Mở đầu cuộc đối thoại
Quán Như
Thuyết tiến hoá là phát súng ân huệ cho những ‘kể lể’ siêu h́nh. Dù c̣n có một số người vẫn c̣n sống trong tâm thứa tiền hiện đại, vẫn tiếp tục lải nhải về một thượng đế sáng tạo, phần lớn những tín đồ được giáo dục và suy nghĩ theo tâm thức hiện đại đều biết rằng thượng đế chỉ là màn kịch kéo dài hơn 2000 năm và đă làm khổ nhân loại không biết là bao. Phần lớn đều chấp nhận homo sapiens là thành quả hàng triệu năm chọn lựa sinh tồn tự nhiên.
Thế kỷ Ánh Sáng và chủ nghĩa duy lư đă phá hủy những huyền thoại siêu h́nh một cách không thương tiếc nhờ vào thành quả và ứng dụng khoa học. Mặt đất hoang vu. Descartes sáp nhập hữu thể học vào nhận thức học khi tuyên bố “Cogito ergo sum – Tôi tư duy nên tôi hiện hữu”, sau khi Nietzsche tuyên bố Thượng Đă chết, mọi người nh́n quanh đâu cũng thấy toàn hố thẵm. Có cách nào khôi phục lại niềm tin mà không dùng lư luận tiền hiện đại?
Các triết gia hiện sinh dè dặt tuyên bố “Je suis ce que je fais – Tôi là điều tôi làm”, như trong xâu thập nhị nhân duyên bắt đầu từ hạt chuỗi hành, thức …, trong khi các nghệ sĩ của thế kỹ 20 sáng tạo những nhân vật yêu cuồng sống vội không có ngày mai. Dans Un Moi, Dans Un An. Không c̣n ǵ thiêng liêng trong cuộc đời th́ ai cần ngày mai? Nếu cuộc đời không c̣n ư nghĩa nào, con người buồn nôn là phải!
Khi chiến tranh Việt Nam lên tới cao điểm vào năm 1968, sinh viên Pháp suưt thành công trong cuộc cách mạng Ni Jesus, Ni Marx và khi ban nhạc Beatles, Joan Baez và Bob Dylan chơi guitar trước hàng ngàn sinh viên Mỹ, cũng Như Trịnh Công Sơn và Khánh Ly đàn hát trước trường Đại Học Văn Khoa ở Sài G̣n, khi trại âm nhạc Woodstock biểu hiện mối tuyệt vọng lớn lao, và đồng thời bắt đầu cho hy vọng mới của cả thế hệ thanh niên trí thức. Không thấy mối liên hệ giữa sự trống vắng của lễ hội thần học Ky Tô và các hiện tượng xă hội và văn hóa này, là không nh́n thấy bức tranh toàn diện.
Sự ưu thắng của lư trí và chủ nghĩa duy lư hiện đại càng tàn bạo hơn khi kết quả cụ thể của tiến bộ và kỹ thuật vào đời sống hàng ngày, những tiến bộ vĩ đại trên lĩnh vực tin học và sinh học.
Về mặt chính trị, chủ nghĩa hiện đại cũng có thể đắc thắng tuyên bố nhiều thành quả: sự phân biệt quyền hành giữa chính quyền và tôn giáo, chế độ nô lệ được băi bỏ, phong trào tranh đấu nhân quyền, chế độ thực dân bị cáo chung. Algeria là thuộc địa cuối cùng của Tây Phương, thành tŕ cuối cùng của chế độ kỳ thị chủng tộc, Nam Phi, bị giải thể vào năm 1994; chiến dịch tranh đấu nữ quyền, sự phát triển của chế độ dân chủ Tây Phương và quyền b́nh đẵng trước pháp luật. Không ai có thể cải chối rằng nhơ ánh sáng duy lư, con gnười càng ngày càng sống có nhân phẩm hơn.
