WWW CHUYỂN LUÂN

 

Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm Mậu Tư-2008 Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

Trang chủ || Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
 

Góp nhặt cát đá

 

Tác giả

  Video clips
  Online số cũ từ 2003
  Các số báo trước 2003
   

 

Nối Kết:

      

   
  Tác phẩm chọn lọc
  Thầy Nhất Hạnh
   

CHUYỂN LUÂN SỐ THÁNG 12/2004

Lính Úc tham chiến ở Việt Nam

có nguy cơ bị ung thư cao 

Nguyễn Văn Tuấn

 

Trong thời gian từ 1962 đến 1973, chính phủ Úc gửi gần 60.000 quân sang Việt Nam tham chiến, hỗ trợ, và phục vụ cho lính Mĩ.  Trong thời gian đó, có hơn 500 lính Úc bị thiệt mạng và 3133 người bị thương nặng.  Cũng trong thời gian 1961-1971 quân đội Mĩ đă phun xuống miền nam Việt Nam gần 77 triệu lít hóa chất khai quang; trong số này, có khoảng 50 triệu lít (hay 64%) là chất màu da cam, có chưa dioxin.  Dioxin là một độc chất số 1 có khả năng gây ung thư và hàng loạt tác hại cho sức khỏe.   

Từ khi cuộc chiến chấm dứt, các cựu chiến binh Úc thường than phiền về t́nh trạng suy đồi sức khỏe, và họ tin rằng nguyên nhân là họ bị phơi nhiễm độc chất da can trong thời chiến.  Nhưng một số nghiên cứu ban đầu cho thấy tỉ lệ tử vong trong các cựu chiến binh Úc không cao hơn so với tỉ lệ tử vong trong dân số Úc nói chung (2,4).  Tuy nhiên, một số nghiên cứu gần đây cho thấy cựu chiến binh Úc có nguy cơ tử vong v́ các bệnh ung thư và bệnh tim mạch cao hơn dân số Úc (5-9).  Một nghiên cứu mới nhất vừa được công bố trên tập san Organohalogen Compounds (bộ 66, năm 2004) cho thấy tỉ lệ mắc bệnh ung thư trong giới cựu chiến binh Úc rất phù hợp với những loại ung thư mà y khoa biết là do dioxin gây ra.  

            Trong công tŕnh nghiên cứu này, các nhà dịch tễ học thuộc Bộ cựu chiến binh sự vụ (Department of Veterans Affairs) và Viện Y tế và phúc lợi xă hội (Australian Institute of Health and Welfare) phân tích tỉ lệ bệnh ung thư trong 59.187 cựu chiến binh (trong số này có 41.087 thuộc bộ binh, 13.538 thuộc binh chủng hải quân, và 4.570 thuộc binh chủng không quân).  V́ mất liên lạc với một số người, nên các nhà nghiên cứu chỉ thu thập dữ kiện đầy đủ trên 96% các cựu chiến binh.  Sau đó, họ đối chiếu danh sách này với danh sách tất cả các bệnh nhân ung thư trên toàn nước Úc (ở Úc, tất cả các trường hợp ung thư đều được lưu trữ trong máy vi tính) từ 1982 đến 2000.  Các nhà nghiên cứu tính toán tỉ lệ mắc ung thư trong cựu chiến binh và trong dân số Úc, rồi tiến hành so sánh mức độ khác biệt giữa hai tỉ lệ xem có ư nghĩa thống kê (hay do các yếu tố ngẫu nhiên) sau khi điều chỉnh cho những khác biệt về độ tuổi.   

            Qua đối chiếu, các nhà nghiên cứu phát hiện 4.623 trường hợp ung thư trong số 59.187 cựu chiến binh, tức tỉ lệ gần 4 trên 1000 người mỗi năm.  Tỉ lệ này cao hơn tỉ lệ trong toàn dân số khoảng 18% (xem bảng thống kê kèm theo).  Phân tích cụ thể cho từng loại ung thư cho thấy các các bệnh ung thư sau đây có tỉ lệ cao hơn so với tỉ lệ trong dân số Úc: ung thư tuyến tiền liệt (cao hơn 28%), ung thư thanh quản và cổ / đầu (khoảng 50%), ung thư máu (20%), ung thư bạch cầu măn tính (50%), ung thư da (35%) và đặc biệt là ung thư Hodgkin’s (cao hơn đến gần 2.1 lần).  

            Phân tích theo từng binh chủng cho thấy, tính chung, tỉ lệ ung thư trong giới cựu hải quân tăng cao nhất (28%), tiếp theo là lính bộ (15%), và không quân (10%).  Trong các cựu chiến binh hải quân, tỉ lệ mắc bệnh cao thường thấy trong ung thư phổi (tăng 47%), ung thư máu (49%) và ung thư tuyến tiền liệt (22%).  Trong các cựu bộ binh, ung thư Hodgkin’s được ghi nhận là cao nhất (cao gấp 2.3 lần so với tỉ lệ trong dân số), ké tiếp là ung thư bạch cầu măn tính (77%), ung thư thanh quản (56%) và ung thư tuyến tiền liệt (29%).  Trong giới cựu không quân, chỉ có ung thư tuyến tiền liệt (tăng 29%) là có ư nghĩa thống kê; c̣n các loại ung thư khác v́ số trường hợp quá ít nên không thể tiến hành phân tích thống kê được.  

