|
Đọc sách “The Da Vinci Code” của Dan
Brown
Nguyễn Văn
Holy Grail (hay Chén thánh) là cái chén mà
Chúa Giêsu sử dụng trong bữa ăn tối cuối cùng, và theo tương truyền th́ đó cũng
chính là cái chén mà tín đồ đă nhận được những giọt máu của Chúa vào ngày Ngài
bị đóng đinh trên Thập tự giá [1]. Danh từ này danh tiếng đến nổi trong tiếng
Anh có thành ngữ “Finding the Holy Grail” hàm ư nói một cuộc t́m kiếm vô vọng.
Cái Chén thánh c̣n là một đề tài cho giới nhà văn khai thác. Có lẽ Chrétien de
Troyes là nhà văn đầu tiên viết về cái Chén thánh trong cuốn tiểu thuyết
Conte del Graal (Câu chuyện cái Chén thánh) từ thế kỉ thứ 10. Sau
này, có hàng trăm tiểu thuyết, và khảo cứu nghiêm chỉnh về tung tích của cái
Chén thánh.
The Da Vinci Code (tạm dịch: Mật mă của Da Vinci)
[2] là cuốn tiểu thuyết nói về cuộc truy t́m tung tích của Chén thánh.
Ngay khi ra đời, cuốn tiểu thuyết được người đọc khắp thế giới đón nhận nồng
nhiệt. Chỉ riêng ở Mĩ, hơn 8 triệu cuốn đă được tiêu thụ, và trong liên tiếp
gần 4 tháng liền, cuốn tiểu thuyết được xếp vào hàng sách bán chạy nhất
(best-seller). Sau đó, cuốn tiểu thuyết được dịch sang tiếng Pháp, Đức, Ư, Thụy
Điển, Tây Ban Nha, Ả Rập, v.v… và tại các nước Âu châu nó cũng trở thành một
cuốn sách bán chạy nhất.
Cuốn tiểu thuyết được thể hiện bằng một câu
chuyện mang tính li ḱ và có chút tính chất trinh thám. Câu chuyện được mở đầu
với Giáo sư Robert Langdon, một chuyên gia về biểu tượng tôn giáo (religious
symbology) thuộc đại học Harvard (Mĩ), trong khi đi công tác ở Paris, ông bị
cảnh sát triệu đến Viện bảo tàng Louvre, nơi vừa xảy ra một án mạng. Trong án
mạng này, nạn nhân bị giết chết là Jacques Saunière [3], một nhà quản lí bảo
tàng lừng danh trên thế giới. Jacques Saunière nằm chết trong tư thế mang tính
biểu tượng dưới bức tranh nổi tiếng Mona Lisa của Da Vinci. Trước khi
tắt thở, Jacques Saunière để lại một tấm giấy với hàng chữ nguệch ngoạc, khó
hiểu: “13-3-2-21-1-1-8-5 O, Draconian devil! Oh, lame saint! P.S. Find Robert
Langdon”. Qua sự diễn dịch thông minh của một nữ cảnh sát và chuyên gia về mật
mă (cryptography) tên là Sophie Neveu (cũng chính là cháu nội của Jacques
Saunière), Robert Langdon biết ḿnh là nghi can chính và sẽ bị kết tội trong vụ
án này. Và qua lời khuyên cũng như sự giúp đỡ của Sophie Neveu, Giáo sư Langdon
và Neveu quyết định chạy trốn.
Qua cuốn tiểu thuyết chúng ta biết rằng
Jacques Saunière, người bị giết chết, là một lănh đạo của hội kín Priory of
Sion. Hội Priory of Sion là một hội có thật ngoài đời được thành lập
vào năm 1099, nhằm bảo vệ những tài liệu mà Giáo hội Công giáo muốn thủ tiêu,
bởi v́ những tài liệu này, nếu tiết lộ ra ngoài, sẽ làm lung lay toàn bộ nền
tảng giáo lí của Kitô giáo. Trong quá tŕnh hoạt động, hội kín Priory of Sion
thu hút nhiều nghệ sĩ và nhân vật nổi tiếng, kể cả Isaac Newton, Sandro
Botticelli, Victor Hugo, Leonardo da Vinci, v.v…. Leonardo da Vinci đóng một
vai tṛ quan trọng trong cuốn tiểu thuyết, bởi v́ ông đă phát triển được một hệ
thống mật mă tinh vi mà, nếu được giải mă, sẽ dẫn đến tung tích cái Chén
thánh.