Phản ứng lại thái độ hủy diệt không thương tiếc của chủ nghĩa duy lư, trong vài chục năm qua các triết gia trong phong trào hậu hiện đại, như Derrida, cho rằng không có cái ǵ gọi là ‘khách quan và thực nghiệm tuyệt đối’ như chủ nghĩa duy lư tuyên bố. Lư trí luôn luôn dựa trên nền tảng và bối cảnh văn hóa và cái gọi là lư trí thuần túy chỉ là ảo tưởng.
Chủ nghĩa hiện đại xem lư trí là phương tiện duy nhất để đạt đến sự thật và ngôn ngữ phản ảnh cho sự thật khách quan bên ngoài. Ngôn ngữ là sự thật, ngón tay là mặt trăng, cái bè là giải thoát. Tuy nhiên nhà ngôn ngữ de Saussure phân biệt giữa hai ư niệm langue và parole. Langue có thể là sự kiện khách quan, là signifier trong khi lời nói trao đổi thường nhật la parole chỉ là signified, một phó bản của thực tại, đă qua một tiến tŕnh biến hóa của cá nhân hay tập thể chấp nhận và chia xẻ một giá trị chung. Không thể có một signified hoàn toàn khách quan. Ngôn ngữ chỉ là cái bè, không phải là thực tại, cũng như ngón tay chỉ mặt trăng không phải là mặt trăng. Có thể nói chủ nghĩa hậu hiện đại đă mắc nợ nặng nề các triết gia cơ cấu luận về ngôn ngữ của de Saussure và cơ cấu luận của Levy-Strauss.
Để chống lại thái độ ‘độc tài’ của chủ nghĩa duy lư và duy ngjhiệm, các triết gia duy tâm như Hegel được mời ra diễn đàn tŕnh diễn. Các nhà lư thuyết hậu hiện đại cho Hegel là người cuối cùng của chủ nghĩa hiện đại và là người đầu tiên của ‘Hậu hiện đại’. Ư thức tái tạo thị kiến về vũ trụ và con người thường thay đổi tùy theo các yếu tố văn hóa, do đó không có thị kiến nào cố định và là sự thật. Michael Foucault cho rằng lư trí phải dựa trên một khung nhận thức nào đó và khi nền tảng nhận thức thay đổi, đến nổi có nhiều trường hợp những người trong các thời kế tiếp sẽ không c̣n ‘hiểu’ được thị kiến tái tạo trước đó. Không có cái gọi là lư trí thuần túy như Kant đề nghị, nhưng kiến thức luôn luôn gắn liền với hệ thống xă hội và chính trị ưu thắng- như Marx đă khẳng định. Mỗi thị kiến có ‘logic’ riêng, hay nói một cách khác, chúng ta không ‘khám phá’ ra sự thật khách quan mà chúng ta chỉ ‘tái tạo’ sự thật chủ quan. Không có sự thật ‘thật’ mà chỉ có sự thật ‘tiểu thuyết’! Thần học tôn giáo, kể lể siêu h́nh đều do ư thức biến chế, không phải là sự thật tuyệt đối. Sau khi bị duy lư hiện đại đánh một đ̣n nhừ tử, tôn giáo c̣n bị hậu hiện đại vạch mặt chỉ tên, cho rằng những ǵ mà tin đồ xem là thiêng liêng, thực ra chỉ là sáng tạo của tiểu thuyết! Thượng Đế đă chết v́ không có chỗ đứng dưới sánh sáng lư trí và thực nghiệm, Thiên Đàng Địa Ngục chỉ là những chuyện “phịa” để chiêu dụ và kềm giữ tín đồ!
Nhiều Phật tử có thể bị chấn động tâm linh v́ không phải chỉ có tín đồ Ky Tô giáo cảm thấy bị hụt hẫng. Những chuyện mà từ trước đến nay Phật tử nghĩ là thiêng liêng như niết bàn, tịnh độ, tái sinh, lục đạo, nghiệp quả, có thể chỉ là những sản phẩm do tâm thức tái tạo. Nếu các tín đồ Ky Tô nghĩ là nếu Thượng Đế không c̣n sống nữa, khi thiên đàng địa ngục chỉ là chuyện phịa như Giáo Hoàng Paul John 2 thú nhận, đạo đức sẽ không c̣n đóng vai tṛ nào trong đời sống xă hội và chỉ c̣n lại luật rừng xanh, mạnh được yếu thua. Khi mục đích tu hành chỉ c̣n là những ư niệm đổ vỡ, th́ c̣n tu hành làm ǵ nữa! Cái cảm tưởng rỗng không, hư vô là cảm tưởng của phần lớn người Tây Phương sau khi thần học Trung Cổ sụp đổ và khi các triết gia đua nhau khai tử Thượng Đế! Hoàng hôn của những thần tượng! Mặt đất hoang vu như thưở hồng hoang. Đời sống không c̣n ư nghĩa ǵ v́ chết là hết!
