|
VĨNH TÙNG… VẪN LÀ NHƯ THẾ!
(Nguyễn Phước Vĩnh Tùng, 1938 – 13. 12.
2004)
Tin anh mất đến đă mấy ngày rồi. Cũng đă chu toàn mọi
việc của một người bạn đối với người ra đi: phúng điếu, chia buồn, loan tin,
thảng thốt chia với người c̣n lại đôi câu. Nhưng h́nh như có một điều ǵ chưa
xong, chưa hết, một điều chưa dứt, một điều không lặng lẽ ra đi như thế, cũng
không phải như một thứ lưu luyến, tiếc nuối, bỏi v́ nó tươi mươi, sống động, chứ
không ngắc ngoải điêu linh, một điều ǵ c̣n lại trong ḷng rất “sống” không
chết. H́nh như bởi điều ấy mà ḷng tự dặn ḷng, lần ni thôi không viết một chữ
ai điếu, nên giữ riêng một góc nào đó…một góc nào đó trong ḷng không có bóng
dáng của sinh tử chen vào… dành cho những đứa con của niết bàn trần thế…của
những enfants du paradis một thời xưa.
Nhưng rồi giữa phố xá Noen phương trời tây, Trịnh Công
Sơn bỗng vu vơ trên không “Xin cho bốn mùa, đất trời lặng gió, đường trần em đi,
hoa vàng mấy độ… một cơi bao la, em về đâu đó”. Tự dưng nóng bờ mi. Thời gian
đang được gh́ giữ đóng khung bất định bỗng lung lay, chia bờ giữa ở và đi. Giữa
ở và đi, đất trời lộng gió, đă có bao nhiêu con đường bạn bè chia chung một
quăng, bao nhiêu lần gặp nhau, vui buồn thời ấy? Thời đi học, thời sinh viên
tranh đấu, thời thanh xuân, thời già cỗi?
Năm 2001 sau chuyến thăm Huế trở lại Đức, tôi viết thư
cho anh HVGiàu kể chuyện Huế, chuyện gặp Vĩnh Tùng, người bạn thời Đệ Nhất Quốc
Học và người anh em đồng hành trong thời phong trào SVPT 1963:
“Hôm về Huế ăn cơm ở nhà Hiệp có chị Quế, Côn, Vĩnh
Tùng. Sau đó Côn chở xe Honda đưa KL về, c̣n Tùng th́ đạp xe đạp đi theo. Đi
trên đường Nguyễn Huệ, hai bên có hai dăy dừa cao, anh c̣n nhớ không. Lúc ấy
trời đă tối, đường về đêm, ít người qua lại, cả ba đứa cao hứng, thấy như hồi
c̣n sinh viên, học sinh, Tùng bảo Côn, thôi khoan đưa Kim Lan về, cứ thả xe chạy
từ từ hết đầu đường đến cuối đường rồi quay trở lại mấy ṿng như thế - trên con
đường thời xưa có tên “promenade des amoureux” - vừa đi vừa nói chuyện tầm phào,
không đâu ra đâu.
A! cái khí trời hôm ấy! Trăng lên muộn, mờ nhạt nấp sau
những tua lá dừa, răng mà giống thời xưa như rứa. Tùng th́ đạp xe ṭ ṭ đi
theo, xe Honda th́ chạy chậm như rùa ḅ, tự nhiên thấy trong ḷng vừa thanh thản
vừa nghe nhói nhói con tim, mơ hồ như có tiếng gọi của ai hay của chính ḿnh từ
quá khứ xa xăm? Cái thời nào đó? Cái thời xưa ấy, hồi c̣n xỏa tóc bờ vai, mặc áo
lụa, đạp xe đạp đi khắp các nẻo đường xứ Huế, vừa sợ vừa thích khi có anh chàng
nào vơ vẩn đi theo…Hôm nay “liếc” sang th́ thấy cái anh chàng Vĩnh Tùng nay đă
sún răng, miệng cười sệu sạo, tóc hói đi gần hết. Thấy thương ơi là thương, tội
ơi là tội, đến ứa nước mắt. Chao ơi, mới đó, ngày nào, bây giờ…Cái chàng Vĩnh
Tùng ngày xưa hùng dũng đạp xe đạp, t́nh nguyện đưa những cô bạn nhỏ về sau khi
đi tập văn nghệ ban đêm, như ông anh cả, không một chút hậu ư, cứ phứa ngang
chuyện trai gái của người khác, cứ hề hề nhe răng cười cản mũi đầu trâu những
đứa lén phén đến gần, hiên ngang, thẳng như ruột ngựa, phơi hết phổi ḅ…NAY VẪN
LÀ VĨNH TÙNG NHƯ THẾ sau bao thăng trầm của cuộc sống, với chiếc xe đạp cũ mèm,
sau bao nhiêu bầm dập, vẫn cười h́ h́ …lọc tọc đi về lận đận với vợ và một đàn
con…
Cả bọn đi tới đi lui ở đường hàng đoát mấy ṿng rồi bảo
nhau, thôi rứa là đủ rồi, lần sau…Có một lần sau nữa không?...” (thư gửi anh
HVGiàu, 08.02.01)
[Trong hồi kư 63, tôi viết về Vĩnh Tùng, người đồng sáng
lập đoàn Sinh Viên Phật tử Huế 1962, và cùng dấn thân trong Pháp nạn 63].
