|
Bài 6: Những bi kịch
làng Rô
Rời
Kon Tum mạn Tây Trường Sơn để chinh phục đèo Ḷ Xo sang Đông Trường Sơn, quả
t́nh tôi chưa được thấy ngọn đèo nào hùng vĩ và “khủng khiếp” như đèo Ḷ Xo. Cơn
mưa rừng như trút nước làm tôi ớn lạnh khi nghĩ về chuyện xảy ra cách đây không
lâu (lúc đường Hồ Chí Minh chưa làm): ba cha con đi rừng ở đoạn qua con đèo này,
bị cọp vồ mất một.
Chuyện làng Rô
Hơn hai giờ đồng hồ vật lộn trên tay
lái, có đoạn mưa rừng mù mịt, lạnh cóng và mệt lả, vượt ít nhất... 100 khúc cua
“cùi chỏ”, qua “thị trấn vàng” Khâm Đức của huyện Phước Sơn (tỉnh Quảng Nam),
thêm 60km đường toàn rừng núi nữa, từ phía xa tôi đă thấy xuất hiện mái nhà
rông.
Vậy là đến huyện Nam Giang (c̣n gọi là huyện Giằng, tỉnh Quảng Nam), đến làng Rô
của đồng bào Cơ Tu rồi. Một người đứng tuổi khá thạo tiếng Việt hỏi han tôi đủ
điều. Bà con cho tôi nước nóng uống, lại c̣n mời sắn luộc. Cách đây mấy mươi
năm, nhà thơ Tố Hữu vượt ngục từng được người làng Rô che chở. Ông cảm kích
viết: “Ơi làng Rô nhỏ của tôi/Cao cao ngọn núi chiếc nôi đại bàng/ Trăm năm tôi
nhớ ơn làng/ Cánh tay che chở bước đàng gian nguy”.
|
 |
|
Phóng viên tṛ chuyện cùng
chị Alăng Thị Diệp trong ngôi nhà vách nứa ven đường 14D. |
Nơi đây, vào một đêm mùa khô thập niên
60 thế kỷ trước, người dân bỗng nghe tiếng máy bay rất lạ. Nó không vùn vụt gầm
rú như mọi khi mà chỉ chầm chậm ầm ́ trên đầu.
Chập sau là mùi hăng hắc nồng nặc, ai nấy chảy nước mắt, máu mũi. Sáng hôm sau,
một lớp bụi màu cam phủ dày tán lá, dân làng Rô vừa khóc vừa báo: “Bộ đội ơi, gà
chết cả rồi... trâu không đứng được nữa, mồm nó sưng to... Con nít mới đẻ cũng
chết, người lớn đau cái đầu quá”. Làng Rô khi xưa đớn đau là thế.
Làng Rô thuộc xă Cà Dy, huyện Nam Giang, cách biên giới Việt - Lào 75km, hay có
tên gọi quen thuộc khác trong kháng chiến: huyện Giằng! V́ sao có tên gọi lạ
vậy. Theo người dân địa phương, “con sông chảy dài mấy mươi cây số dọc theo Đông
Trường Sơn ni có tên Giằng.
Cứ đi t́m chỗ mô mà sông Thanh gặp sông Giằng th́ rứa là địa danh Bến Giằng, có
h́nh vuông góc như cái giằng cắt lúa của đồng bào”. Con số nạn nhân nhiễm chất
độc da cam (CĐDC) thống kê được của huyện Giằng là 270, trong đó có 1 người
Kinh, c̣n lại là đồng bào Cơ Tu, Giẻ Triêng,Ve.
Cuộc sống bên Bến Giằng
Alăng Thị Diệp đang ngồi trước cửa căn
nhà vách nứa ven đường 14D (sang Lào). Tay phải của chị đang cào cào mớ lúa phơi
trước cửa, thỉnh thoảng lại lấy bả vai co lên lau mồ hôi trên gương mặt xinh
đẹp. Thấy tôi đưa máy ảnh lên chụp, chị nhất định chạy vào trong thay bộ quần áo
mới.
|
 |
|
Đinh Ngọc Chung như một
đứa trẻ dù đă 23 tuổi do chứng bại năo. |
Người con gái Trường Sơn xinh đẹp hẳn
ra và sẽ là hoàn hảo nếu như tay trái của chị không bị liệt do phơi nhiễm CĐDC.