Một số Phật Tử thuần thành sẽ phản ứng bằng cách dùng mũ ni che tai, dùng chuông mơ kinh kệ để lấn áp cảm tưởng bất an. Có nhiều Phật tử sẽ chọn thái độ sống giữa hai thế giới. Ngày thường sống trong ư thức hiện đại: thực tế, duy lư, chỉ tin vào tinh thần khoa học và nhiều khi c̣n là những người nghiên cứu khoa học, nhưng trong lễ lạc tôn giáo như cầu an cầu siêu họ trở về sống trong ư thức tiền hiện đại, như vô chùa xin chư Phật gia hộ để gia đ́nh b́nh yên, con cái thi đậu, cho ḿnh thăng quan tiến chức, cúng dường chư tăng để hy vọng Đức Di Đà tiếp dẫn ḿnh về Tịnh Độ! Một số hàng xuất gia sợ mất của đàn na tín thí nên nếu không làm ngơ cũng mặc nhiên khuyến khích các Phật Tử chấp nhận niềm tin này, không thắc mắc hay suy nghĩ. Nhưng làm ngơ được bao lâu?
Nhưng nếu b́nh tĩnh, nghiền ngẫm kỹ lư luận hậu hiện đại Phật Tử sẽ nhận ra có nhiều điểm tương đồng với giáo lư của Đức Phật. Như câu trong kinh Pháp Cú ‘Tâm là vua của tất cả các Pháp” và khi đọc Duy Thức ai cũng nhớ câu “Thế giới Duy Tâm, Vạn Pháp Duy Thức”. Nếu ngôn ngữ, văn hoá, tôn giáo đều biểu hiện nhờ hoàn cảnh, có khác ǵ với nguyên tắc khế kư khế cơ của Đạo Phật?
Tôi không có ư suy nghĩ như một fundamentalist và nói giáo lư của Đức Phật có sẵn tất các câu trả lời cho những khám phá khoa học và nhận thức mới như hậu hiện đại, mà chỉ muốn nhấn mạnh Đạo Phật là một tôn giáo vắng mặt giáo điều và có nhiều cơ hội để đối thoại với nhận thức khoa học (hiện đại) và nhận thức hậu-hiện-đại. Thay v́ dùng thái độ mũ ni che tai, khư khư tiếp tục giữ những niềm tin từ các xă hội tiền hiện đại, đầy dẫy mê tín, Phật Tử nên có thái độ thung dung và tự tín, bắt đầu cuộc đối thoại.
Thế hệ trí thức Tây Phương đă bị Thiền và Duy Thức quyến rũ mănh liệt và các đệ tử của Jung đă tiếp nhận rất nhiều ư niệm của Phật giáo trong khoa tâm lư trị liệu (Psychotherapy). Eric Fromm công khai nh́n nhận sự đóng góp lớn lao của Phật giáo vào khoa phân tâm. Cả thế hệ tâm lư gia sau đó đă dùng nguyên tắc thiền và Duy Thức để dùng trong khoa tâm lư trị liệu và có một thời gian, sự phát triển của Phật giáo ở Tây phương đồng nghĩa với đóng góp của Phật giáo về tâm lư. Nhiều Phật tử Tây phương thường đồng hóa Phật giáo với phương pháp thực hành thiền quán Vipassana.