Tôi đến ngồi bên cạnh Vĩnh Tùng hỏi nhỏ :
“Tùng thấy răng ?” Anh bĩu đôi môi với hàm răng vồ của gương mặt thanh niên Huế
điển h́nh, cái mũi sư tử nhấp nhô: “Th́ không về cha răng! Ai về th́ về, tui
không về!” “Rứa ba Tùng có bị chi không?” “Ui chao chị không biết, ba tôi c̣n
theo chùa hơn tui nữa đó. Ông là cánh tay mặt hộ pháp của khuôn hội đó chơ! Ông
không sợ mô!”. (Thái Kim Lan, Những ngày tháng không quên, hồi kư 1963, website
Khuông Việt, số 7)
Trong suốt thời Pháp nạn anh đă là một
Phật tử trung kiên b́nh dị, hăng hái và rất đoàn kết với tất cả anh em. Gia
đ́nh hoàng phái theo Phật ở Huế thuần thành. Anh đến chùa, ăn chay, làm Phật sự
an nhiên tự tại, không thắc mắc như những tên sinh viên mới nhập cuộc như tôi.
Anh lên chùa tuyệt thực như thi hành một bổn phận trong gia đ́nh, theo gương của
người thân, nhưng lại trải ḷng đơn sơ nhất, vẫn luôn là một trong những người
cuối cùng gắn bó với chùa trong cơn hoạn nạn. Trong lớp học anh vẫn là Vĩnh Tùng
bất ngờ đứng về lẽ phải trong nhiều t́nh huống, bằng lư luận trực giác “cha
răng”, làm cho những người thuộc phe chuyên môn khúc mắc lư luận như tôi lắm lúc
đâm cáu.
Lần cáu thật sự khi gặp anh lại trong thập
niên 80/90, sau mấy mươi năm xa cách. Tôi đă không biết con đường tiến thân của
anh trong khoảng 30 năm xa cách đă như thế nào – nghe nói anh là nghị sĩ hay dân
biểu ǵ đó trước 1975 – nhưng khi gặp, chỉ thấy một Vĩnh Tùng khốn đốn trong
cảnh nghèo túng, cảnh chung của hầu như tất cả mọi người, lại thêm gia đ́nh đông
con đến ngạc nhiên trong thời buổi ấy. Tôi lư luận với anh để đi t́m một giải
pháp kinh tế thoát hoàn cảnh, khi biết anh đông con và c̣n muốn tiếp tục có thêm
con, tôi khắc khổ theo kiểu duy lư giải phóng phụ nữ phương tây, tôi nghĩ trong
trường hợp này anh phải có kế hoạch gia đ́nh, anh cười h́ h́, ngữa bàn tay lư
luận với năm ngón tay, bảo tôi: “cha răng, con đông là hạnh phúc, con đông mới
có người nối dơi, cha răng, vẫn có con nữa, cha răng!”. Tôi chịu thua nước cờ
bảo thủ ấy nhưng được an ủi với ư nghĩ anh có hạnh phúc gia đ́nh. Trong 10 năm
kế tiếp, nghe nói anh cùng gia đ́nh yên vui hạnh phúc trong “tri túc tiện túc,
đăi túc hà thời túc”. Có thể nói anh không đi trước về sau, không bôn ba hải
ngoại, anh thương vợ thương con, nên anh ở lại Huế và lo người kế dơi tông đường
như là bổn phận của một con trưởng trong gia đ́nh. Thành công của anh là ở người
vợ hiền và những đứa con ngoan, một thành công vượt trội mọi người anh em.
Những tháng cuối cùng mang trọng bệnh,
được tin anh b́nh tĩnh và không đau đớn trong sự săn sóc của gia đ́nh, bạn bè,
của các sư cô, của chị Xuân Quế, của chùa, anh c̣n nhắn gửi, anh muốn chia xẻ
t́nh thương ấy cho những người đang bị trọng bệnh như anh.
Nghe nói anh an nhiên khi từ giă cơi đời.
Có phải sự an nhiên này là đóa hoa vàng anh đă lượm được trên những nẻo đường và
đă vun xới trong tâm, trong lúc có người đă bị cuốn theo chiều gió? Như một
chứng thực cho tôi “Vĩnh Tùng…vẫn là như thế”, ở nơi một góc trái tim mà tôi
dành cho những “đứa con của niết bàn trần thế” và nhất định sẽ giữ măi không cho
một vọng niệm đối đăi sinh tử nào len vào.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật
Muenchen, 18. 12. 2004
Ngày đưa tiễn anh Vĩnh Tùng tại Huế.
Thái Kim Lan
|
|