Trên đường chạy trốn, Langdon và Neveu đến gặp
Leigh Teabing, một người Anh quí tộc cực ḱ giàu có, sống trên đất Pháp, người
cũng từng bỏ ra nhiều năm nghiên cứu về cái Chén thánh. Thế rồi, Qua
những đầu mối do Jacques Saunière để lại, Langdon, Neveu và Teabing đi t́m cái
Chén thánh. Cuộc t́m kiếm (hay nói đúng hơn là chạy trốn) đưa đẩy họ từ
Paris sang London. Câu chuyện gây cấn ở chỗ có một nhóm khác, gọi là Opus Dei,
cũng bí mật chạy đua trong cuộc truy t́m này. Cần nói thêm rằng Opus Dei (dịch
sang tiếng Anh là The Work of God, hay Công tŕnh của Thượng đế)
cũng là một tổ chức có thật ngoài đời [4]. Cả ba kết hợp lại, dùng chuyên môn
của ḿnh, để giải mă, và sau cùng họ quyết định đến đến nhà thờ có tên là
Temple Church – do các hiệp sĩ Tamplar sáng lập và xây dựng vào năm 1185 –
tại Westminster Abbey, dưới mộ của Isaac Newton, để t́m tung tích cái Chén
thánh. Câu chuyện được kết thúc một cách “có hậu” (mà người viết sẽ không
viết ra ở đây), nhưng vẫn làm cho người đọc ṭ ṃ phải t́m hiểu thêm cho biết.
Buông cuốn sách xuống, người đọc sẽ phải mỉm cười một ḿnh về cái tài độc đáo
của tác giả đă dẫn dắt người đọc xuyên suốt gần 600 trang giấy!
Câu chuyện được xây dựng với những t́nh tiết
cực ḱ hấp dẫn, bất ngờ, và v́ thế nó dẫn dắt người đọc đi từ hồi hộp này sang
hồi hộp khác, nhất là cả ba người bị viên cảnh sát trưởng Paris (tên là Bezu
Fache) truy đuổi tới cùng. Có thể nói cuốn tiểu thuyết là một kịch bản viết
theo kiểu phim The Rolling Stone hay The Temple of Doom do
Harrison Ford đóng, nó làm cho người theo dơi lúc nào cũng ở trong trạng thái
bồn chồn, không biết chuyện ǵ sẽ xảy ra. Thực ra, giới điện ảnh Hollywood đang
dự tính dàn dựng một phim dựa vào cuốn The Da Vinci Code do tài từ Tom
Hanks đóng.
Cuốn tiểu thuyết xen kẽ những đoạn săn đuổi
đầy kịch tính (mà chúng ta thường hay thấy trong các phim của Hollywood) bằng
những thông tin dường như lạc đề nhưng làm cho người đọc cảm thấy thích thú.
Chẳng hạn như tại sao người Tây phương có vẻ kị Thứ Sáu Ngày 13 là v́ Thứ Sáu
ngày 13/10/1307 là ngày Giáo hoàng Clement V ra lệnh quân lính đi bắt các hiệp
sĩ Templar (Knights of Templar), tra tấn họ để bắt buộc họ phải thú nhận là đă
phạm tội chống Thượng đế, rồi thiêu sống họ như những người dị giáo. Hay chẳng
hạn như, qua lời giải thích của chuyên gia biểu tượng học Robert Langdon, tác
giả Dan Brown cho biết trong tiếng Anh, hoa hồng (rose) là đảo chữ của
thần ái t́nh (eros). Hoa hồng luôn luôn là biểu tượng của bản năng t́nh
dục nữ tính, với 5 cánh hoa tượng trưng cho 5 giai đoạn của một người phụ nữ:
sinh ra, có kinh, làm mẹ, tắt kinh, và chết.
Đọc đến đây có lẽ bạn đọc sẽ thắc mắc một cuốn tiểu thuyết
khá b́nh thường với câu chuyện vừa tóm lược như trên, th́ tại sao nó lại có sức
hấp dẫn nhiều độc giả khắp nơi trên thế giới như thế, và làm tốn biết bao giấy
mực của các nhà b́nh luận tiểu thuyết, phê b́nh văn học, và giới nghiên cứu tôn
giáo trên thế giới trong suốt cả năm qua? Có thể nói đây không phải là một cuốn
tiểu thuyết b́nh thường, mà phải nói là một cuốn tiểu thuyết giả sử về đạo Công
giáo La Mă th́ đúng hơn. Giả sử là v́ tác giả Dan Brown đă sử dụng một số tài
liệu thật hay tài liệu được phát hiện gần đây về lịch sử của Giáo hội Công giáo
La Mă để xây dựng nên một câu chuyện nửa thật nửa tưởng tượng, và qua đó có thể
tránh khỏi những chỉ trích từ phía Giáo hội.
