John Pilger – Đừng nói láo với tôi (*)
Nguyễn Văn
|
|
James Carey, Giáo sư báo chí tại Đại học Columbia, có một nhận xét rất đáng suy nghĩ: hầu như tất cả các bản tin và phóng sự chỉ cung cấp cho chúng ta những thông tin về nhân vật, sự kiện, thời gian và không gian, nhưng chẳng đào sâu vào những bối cảnh đằng sau của những khía cạnh trên, chúng không cho chúng ta biết tại sao sự kiện xảy ra và xảy ra như thế nào. Nói cách khác, thói quen tầm thường của báo chí là chỉ cho chúng ta biết ai (who), cái ǵ (what), ở đâu (where), và lúc nào (when), nhưng không trả lời được câu hỏi tại sao (why) và như thế nào (how). Nhưng John Pilger, một kí giả điều tra thuộc vào hạng ḱ cựu và hai lần được trao tặng danh hiệu Kí giả Anh Trong Năm (British Journalist of the Year), th́ khác hẳn: ông là người chuyên đi t́m câu trả lời tại sao và thế nào đằng sau những bản tin.
Trong cuốn sách mới xuất bản mang tựa đề “Tell Me No Lies: Investigative Journalism and Its Triumph” (tạm dịch: Đừng nói láo với tôi: báo chí điều tra và thành tựu), do Pilger biên tập, ông tŕnh bày một loạt bài kí sự điều tra của một số kí giả nổi tiếng nói lên những dấu diếm, tội phạm chống lại con người trên thế giới. Trong phần giới thiệu, John Pilger cho biết những kí giả có bài đóng góp trong sách là những người không chấp nhận hợp tác với các thế lực đen tối cho dù họ bị các thế lực này đe dọa và nguyền rủa. Họ là những người đi phía sau màn h́nh, phía sau mặt tiền, đội đá, chịu hiểm nguy để đem lại cho người đọc những sự thật quan trọng bị dấu kín. Những bài viết của họ trải dài 60 năm, từ Martha Gellhorn vào năm 1945 mô tả bộ xương sườn của Dachau, những người c̣ng lưng dưới cái nắng chói chang đi t́m sự sống cho ḿnh bằng những con rận chấy, cho đến bài viết của Robert Fisk vào năm vừa qua (2004) mô tả những cảng chết chóc chưa từng được nói đến trong cuộc xâm lăng vào Iraq do Mĩ và đồng minh chủ trương.
Đối với bạn đọc mới xem qua tựa đề cuốn sách Tell me no lies sẽ ḱ vọng những bài loại exposé, tiết lộ những bê bối, x́-căng-đan, nhưng trong thực tế nội dung cuốn sách không hẳn chỉ giới hạn trong các đề tài đó. Cùng với những bài kí sự quan trọng của Philip Knightley về x́-căng-đan chung quanh thuốc thalidomide và bài kí sự nổi tiếng của Seymour Hersh về việc lính Mĩ tàn sát thường dân tại làng Mỹ Lai vào năm 1968, c̣n có nhiều kí giả mà tác phẩm của họ là những bằng chứng sống động về những tội phạm chiến tranh, những mưu mô xảo quyệt của giới cầm cán cân chiến tranh. Trong số này có phóng sự của Anna Polikovskaya về một người phụ nữ tị nạn sống mà như chết v́ trên đường chở xác của chồng bà đi chôn bị lính bắn chết luôn con bà. Polikovskaya viết: “Có lẽ bạn đọc nghĩ rằng tôi viết những ḍng chữ này để khuấy động ḷng thương hại của bạn … nhưng chữ nghĩa của tôi có một mục đích hoàn toàn khác, v́ tôi viết cho tương lai. Đó là những chứng cớ bằng chữ của những nạn nhân vô tội trong cuộc chiến Chechnyan.”