Một vài tác giả như Gay Watson & Guy Claxton trong The Psychology of Awakening, Bác sĩ phân tâm Mark Epstein với hai tác phẩm Thought Without a Thinker, Psychology From The Buddhist Perspective và Going to Pieces Without Falling Apart. Gần đây nhất là cuộc hội thảo của các chuyên viên tâm lư trị liệu dưới sự chủ tọa của Đức Đạt Lai Lạt Ma và sự hợp tác của nhiều nhà khoa học và những bài tham luận sau đó được Daniel Goleman đúc kết trong tác phẩm Destructive Emotions. Hy vọng những học giả nghiên cứu Phật giáo nào có kiến thức hay làm việc trong ngành phân tâm sẽ đào sâu thêm vai tṛ của Phật giáo trong lĩnh vực này.
Nhưng Phật giáo không phải chỉ là hệ thông tâm lư mà c̣n là hệ thống đạo đức hướng dẫn hành động của tín đồ, đúng với từ ngữ hành giả, để t́m ra con đường thoát khổ. Mục đích rốt ráo của đạo Phật là chấm dứt khổ đau, và tùy khổ đau được định nghĩa như thế nào, chúng ta mới có thể t́m nguyên nhân để chấm dứt đau khổ. Chấm dứt đau khổ nghĩa là giải thoát và chúng ta có thể giải thoát ngay đời này, như chủ trương của Thiền, chớ không chỉ mong muốn được tái sinh ở một cảnh giới tốt đẹp hơn ở đời khác.
Các học giả Phật giáo Tây Phương nhờ thấm nhuần tinh thần duy lư và phương pháp khoa học đă đặt những viên đá đầu tiên cho cuộc đối thoại này. Stephen Batchelor đă từng thọ giới tỳ kheo Tây Tạng và qua Đại Hàn sống trong thiền viện trong nhiều năm, đă cởi áo, lập gia đ́nh và viết hai tác phẩm rất quan trọng, thể hiện tinh thần của đoạn kinh Kalamas của đức Phật. Đó là tác phẩm The Faith to Doubt và Buddhism Without Beliefs. Richard Hayes định nghĩa lại Tịnh Độ theo ánh sáng của nhận thức Hiện Đại và Hậu Hiện Đại trong tác phẩm Land of No Buddha. Các học giả Phật giáo tự nhận là những agnostic Buddhists, đặt lại vấn đề nghiệp báo luân hồi, như Nagapriya. V́ quan niệm này có ảnh hưởng đến việc chọn lựa chánh sách kinh tế, tôi sẽ trở lại ở phần sau.
Về phương diện thực nghiệm tâm linh, các trung tâm thiền quán xuất hiện nhan nhăn khắp nơi trên nước Mỹ cũng như các nước Tây Phương khác, dưới sự hướng dẫn của các Thiền Sư gốc Mỹ học đạo từ các nước Á Châu (Nhật-Đại Hàn- Miến Điện-Thái Lan và Nepal). Một thiền sư Việt Nam, thầy Nhất Hạnh, với pháp môn Tiếp Hiện đă gây ảnh hưởng lớn trong giới trẻ tu học Việt Nam cũng như ngoại quốc. Mặc dù nhiều người đi quá đà, đồng hóa việc thực tập thiền quán với Phật giáo hay xem việc hít vô thở ra như là mục đích rốt ráo của việc tu hành, nhưng ảnh hưởng của Phật giáo trong khoa tâm lư hiện đại cho thấy Phật giáo có thể đối thoại b́nh đẵng với nhận thức hiện đại và hậu hiện đại.
Gần đây nhà sư Tây Tạng Matthieu Ricard, vốn là một khoa học gia đầy triển vọng trước khi xuất gia, đă hợp tác cùng thân phụ, Jean-Francois Revel, một triết lư gia Pháp nổi tiếng trước đây từng làm chủ bút tờ Express, mở cuộc đối thoại giữa Phật giáo và triết lư Tây Phương trong tác phẩm The Monk and the Philosopher. Matthieu Ricard lại hợp tác với nhà vũ trụ học gốc Việt Nam, Trịnh Xuân Thuận, để đối chiếu thuyết duyên khởi của Đức Phật và các lư thuyết về khởi nguyên của vũ trụ trong tác phẩm The Quantum and the Lotus. Theo tôi đây là hai tác phẩm rất quan trọng mở đầu trong cuộc đối thoại.