Lồng vào cuốn sách là những nhận định và phê phán gay gắt
về sự tàn bạo và lừa bịp của Giáo hội Công giáo La Mă trong suốt hai ngàn năm
lịch sử h́nh thành và phát triển của giáo hội. Theo tác giả, Kinh thánh là một
sản phẩm của con người, hay nói chính xác hơn là sản phẩm của đàn ông. Cuốn
Kinh thánh không phản ánh lịch sử thật, bởi v́ con người đă dựng nên cuốn Kinh
thánh như là một lịch sử trong thời ḱ hỗn độn, đầy nhiễu nhương, để củng cố
quyền lực của họ. Ba trăm năm sau khi Giê-su bị hành h́nh trên Thập tự giá, con
số tín đồ theo đạo Giê-su tăng theo cấp số nhân. Những người theo đạo Giê-su
bắt đầu gây chiến với những người ngoại đạo thờ cúng Mặt trời, và những cuộc
chiến đẩm máu dẫn đến nguy cơ La Mă sẽ bị chi làm hai phái. Để ngăn ngừa nguy
cơ này, vua La Mă là Constantine, một người ngoại đạo, phải t́m cách ǵn giữ La
Mă thống nhất. Cách mà ông làm là cải đạo những người thờ cúng mặt trời thành
những tín đồ đạo Giê-su. Ông cho ḥa nhập các truyền thống đạo thờ cúng mặt
trời với truyền thống đạo Giê-su thành một hệ thống niềm tin mà cả hai phe đều
có thể chấp nhận được. Chẳng hạn như Thần Mithras (có trước thời Kitô giáo)
được gọi là Con trai của Thượng đế (The Son of God) và Ánh sáng của Thế
giới (The Light of the World) sinh ngày 25 tháng 12; chết và được chôn
cất; rồi 3 ngày sau sống lại. (Cũng cần nói thêm là 25/12 cũng là ngày sinh của
Osiris, Adonis, và Dionysos). Nói tóm lại nhiều truyền thuyết của Kitô giáo
được lưu truyền đến ngày nay được vay mượn từ những truyền thuyết của người
ngoại đạo thờ cúng mặt trời.
Giê-su vốn là hậu duệ của vua Do Thái, tức vua David và
vua Solomon. Giê-su là một người b́nh thường. Nhưng để củng cố quyền lực và
hợp nhất ḷng dân, Constantine ủy nhiệm một nhóm khoa bảng viết Kinh thánh tôn
vinh Giê-su thành thần thánh, và con của Thượng đế. V́ việc thần thánh hóa
Giê-su xảy ra sau khi ông đă chết cả 4 thế kỉ, cho nên một số tài liệu trước đó
về con người thật Giê-su vẫn c̣n tồn tại, và những tài liệu này là một mối đe
dọa cho nền tảng đạo Giê-su. Constantine (và Giáo hội Công giáo La Mă sau này)
bèn t́m cách tiêu hủy tất cả những tài liệu này. Nhưng may mắn thay, một số tài
liệu gần đây được t́m thấy tại Biển Chết (như Dead Sea Scroll) vào thập niên
1950s, và trước đó (1945) là tài liệu Coptic Scroll được t́m thấy tại Sa mạc
Judaean đều mô tả Giê-su là một người rất b́nh thường nhưng có ảnh hưởng lớn đến
dân chúng v́ là ḍng dơi vua chúa. Nhưng Ṭa thánh Vatican không công nhận
những tài liệu này, v́ họ cho đó là tài liệu giả hay nói sai về cuộc đời của
Giê-su.