Số trường hợp mắc ung thư và tỉ lệ mắc bệnh so với dân số Úc (1982-2000) 

Ung thư

Số trường hợp mắc ung thư

Tỉ lệ ung thư so với dân số Úc

Tất cả ung thư

4623

1.18

Ung thư đường ruột

628

1.10

Ung thư tuyền tiền liệt

699

1.28

Ung thư cổ và đầu

247

1.50

Ung thư thanh quản

344

1.49

Ung thư phổi

581

1.26

Ung thư Hodgkin’s

51

2.08

Ung thư da

762

1.35

Ung thư máu

131

1.20

Ung thư bạch cầu măn tính

58

1.56

Ghi chú: Bảng thống kê này chỉ tŕnh bày những ung thư mà tỉ lệ mắc bệnh có ư nghĩa; c̣n các ung thư khác không có khác biệt ǵ giữa nhóm cựu chiến binh và dân số không có tŕnh bày trong bảng này.  Nếu bạn đọc muốn có thêm chi tiết, xin liên lạc với người viết.  

Vài nhận xét  

            Vấn đề ảnh hưởng dioxin đến sức khỏe của cựu chiến binh Úc vẫn c̣n trong ṿng tranh căi.  Không như Mĩ nơi mà hàng trăm nghiên cứu đă được tiến hành và nhiều dữ kiện quan trọng đă được thu thập cho phép khoa học kết luận một số mối liên hệ giữa phơi nhiễm độc chất da cam và ung thư, ở Úc số lượng nghiên cứu qui mô như thế c̣n khá khiêm tốn.  Gần 20 năm trước đây, một ủy ban hoàng gia (Royal Commission) được thành lập để điều tra về mối liên hệ giữa phơi nhiễm độc chất da cam và sức khỏe trong cựu chiến binh Úc.  Sau gần một năm nghiên cứu và tổng hợp tài liệu, ủy ban đi đến kết luận rằng chưa đủ bằng chứng khoa học để khẳng định hay bác bỏ tác hại của độc chất.  Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, càng ngày càng có nhiều nghiên cứu cho thấy cựu chiến binh Úc mắc các bệnh ung thư và tiểu đường cao hơn trong dân số Úc.  Kết quả trong nghiên cứu này cung cấp thêm một dữ kiện mới trong chiều hướng đó.

Một điều đáng chú ư trong các kết quả của nghiên cứu này là xu hướng tỉ lệ ung thư trong cựu chiến binh Úc rất phù hợp với những loại ung thư mà người ta biết là do dioxin gây ra.  Chẳng hạn như trong các cựu chiến binh Mĩ từng bị phơi nhiễm độc chất da cam (tức những người từng tham gia vào chiến dịch phun thuốc khai quang Ranch Hand) tỉ lệ ung thư tiền liệt tuyến và ung thư da hắc tố cao gấp 2 đến 4 lần so với tỉ lệ trung b́nh trong dân số.  Ngoài ra, báo cáo của Viện Y khoa Mĩ cũng kết luận rằng dioxin là yếu tố gây ra các ung thư bạch cầu măn tính, ung thư Hodgkin’s, và ung thư các mô mềm.  Tất cả các bệnh ung thư này đều được ghi nhận khá cao trong các cựu chiến binh Úc, nhưng mức độ liên quan thấp hơn so với mức độ liên quan t́m thấy trong các cựu chiến binh Mĩ.   

Có thể đây là một bằng chứng cho tác hại của phơi nhiễm độc chất da cam trong thời chiến?  Thật là khó trả lời câu hỏi này, bởi v́ các nhà nghiên cứu không đo lường nồng độ dioxin trong máu của các cựu chiến binh cho nên không thể nói các bệnh trên đây do (hay không do) phơi nhiễm dioxin gây ra.  Một điểm yếu của công tŕnh nghiên cứu này là các nhà nghiên cứu chưa xét đến thời gian và địa điểm mà các cựu chiến binh từng tham gia chiến trường ở Việt Nam.  Phần lớn lính Úc chỉ lưu lại Việt Nam khoảng 1 năm, nhưng cũng có một số lưu lại đến cả 5 năm, và thời gian là một yếu tố phơi nhiễm có thể ảnh hưởng đến kết quả phân tích.   

Ngoài yếu tố thời gian, một khiếm khuyết khác là các nhà nghiên cứu chưa xét đến yếu tố địa điểm.  Mức độ phơi nhiễm độc chất da cam ở Việt Nam dao động tùy theo vùng.  Chẳng hạn như vùng Biên Ḥa, B́nh Định và Đà Nẵng nói chung bị phun độc chất nặng hơn các vùng miền Tây Nam bộ.  Cũng có thể phần lớn quân lính Úc đóng trong các vùng thuộc miền Đông Nam bộ, nhưng nếu không phân tích theo địa điểm th́ mức độ liên hệ giữa độc chất và ung thư có thể không đúng với thực tế.  