Một khoa học khác nữa trong tương lai có thể gây ra những hậu quả không thể nào lường trước được là khoa sinh học di truyền. Cloning không những làm thay đổi tận nền tảng khoa sinh học mà c̣n đặt ra những vấn nạn đạo đức cho các tôn giáo độc thần truyền thống. Cloning có phải là hành động trái đạo đức không? Các nhà đạo đức sinh học chống đối thường dựa vào lư do ‘thiêng liêng’ trong tôn giáo không thuyết phục được ai và luật pháp chỉ có thể ngăn cản tạm thời các tiến bộ trong khoa này. Giả sử như các nhà khoa học có thể tạo sinh vô tính các designed babies, th́ chuyện này có trái với thuyết tiến hóa hay luật nhân quả luân hồi của đạo Phật không. Ngay cả nghiên cứu stem cell trị với mục đích làm con người bớt khổ về mặt thân thể, có đúng với chủ trương diệt khổ của đức Phật hay là nổ lực ngăn cản thô bạo vào quá tŕnh thành trụ hoại diệt và đảo lộn quan niệm nhân quả luân hồi của đạo Phật? Tuy c̣n rụt rè, tôi thấy đă có hai tác phẩm đối thoại với sinh học, cuốn Cloning the Buddha của Richard Hienberg và Buddhism and Bioethics của Damien Keown. Thỉnh thoảng một vài bài báo đề cập đến vấn đề này nhưng phần lớn dựa trên cảm tính và suy nghĩ thông thường. Hy vọng là các khoa học gia về sinh học sẽ mở cuộc đối thoại có chiều sâu giữa với nhà nghiên cứu về đạo đức Phật giáo về các vấn nạn này như hai tác phẩm của Matthieu Ricard.
Một trong những kể lể siêu h́nh tương tự trong hầu hết các tôn giáo là thế giới siêu việt bất tử. Ai cũng kinh hoàng về viễn tượng một ngày nào đó ḿnh phải chết. Chết là một điều chắc chắn, chỉ có chết lúc nào mới là điều bất định. Do đó cây dù thiêng liêng do các tôn giáo dương ra làm chúng ta an tâm hơn: thiên đường, nước Chúa, nát bàn, tịnh độ. Đó chỉ là những công tŕnh tái tạo của con người, nhưng sau bao nhiêu năm sùng bái, úm ba la những niềm tin này trở lại ban cho chúng ta quyền lực thiêng liêng và có thể làm chúng ta bất tử! Chúng ta quên là hằng ngày chúng ta tụng Tâm Kinh với những chú niệm bất sinh bất diệt, không phải bất tử!
Đức Phật sau 48 ngày nhập định dưới gốc Bồ Đề đă chứng ngộ ǵ? Kinh điển thường dùng ần dụ ánh sáng trí tuệ đă làm tan vô minh. Đức Phật đă t́m ra được nguyên nhân khổ đau, và Ngài từng nói với đệ tử là ai không thấy nguyên tắc ‘cái này có th́ cái kia có’ trong mạng lưới trùng trùng duyên khởi, là chưa “thấy đạo”. Cả thế giới đều rỗng không, không có ǵ tự ḿnh mà có, đủ duyên hợp th́ sinh, hết duyên th́ diệt. Nhăn quan này đă làm vỡ tung mạng lưới sinh tử, bởi không có sinh mà cũng không có diệt. Hay nói cách khác, có sinh th́ có diệt. Hiểu như thế bỗng nhiên con người bớt ‘sợ’ chết hơn. Chúng ta không cần cây dù thiêng liêng nữa và nhận ra chúng chỉ là những sản phẩm tái tạo để làm an tâm chính ḿnh. Nhờ TUỆ chúng ta đă thấy NGHIỆP. Bóng tối đă nhường chỗ cho ánh sáng.