Cuốn tiểu thuyết cho thấy tác giả Dan Brown là một người
có quan điểm cấp tiến (liberal view) và b́nh quyền nam nữa. Ông cho rằng không
ai có thể phủ nhận những việc làm rất tốt của Giáo hội Công giáo La Mă hiện đại
nhằm xoa dịu những đau khổ trong thế giới bất an ngày nay, nhưng cũng không ai
có thể phủ nhận lịch sử lừa đảo và bạo động của Giáo hội. Những cuộc thập tự
chinh (tức crusade) tàn bạo nhằm cải tạo những ai được xem là “ngoại đạo”
chỉ có thể mô tả là khủng khiếp. Ṭa án dị giáo (tức Inquisition) cho
phát hành một cuốn sách có tựa đề là Malleus Maleficarum (tạm dịch:
Búa phù thủy) mà Brown cho rằng chỉ có thể nói là một cuốn sách đẫm máu nhất
trong lịch sử con người. Trong sách, Công giáo La Mă báo động thế giới về sự
nguy hiểm nếu phụ nữ đưộc quyền tự do suy nghĩ, và dạy cho giới tu sĩ cách thức
truy t́m, tra tấn, và tiêu diệt những phụ nữ này. Những người được Giáo hội xem
là phù thủy gồm những học giả giới nữ, nữ tu, người gypsy, những người hành nghề
huyền bí, những người hái lượm cây cỏ làm thuốc, những bà mụ đỡ đẻ, những người
yêu thiên nhiên, v.v… Trong thời gian 300 năm truyền và cải đạo, Giáo hội Công
giáo La Mă đă thiêu sống hay giết chết 5 triệu phụ nữ (Chương 28).
Có lẽ một trong những điều tác giả Dan Brown
làm cho tín đồ theo đạo Công giáo La Mă phải sốc là ông ám chỉ rằng Giê-su có
gia đ́nh và có con. Vợ của Giê-su là bà Mary Magdalene, một người mà Giáo hội
Công giáo phỉ báng hết lời và mô tả bà Magdalene như là một con đĩ. Nhưng theo
hội kín Priory of Sion, Magdalene có thai trong lúc Giê-su bị hành h́nh, và để
bảo vệ đứa con chưa sinh của Giê-su, Magdalene không c̣n lựa chọn nào khác là
phải chạy trốn khỏi Đất thánh. Với sự giúp đỡ hết ḷng của Joseph of Arimathea
(chú hay bác của Giê-su), Magdalene sang Pháp (nước Pháp lúc đó có tên là
Gaul). Tại Pháp bà Magdalene tị nạn trong một gia đ́nh người Do Thái, và bà
hạ sinh một đứa con gái tên là Sarah. Để làm nhẹ câu chuyện “động trời” này một
chút, Dan Brown cho gắn cho nhân vật cảnh sát nữ Sophie Neveu trong tiểu thuyết
thành hậu duệ của … Giê-su và Magdalene!
Qua lời nói của Giáo sư Langdon, Dan Brown cho biết biểu
tượng đầu tiên về nam giới là T
(tiếng Anh gọi là blade, thanh kiếm), là tượng trưng cho dương vật, cho
sự cường bạo, và đó cũng chính là lí do tại sao giới quân sự ngày nay vẫn dùng
biểu tượng này để phân biệt cấp bậc trong quân đội. Biểu tượng của nữ giới là
h́nh chữ V, ?, có tên là
chalice (cái li hay cốc), và nó c̣n có h́nh dạng của dạ con (tử cung). V́
thế chalice tượng trưng cho nữ tính và tiềm năng sinh sản. Điều này có
thể nh́n thấy trong bức tranh nổi tiếng, Bữa ăn tối cuối cùng (The Last
Supper), của Da Vinci. V́ thế cái gọi là cuộc truy t́m Holy Grail hay
Chén thánh, theo Dan Brown, thực chất là cuộc truy t́m tông tích của
Magdelene, vợ của Giê-su.
Bất cứ niềm tin nào trên thế giới cũng đều dựa vào chuyện
bịa đặt. Định nghĩa của niềm tin là sự thừa nhận những ǵ mà người ta tưởng
tượng là sự thật, nhưng không thể chứng minh được. Những tôn giáo tin vào
Thượng đế thường mô tả Thượng đế qua những ẩn dụ, biểu tượng, và cường điệu. Ẩn
dụ là cách làm cho trí óc con người xử lí những điều bất khả dĩ. Vấn đề trở nên
nguy hiểm khi con người tin vào những ẩn dụ của chính họ. Câu chuyện mà Dan
Brown kể trong cuốn tiểu thuyết The Da Vinci Code chắc chắn làm cho nhiều
tín đồ Công giáo La Mă rất căm giận và điều này có thể hiểu được bởi v́ nó đụng
đến những niềm tin mà họ đă thật sự dựa vào qua nhiều thế hệ. Nhưng những ǵ
Brown viết sẽ không làm cho giới thức giả ngạc nhiên, bởi v́ những câu chuyện và
giả thuyết tŕnh bày trong cuốn tiểu thuyết đă được các nhà nghiên cứu tôn giáo
phân tích qua hàng chục cuốn sách nghiêm túc. Một điều nghịch lí là cuốn sách
này được bán rất chạy tại các nước theo đạo Công giáo La Mă ở Âu châu, nhưng lại
bị cấm phát hành ở Lebanon, nơi mà tín đồ Công giáo La Mă chỉ là thiểu số! Có
phải điều này thể hiện thái độ “Bảo hoàng hơn vua” của các Giáo hội Công giáo
tại các nước “theo đạo”, hay sự khác biệt về tŕnh độ nhận thức của tín đồ, hay
sự sợ hăi sự thật của họ?