            Chúng ta có thể rút ra kinh nghiệm ǵ từ nghiên cứu này?  Có lẽ không ngoa nếu cho rằng độ phơi nhiễm độc chất da cam của quân lính Úc (hay bất cứ quân lính chư hầu nào của Mĩ) trong thời gian chiến tranh chỉ là con số lẻ so với sự phơi nhiễm của quân đội và đồng bào Việt Nam, những người phải sống và chiến đấu trong môi trường độc hại do lính Mĩ để lại.  Nhưng cho đến nay, thế giới vẫn chưa biết ǵ đến tác hại của độc chất da cam trong các cựu chiến binh (và đồng bào) Việt Nam.  Điểm qua hệ thống PubMed (thư viện y khoa thế giới), không có một nghiên cứu nào từ Việt Nam trực tiếp đề cập đến vấn đề này.  V́ thế nhu cầu cho một nghiên cứu tương tự và lớn hơn công tŕnh nghiên cứu của Úc là rất cấp bách, bởi v́ sau 30 năm chấm dứt chiến tranh các cựu chiến binh ngày nay đă cao tuổi hay thậm chí có người đă qua đời.  

Phân tích dịch tễ học và lâm sàng để xác định mối liên hệ giữa phơi nhiễm độc chất da cam và ung thư tùy thuộc vào hai dữ kiện chính: tỉ lệ phát sinh bệnh ung thư, và chỉ số phơi nhiễm độc chất.  Vấn đề xác định bệnh tật trong cựu chiến binh có lẽ không phải quá khó khăn, nhưng xác định chỉ số phơi nhiễm trong từng cựu chiến binh là một vấn đề không dễ chút nào.  Chỉ số phơi nhiễm tùy thuộc vào địa điểm đóng quân, thời gian phục vụ trong quân đội, độ tuổi, giới tính, v.v… V́ thế nhu cầu thu thập dữ kiện lâm sàng và các số liệu liên quan đến quá tŕnh phục vụ trong quân đội một cách chính xác và đầy đủ là cực ḱ quan trọng để đảm bảo giá trị khoa học của công tŕnh nghiên cứu.  Ngoài ra, một điều rất quan trọng là cần phải có sự giúp đỡ hay cộng tác của các chuyên gia trong lĩnh vực thống kê học và dịch tễ học, v́ đây thực chất là một nghiên cứu dịch tễ học với phân tích thống kê là một khâu chính.   

Nghiên cứu dịch tễ học đ̣i hỏi thời gian và tiền bạc.  Nhưng trong công tŕnh nghiên cứu vừa đề nghị trên, có lẽ không cần nhiều tiền bạc để đo nồng độ dioxin, mà chỉ cần thời gian, công sức và nhất là sự quyết tâm của giới lănh đạo khoa học.  Một phân tích về tác hại của độc chất da cam trong các cựu chiến binh Việt Nam rất ư là cần thiết, v́ đó là một nghĩa vụ, một một cách hệ thống hóa tác hại của chiến tranh và cũng là một cách ghi nhận và xoa dịu nỗi đau của những người đă bỏ ra một phần đời hay cả đời cho sự nghiệp dành độc lập đất nước.  Một phân tích như thế chẳng những góp phần giải quyết những thiếu sót trên đây trong nghiên cứu của Úc, mà c̣n cho thế giới biết một khía cạnh dai dẵng khác của cuộc chiến hóa học.

Bài trong tháng

Ban nhạc sống của cơi âm
Bức tường phố thị...
Cựu chiến binh Úc và Ung thư
Dioxin và những kinh nghiệm từ Seveso
Hồn dân tộc qua tiền cổ
Jacques Derrida
Khi nhà báo không nói thật
Loạt bài phóng sự chất độc Da cam 4
Loạt bài phóng sự về chất độc Da cam 3
Loạt phóng sự chất độc Da cam 5
Loạt phóng sự chất độc Da cam 6
Loạt phóng sự chất độc Da cam 7
Loạt phóng sự về chất độc Da cam 1
Loạt phóng sự về chất độc Da cam 2
Lá thư đầy năm
Lăng Hoa đào, Tận Anh hùng
Một người Áo được phong hàm Đại tá của VN
Nguyễn Nhược Pháp và bài thơ Chùa Hương
Nhúm ruột Việt trên đất Isan
Những luận điệu vô ơn
Nói chuyện cùng giới BS VN TD
Nữ văn sĩ VN đầu tiên viết tiểu thuyết
Phóng sự chất độc Da cam bài cuối
Phóng sự về chất độc Da cam
Phật giáo và thời đại Tin học
Sách Chất độc Da cam_Giao điểm
Thủ đoạn của Vơ Văn Ái
Tiếng thời gian
Trái tim Palestine
Từ Graham đến da Vinci
Vĩnh Tùng
Yasser Arafat
Điểm sách "Hai mặt Sáng-Tối của Y học"
Đo lường hiệu suất KH
Đề nghị nâng cao chất lượng GD

 

 

   

Copyright Chuyển Luân 2005

Designed by HT MEDSOFT

CHUYỂN LUÂN ONLINE