Cuốn sách có thể nói là một hợp tuyển phóng sự, và hợp tuyển này được chấm dứt bằng một bài truy niệm Edward Said, người qua đời trong lúc cuốn sách đang được đúc kết. (Edward Said là một học giả trứ danh người Palestine và chuyên gia về văn minh Tây phương tại Đại học Columbia). Điều thú vị ở đây là Edward Said tự cho ḿnh là một kí giả điều tra, chuyên đi săn t́m cách thức mà tư tưởng và ngôn ngữ có thể dùng làm che đậy sự thật. Said viết trong phần tóm lược bài viết của ḿnh như sau: “Ngôn ngữ của nỗi thống khổ và cuộc sống hàng ngày đă bị tước đoạt hay bị đồi trụy hóa để trở nên vô dụng [đối với sự thật], ngoại trừ chúng được sử dụng làm b́nh phong che đậy những cuộc tàn sát, tra tấn chậm chạp, có lựa chọn, và vô tâm”. Câu phát biểu này làm cho người viết nhớ đến những tù nhân bị giam ở Guantanamo dù cuộc chiến đă chấm dứt, v́ chính phủ Mĩ cho rằng họ chưa thẩm vấn xong, và thẩm vấn có thể tiết lộ nhiều chi tiết quan trọng về hoạt động của nhóm al Qaeda. Chính phủ Mĩ cho rằng những tù nhân ở Guantanamo không phải là “tù nhân chiến tranh” mà chỉ là những “người tham chiến phi pháp” (“unlawful combatants”), và do đó Mĩ không có nghĩa vụ phải tuân hành Qui ước Geneva đối với những người này! Thật là ngôn ngữ đă bị đồi trụy hóa để phục vụ cho sự bất công.
Phát biểu của Edward Said c̣n nhắc nhở chúng ta một xu hướng rất phổ biến ngày nay là giới truyền thông một mặt rất tích cực trong việc tiết lộ sự thật, nhưng mặt khác cũng là đồng lơa tích cực trong việc che dấu sự thật. Cuốn sách này là một chứng cớ, một “chúc thư” của những người can đảm dám đi t́m chữ nghĩa để đâm thủng cái b́nh phong, để đem lại cho người đọc nỗi thống khổ của nạn nhân và sự bất công của thế giới.
Kí giả người Úc Wilfred Burchett, người Tây phương đầu tiên đặt chân ghé thăm Hiroshima sau khi thành phố này bị Mĩ dội bom nguyên tử, kể một câu chuyện đáng chú ư. Sau khi xem qua thảm cảnh của thành phố, ông bèn tổ chức một cuộc họp báo tại Tokyo. Trong cuộc họp báo, một viên chức cao cấp người Mĩ cố t́nh bác bỏ những “Cảnh báo cho thế giới” (Warning to the World) của Burchett. Phản ứng trước sự kiện cá sông Hiroshima bị chết ngữa bụng lên trời v́ phóng xạ, viên chức người Mĩ nói: “Tôi e rằng ông là nạn nhân của hệ thống tuyên truyền của Nhật Bản”. Kí giả T. D. Allman đánh giá cao và ca ngợi sự dấn thân của Burchett như sau: Burchett không chỉ là người kí giả đi t́m sự thật, mà quan trọng hơn, ông đi t́m ư nghĩa của sự thật.
Cuốn sách là một tập hợp dữ liệu thật được giới “kí giả ngoài cuộc” ghi lại một cách sống động. Một năm sau ngày lính Mĩ tàn sát một cách dă man 500 thường dân tại Mỹ Lai, một nhân chứng và cũng là người lính từng chứng kiến thảm cảnh trên t́m cách thuật lại sự kiện cho giới truyền thông Mĩ, nhưng chỉ 1 trong số 600 kí giả Mĩ có mặt tại Việt Nam dám tường thuật sự kiện: người đó là Symour Hersh. John Pilger mô tả Hersh như là một “kí giả ngoài cuộc”, nhưng biết cách khai thác được những câu chuyện trong cuộc, và tự hào cho kẻ thù ḿnh (ư nói người Việt Nam).
Ngày nay, những tai họa của chất phóng xạ, của chất độc màu da cam, của Mỹ Lai được ghi nhận là sự thật. Nhưng một vài cống hiến mới đây trong cuộc chiến Iraq và Afghanistan vẫn chưa được xem là sự thật, vẫn đựa đem ra bàn căi bởi giới “truyền thông chính thống”. Câu chuyện về sự gia tăng tỉ lệ ung thư trong trẻ em Iraq của Felicity Arbuthnot là một lời nhắc nhở về việc sử dụng độc chất trong chiến tranh (uranium) và là một cái sốc lớn cho dự luận thế giới nhưng lại bị chôn dùi bằng những bản tin chiến thắng dồn dập truyền đi từ các cơ sở truyền thông như Fox News và CNN!
Cuốn sách này sẽ phục vụ cho nhiều mục tiêu. Nó là một chứng minh hùng hồn rằng phóng sự, trong h́nh thức tuyệt vời nhất của thể loại này, đ̣i hỏi người kí giả phải dấn thân, phải kháng cự trước những cám dỗ của các “thế lực chính thống”. Cuốn sách c̣n cho thấy cái lằn ranh giữa báo chí, lịch sử, văn học, và phân tích xă hội có thể bị lu mờ.
(*) Tell me no lies, do John Pilger biên tập, Nhà xuất bản Jonathan Cape, 655 trang, giá $35.