Dù lí do ǵ đi nữa, cuốn sách này rất đáng có trong tủ
sách của những ai muốn t́m hiểu về lịch sử của Giáo hội Công giáo La Mă. Tất
nhiên, t́m hiểu lịch sử không có nghĩa là phủ nhận hay phỉ báng những việc làm
tốt của Giáo hội, mà là một việc “ôn cố tri tân” để vượt lên những sai lầm trong
quá khứ và tự t́m cho chính ḿnh một con đường đúng. Tưởng cần nhắc lại câu nói
của Leonardo da Vinci mà tác giả trích trong sách: “Vô minh làm cho chúng ta
mê muội, hỡi những người khốn khổ, hăy mở mắt đi!” [5].
Ghi chú:
[1] Theo nhiều tài liệu th́ Jesus Christ (hay Jesus of
Nazareth) sinh vào năm 4 (sau Công nguyên). Năm 33 tuổi ông bị Toàn quyền La Mă
là Pilatus tuyên án tử h́nh v́ tội “Âm mưu gây bạo loạn chống chính quyền”. Vẫn
theo nhiều sách cho biết, một toán lính La Mă dẫn Jesus lên núi Golgotha ở
Jerusalem xử tử bằng cách đóng đinh vào thập tự giá. Lúc đó là chiều thứ Sáu.
Hai người bạn (hay người thân?) của Jesus là Joseph Arimathea và Nicodemus dùng
cái chén hứng lấy máu của Jesus. Đó là cái Chén thánh, tức Holy Grail.
Cũng theo truyền thuyết, cái Chén thánh sau đó được Joseph
Arimathea đem sang Anh và cất dấu qua nhiều thế kỉ. Cuộc truy t́m Chén thánh là
một cuộc chinh phục của Vua Arthur. Có người tin rằng Chén thánh được dấu trong
một lâu đài bí mật, chung quanh bao bọc bằng những vùng đất hoang, và được một
người gọi là Fisher King bảo vệ.
Tung tích cái Chén thánh là một đề tài cho nhiều sáng tác
như các tác phẩm sau đây: Holy Blood, Holy Grail của Michael Baigent;
Bloodline of the Holy Grail của Laurence Gardner; và The Holy Grail: The
Legend, the History, the Evidence của Justin Griffin.
[2] The Da Vinci Code của Dan Brown, do Nhà xuất
bản Corgi Books ấn hành vào năm 2004, 593 trang, giá $19.955.
[3] Jacques Saunière, một nhân vật trong tiểu thuyết, có
lẽ được tác giả mô phỏng theo Francois Bérengé Saunière là tên của một linh mục
có thật ngoài đời, người đă phát hiện một tài liệu về cái Chén thánh được
dấu kín dưới bàn thờ tại một nhà thờ tại làng Rennes-le-Château (Pháp), và tài
liệu này là đề tài tranh căi sôi nổi trong giới thần học.
[4] Opus Dei cũng là một tổ chức có thật nằm dưới quyền
của Ṭa thánh Vatican. Opus Dei (hay Công tŕnh của Thượng đế) được
nhiều người cho là một tổ chức tội phạm Mafia, chuyên tuyển dụng những tín đồ,
rồi tẩy năo họ thành những con người cuồng tín chuyên phục vụ cho Giáo hội.
Trong cuốn tiểu thuyết, nhân vật Silas, một thành viên của Opus Dei, được mô tả
như là một linh mục bạch tạng (da trắng toát như quỉ), mắt đỏ, giết người không
gớm tay.
[5] Tạm dịch từ câu: “Blinding ignorance does mislead us,
O! wretched mortals, open your eyes”.
|
|