Trong khi chuẩn bị chương tŕnh để thành lập cho viện Cao Đẵng Phật Giáo tại Viện Ṭng Lâm Phước Huệ ở Sydney tôi đă đề nghị một chương tŕnh đối thoại giữa Phật giáo và các ngành nghiên cứu chủ yếu nhất của xă hội Tây Phương hiện nay. Đối với một số Phật tử fundamentalists những vấn đề này có thể được xem như là chưa cấp thiết và như là mối đe dọa chính cho các tăng già và cư sĩ chỉ muốn tu dùm, tu giúp và những tỳ kheo lười học biếng tu, chỉ muốn dấu đầu trong tam tạng kinh điển và đây cũng là một trong những lư do khiến cho dự án bất thành.
1- Phật giáo và chính trị (Phật giáo Nhập Thế)
2- Phật giáo và Sinh Học
3- Thuyết Duyên Khởi và các lư thuyết hiện đại về khởi nguyên của vũ trụ
4- Phật giáo và Kinh Tế
5- Phật giáo và Môi Trường
6- Phật giáo và Triết Lư Tây Phương
7- Phật giáo và an sinh xă hội
8- Đạo Đức Phật giáo trong thế kỷ mới
Hai tác phẩm của Matthieu Ricard & Jean-Francois Revel và Matthieu Ricard và Trịnh Xuân Thuận có thể đáp ứng nhu cầu cho vấn đề 3 và 6. Tác phẩm của Cao Huy Thuần về giới luật và luật pháp là viên đá đầu tiên để đào sâu cho vấn đề 8. Thầy Nhất Hạnh định nghĩa lại giới luật trong Giới Tiếp Hiện và tác phẫm To A Future Possible. Thay v́ tán gẫu về dự định không tưởng như thành lập Viện Triết Học Quốc Tế, thay v́ tiếp tục khuyến khích Phật tử tụng một trăm thời kinh Pháp Hoa để có thêm công đức, tăng già và Phật tử hiện đang làm việc trong các ngành chuyên môn trên nên bắt đầu cuộc đối thoại giữa Phật giáo và các vấn đề thời đại để lượng giá xem Phật giáo có đóng góp quan trọng nào trong việc thành h́nh một lư thuyết nhân sinh toàn cầu trong thế kỹ mới. Nếu cứ giữ giáo điều hay nhận thức ‘tiền hiện đại” Phật giáo rồi cũng thoái hóa, đứng bên lề lịch sử như các tôn giáo Tây phương, trong khi nhân loại càng ngày càng chấp nhận những giá trị đạo đức thế tục. Cũng như tín đồ của các tôn giáo khác, rồi đây Phật Tử cùng lắm chỉ đến chùa 3 lần trong đời: khi sinh con, khi lập gia đ́nh và khi trở về với cát bụi.
Quán Như
Sách tham khảo trước khi viết:
Batchelor, Stephen. Buddhism Without Beliefs. Bloomsbury, London, 1997
Batchelor, Stephen. The Faith to Doubt. Parallax Press, Berkeley, California
Jayes, Richard. Land of No Buddha. Windhorse Publications, Birmingham, 1998.
Loy, David, R. The Great Awakening, A Buddhist Social Thinking. Wisdom Publications, Boston, 2003.
Nagapriya. Exploring Karma & Rebirth. Windhorse, Sydney, 2004.
Pham Van Minh. Vietnamese Engaged Buddhism. Van Nghe, California, 2002.
Ricard, Matthieu & Jean Francois Revel. The Monk and the Philosopher. Harper Collins, London,1998.
Ricard, Matthieu & Trinh Xuan Thuan. The Qantum and the Lotus. Crown Publishers, New York, 2001.
Sen, Amartya. On Ethics & Economics. Blackwell Publishing, London, 2003.
___________. Development As Freedom. Anchor Books, New York, 1999.
Wilber, Ken. The Marriage of Sense and Soul. Hill of Content, Melbourne 1998.
Tricycle Buddhist Review, Fall, 2004.
The Australian Institute of Buddhist Studies- A Proposal for the Graduate Diploma in Buddhist Studies, Sydney 2001.