở cái đất Cầu Đất nầy lại có một “bộ” sưu tập sách của Thầy Nhất Hạnh nhiều đến vậy ?”
Chị Thành giải thích:
-“ Phần lớn các sách đó Thầy Nhất Hạnh gởi cho đó. Em không biết chớ hồi trước khi có Hiệp định Genève ba chị hay tổ chức cho Thầy về chùa Cầu Đất thuyết pháp lắm. Có khi Thầy bị bệnh mạ chị phải mời Thầy về nhà đây chăm sóc sức khoẻ cho Thầy, đến khi Thầy b́nh phục rồi mới rước Thầy trở lại chùa. Nhiều lần Thầy soạn kịch bắt chị và chị Lập đóng vai chính. Vui lắm. Do đó ngoài t́nh đồng đạo, đồng hương, Thầy c̣n coi gia đ́nh ba mạ chị như một gia đ́nh bà con của Thầy. Hồi Thầy c̣n ở Việt Nam bọn chị hay gặp Thầy luôn. Mỗi lần có tác phẩm mới Thầy đều gởi cho bọn chị !”
Chuyện chị Thành kể là một chuyện lạ đối với tôi. Tôi không thể tưởng tượng được trong ngôi nhà thời thơ ấu tôi đă sống qua ở Cầu Đất cũng là nơi Thầy Nhất Hạnh đă từng nằm dưỡng bệnh và viết kịch để rao giảng Đạo Phật cho giới trẻ. Do mối quan hệ đó mà về sau nầy mỗi lần muốn biết tin tức Thầy Nhất Hạnh tôi chỉ cần hỏi các anh chị trong gia đ́nh o tôi là tôi có thể biết được. Đây là một chuyện ngẫu nhiên bất ngờ làm cho cuộc đời thêm ư vị.
Như một vài hồi ức trước đây tôi đă viết: Lúc nhỏ tôi bị thất học, đến năm 1952 anh Cả tôi làm Chứng từ khai sinh trụt cho tôi 6 tuổi (tôi sinh năm 1937 khai lại thành 1943) để đi học. Tôi lại học băng nên năm 1954 tôi không có Học bạ lớp Nhất để đi thi Tiểu học. Tôi định nghỉ học th́ may sao thầy Nguyễn Tri Bật (chắt nội của danh thần Nguyễn Tri Phương) xin cho tôi vào học lớp Nhất trường Bồ Đề Tuệ Quang. Trường Tuệ Quang thấy tôi học được và cấp cho tôi Học bạ lớp Nhất. Tôi đi thi và đỗ Tiểu học, rồi lại được lảnh phần thưởng Danh dự ở rạp Ngọc Hiệp . Lúc đó mà đậu Tiểu học với phần thưởng Danh Dự tôi tự hào và sung sướng vô cùng ! Đây là một cái mốc rất mong manh chuyển đổi một cậu bé nhà quê bước vào cái ngưỡng của một người sống bằng nghề cầm bút.
Sau nầy, trước khi về hưu mấy năm, tôi đi thăm lại những nơi tôi đă từng sống qua, t́m gặp và cám ơn những người đă nuôi dạy tôi. Một hôm ngồi thưa chuyện với thầy Nguyễn Tri Bật tại nhà con trai của thầy tại Nha Trang, thầy bảo tôi:
- “Con cám ơn thầy là đúng rồi. Nhưng c̣n thiếu”.
Tôi nghĩ là đă đủ nên nghe thầy Bật nói vậy tôi hơi ngạc nhiên:
- “ Dạ, thưa thầy, thiếu ai ?”
Thầy Bật nói ngay:
- “Thầy Nhất Hạnh - Hiệu trưởng trường Tuệ Quang lúc ấy. Thầy Nhất Hạnh chính là người đă kư Học bạ cho con đi thi Tiểu học lúc đó Nếu không có Thầy Nhất Hạnh th́ con không có cơ hội học lên cao để trở thành một người trí thức được !”.
Trời ơi ! Sao lại có cơ duyên lạ lùng đến thế ! May mà thầy Bật c̣n nhớ và nhắc lại chứ làm sao tôi có thể biết được. Cái Học bạ lớp Nhất của tôi, tôi chỉ thấy nó có một lần rồi đem nộp làm hồ sơ đi thi Tiểu học, làm sao tôi có thể nhớ ai đă kư cho tôi ! Thầy Nhất Hạnh lúc đó cũng đă kư Học bạ cho hàng trăm học sinh khác đi thi Tiểu học, những người học với Thầy nhiều năm được Thầy cưng nhất chưa chắc Thầy c̣n nhớ tên, th́ làm sao Thầy có thể nhớ một học sinh nhà quê chỉ học ở trường Tuệ Quang có vài tháng như tôi ? Dù Thầy Nhất Hạnh không nhớ nhưng đối với tôi, từ sau khi thầy Bật nhắc nhở, trong mỗi con chữ tôi viết lên giấy hằng ngày tôi đều nhớ đến công ơn của Thầy.
*
* *
Thầy Nhất Hạnh hiện hữu trong đời tôi có tính điểm xuyết, không đậm đà sâu sắc như với các Thầy Đôn Hậu, Thầy Trí Quang, Thầy Thiện Siêu, nhưng lại có nhiều ư nghĩa. Sau khi nghe chuyện thầy Nguyễn Tri Bật nhắc đến công ơn của Thầy Nhất Hạnh dành cho tôi, tôi suy nghĩ măi mà vẫn không hiểu được v́ sao tôi lại có cái cơ duyên gắn bó với Thầy Nhất Hạnh nhiều chuyện đến như thế ? Sau nhiều năm trăn trở tôi chỉ tạm giải thích được với ḿnh rằng: Có được cái cơ duyên ấy bởi v́ Thầy Nhất Hạnh, thầy Nguyễn Tri Bật và người học tṛ nhà quê ngày xưa ở Đà Lạt là tôi là những người cùng quê xứ Huế và cùng theo Đạo Phật. Có lẽ v́ thế mà cả cuộc đời cầm bút, tôi không rời được Huế và Đạo Phật chăng ?
Mới đây đọc trang Web Làng Mai, tôi được biết đầu tháng Chạp năm Giáp thân nầy (đầu năm 2005), Thầy Nhất Hạnh sẽ đem một Tăng đoàn về thăm quê nhà Việt Nam. Bài viết nầy không có mục đích “thấy sang bắc quàng làm họ”, mà chỉ nhân dịp nầy nhắc lại một chút tuổi trẻ của chúng tôi để làm một cầu nối “Thầy Nhất Hạnh” của Huế xưa với Huế nay. Qua đó nhớ lại những ước mơ của Thầy và chúng tôi bốn mươi năm trước để cùng hạnh phúc với những ǵ có được trên đường hoà b́nh mà Thầy về thăm quê hôm nay. Và, riêng tôi, dù muộn màng, sau 50 năm mang ơn Thầy, qua bài viết nầy tôi xin gởi đến Thầy lời tạ ơn sâu sắc.
Gác Thọ Lộc, cuối năm Giáp thân - đầu năm 2005
Tâm Hằng NĐX