Trước khi vào thăm, tôi đă được biết một số thông tin: ama (cha) của chị là đồng
chí Alăng Dùm, amế (mẹ) là bà Pơloong Púl, cả hai người đều tham gia cách mạng
trong thời kỳ “chiến tranh đặc biệt” chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục
bộ”.
Bom, đạn, phi pháo, rốckét, đại liên 20 ly... mà Mỹ - ngụy dội vào nơi được cho
là “cánh cửa thép” của Đà Nẵng ở Trường Sơn vẫn không thể hạ được du kích, bộ
đội Giằng. Nhưng chất khai quang th́ tàn phá cơ thể con cái họ. Tôi hỏi thăm,
qua lời thông dịch của anh Hải, Trưởng pḥng Lao động-Thương binh-Xă hội huyện
th́ được biết ông Alăng Dùm đă chết, c̣n bà Pơloong Púl đang là bệnh binh già
yếu nhiều.
Rồi Diệp đạp chân lên bó lúa cho tôi xem, những hạt lúa rẫy (chỉ 2 tạ/sào/năm)
rơi ra được cô tỉ mẩn gom lại bằng cánh tay phải, dùng chính tay ấy hốt từng hạt
cho vô gùi, đem phơi. 30 năm nay, Diệp sống thui thủi với bà Pơloong Púl, cô
không lấy chồng v́ mặc cảm, v́ thương amế già yếu.
Sông Giằng vẫn cuồn cuộn chảy, sông không sâu nhưng nước khá xiết len qua từng
cụm đá xô bọt tung trắng núi rừng Nam Giang. Tôi đi dọc con sông Giằng này, bồi
hồi liên tưởng đến lời kể của anh Hải: “Biết bao nhiêu đồng bào đă chết lần chết
ṃn trước khi ta phát hiện ra họ bị nhiễm CĐDC. Không chỉ riêng Giằng, mà cả
Hiên, cả Đại Lộc...cả tỉnh Quảng Nam ni đớn đau bởi chất độc”.
Đúng, nồng độ dioxin ở các địa phương thuộc Nam và Trung bộ cho đến nay vẫn cao
hơn nồng độ ở miền Bắc đến 6 lần và suốt từ năm 1982-1992, hàm lượng dioxin
trong máu cư dân miền Trung vẫn không giảm. Như trường hợp của Đinh Ngọc Chung
(dân tộc Giẻ Triêng, thôn Dung, Thạnh Mỹ) có cha là Đinh Văn Ớt và mẹ là Hiền
Kim Như bị nhiễm CĐDC từ những ngày tham gia Huyện ủy Giằng.
Chung bị bại năo do di chứng da cam/dioxin và không đi được, chỉ ḅ, vịn, lết 23
năm nay. Trong máu của anh Ớt, chắc chắn rằng lượng dioxin rất cao, bởi anh đă
hứng chịu “mưa da cam” liên tục trong gần 10 năm.
Trong một lá thư gửi cho Thượng nghị sĩ Tom Daschle ngày 9-9-1998, tiến sĩ James
R. Clary thuộc cơ quan nghiên cứu vũ khí hóa học (Chemical Weapons Branch) Trung
tâm Phát triển vũ trang không quân Mỹ, viết: “Lúc khởi xướng chương tŕnh khai
quang vào thập niên 1960, chúng tôi biết tiềm năng độc hại của dioxin chứa trong
thuốc diệt cỏ...
Chúng tôi c̣n biết công thức mà giới quân sự dùng có nồng độ cao hơn giới dân sự
v́ chi phí rẻ và thời gian sản xuất ngắn. Tuy nhiên, v́ hóa chất được dùng trên
“kẻ thù” nên chúng tôi không quan tâm thái quá”. Vậy là đă rơ, “kẻ thù” của
Chính phủ Kennedy trước đây lại là những em bé vô tội, các cô thiếu nữ tràn đầy
sức sống như ở Trường Sơn này. Họ phải chịu một cuộc đời tàn phế u tịch, nơi
rừng thẳm.
Bài 7: Vật vă A Lưới
|
|