Giá trị nhân bản trong lúc hoạn nạn
Hà Giang
Con số thuyền đánh cá bị đắm ch́m, số nạn nhân bị chết ở Sumatra, Sri Lanka, và Tamil Nadu trên biển trong khi cơn động biển và sóng thần (Tsunami) ập đến hôm 26/12/04 có lẽ không bao giờ biết được chính xác. Ở những địa phương đó, có ai làm kiểm tra dân số thường xuyên hay đăng kí hộ khẩu chặt chẽ bao giờ! Ai mà không thấy ḷng đau nhói khi nh́n thấy những thân nhân t́m kiếm trong từng ngôi chùa, ghé qua từng nhà thờ và nhà táng tạm thời, xé một mảnh vải, lật mặt nạn nhân để xem có phải là người thân hay không. Ai mà không thấy tim thắt lại khi thấy những xác người vô danh được tập trung chôn cất một cách vội vă trong những ngôi mộ không tên.
Trong các thiên tai giáng xuống thế giới, nạn nhân luôn là những người khốn khổ nhất sống trong những nơi nghèo nàn nhất. Nhưng lần này th́ khác. Cơn động biển (Tsunami) bất th́nh ĺnh tấn công vào những nơi nghỉ mát sang trọng (gọi là “resorts”) nơi mà khách cư trú thường là người Tây phương. Đối với giới truyền thông phương Tây, sinh mạng của người Tây phương da trắng có giá trị hơn sinh mạng người bản xứ, những người không có lư lịch, hay có th́ tên họ cũng rất khó đọc. Lưỡi của giới truyền thông Tây phương chẳng những khó đọc tên họ nạn nhân người Á châu mà c̣n cảm thấy khó thể hiện những ngôn từ thương cảm. Khi giới truyền thông Tây phương phân biệt người “địa phương” và “Westerners” (người Tây phương), chữ địa phương trở thành một loại sáo ngữ, một loại uyển ngữ cho những người được gọi là “thổ dân”. Đó cũng là một cách thể hiện và củng cố cho chủ nghĩa đế quốc vậy.
Có lẽ tôi quá nhạy cảm. Th́ cứ cho là như thế. Sự nhạy cảm này thực ra được đánh thức qua những tai họa lớn do con người gây nên (và do đó có thể ngăn ngừa được). Những đổ nát ở Galle và Banda Aceh làm tôi nhớ đến h́nh ảnh điêu tàn ở Falluja, Monsul, và Gaza. Dường như những thế lực đế quốc có thể tiên đoán được mức độ và khả năng tàn phá của thiên nhiên. Hôm nọ, nhân xem một phóng sự trên đài SBS, tôi cứ bị ám ảnh măi lời nói của người kư giả về cái gọi là “sốc và kinh khiếp của thiên nhiên”. Nhưng trong khi con số tử vong do Tsunami gây nên lên đến hàng trăm ngàn, ở Iraq, người ta không có chủ trương đếm xác người.
Một trong những h́nh ảnh sâu sắc và chua xót nhất trong vài ngày qua là người Tây phương thú nhận rằng dù họ đă được giúp đỡ tận t́nh bởi những cư dân địa phương đă mất tất cả, nhưng họ vẫn tự nh́n ḿnh là những người khách. Nhưng khi những người địa phương khốn khổ này có mặt ở các nước Tây phương, họ sẽ được xem là những kẻ di dân bất hợp pháp, những kẻ mà chính quyền Tây phương không ngần ngại hô hào tống cổ họ về nước. Toàn cầu hóa cho phép những kẻ giàu có cái giấy thông hành để vượt qua những biên giới như những lần đi chợ uống cà phê, những biên giới làm hàng rào ngăn chận kẻ nghèo phải sống trong môi trường khổ cực. Có bao giờ người ta nói các nước nghèo bị du khách tràn ngập đâu, cho dù đồng tiền mạnh mẽ của họ có thể mua lấy những sản phẩm tốt nhất, và phương tiện hiện đại nhất mà người địa phương chẳng bao giờ dám nghĩ đến.
Không nên phân biệt trên dưới hay giàu nghèo trong cái chết. Đó là lư tưởng. Nhưng ngay trong lúc người dân Nam Dương, Sri Lanka, Thái Lan âm thầm đau khổ lang thang qua những xác người, khán giả tại các nước Tây phương như Úc được cảnh báo rằng những cảnh tượng họ sắp tŕnh chiếu có thể gây distress – đau buồn cho khán giả. Người giàu th́ không thiếu người an ủi. Nhưng kẻ nghèo th́ chẳng có ai an ủi. Biên niên sử của kẻ nghèo hèn lúc nào cũng rất ngắn và đơn giản; chẳng ai tốn công đi t́m hiểu tại sao và cách nào họ có xoay xở để t́m sự sống trong những vùng ven biển mong manh như thế. Những tai họa hàng ngày để lại nỗi thương tiếc và mất mát tại những nơi này cũng chỉ là một dịp giới truyền thông Tây phương t́m cách khai thác để kiếm thêm thu nhập.
Chính phủ Tây phương, những người có thể dốc túi phung phí trong nghệ thuật chiến tranh, cung ứng vài chục triệu đô-la làm như là một sự bố thí hào phóng. Nhưng may mắn thay, người dân có vẻ có t́nh thương bao la hơn những chính khách. Số tiến quyên góp từ các làn sóng cứu trợ tự phát trong quần chúng đă vượt xa số tiền mà chính phủ chính thức hứa hẹn. Có người c̣n bất chấp hiểm nguy đến thẳng những nơi có thiên tai để góp phần xoa dịu nỗi đau của người gặp nạn.
Nhưng sự bất b́nh đẳng vẫn tồn tại. Những hứa hẹn được long trọng tuyên bố trong các hội nghị vào lúc thiên tai ập đến vẫn chưa được thành hiện thực, và nạn nhân vẫn c̣n trông chờ. Điều này cũng không đáng ngạc nhiên. Trong quá khứ, số tiền viện trợ cho nạn nhân băo Orissa, hay băo Mitch ở Nam Mỹ, hay lũ lụt ở Bangladesh, hay ngay cả tái kiến thiết ở Afghanistan và Iraq chỉ bằng một phần nhỏ so với con số hứa hẹn.
Những thiên tai như cơn động biển Tsunami nhắc nhở chúng ta rằng số phận và sự hiện hữu của con người vẫn c̣n rất mong manh. Những thiên tai như thế c̣n buộc chúng ta phải suy nghĩ lại về ư nghĩa của sự an toàn. Có người cho rằng cuộc sống là một ân huệ của thiên nhiên (chứ không phải của đấng Thượng đế nào cả). Cuộc sống lúc nào cũng có phần bất an. Song, chúng ta thừa hưởng sự bất công trong hệ thống kinh tế và xă hội, và sự bất công càng làm cho sự bất an của kẻ nghèo trở nên trầm trọng hơn. Trong khi đó, thế giới phương Tây, nhân danh an ninh, sẵn sàng biến những thành phố và thị trấn xa xôi thành b́nh địa!
Khẳng định lại những giá trị nhân bản và giúp đỡ nhau trong lúc hoạn nạn là một điều quí, nhưng phát huy và ǵn giữ những giá trị này trong lúc b́nh thường c̣n là một h́nh thức an ủi đáng quí và có ư nghĩa lâu dài hơn.