|
Lính Úc tham chiến ở Việt Nam
có nguy cơ bị ung thư cao
Nguyễn Văn Tuấn
Trong thời gian từ 1962 đến 1973, chính phủ Úc gửi gần
60.000 quân sang Việt Nam tham chiến, hỗ trợ, và phục vụ cho lính Mĩ. Trong
thời gian đó, có hơn 500 lính Úc bị thiệt mạng và 3133 người bị thương nặng.
Cũng trong thời gian 1961-1971 quân đội Mĩ đă phun xuống miền nam Việt Nam gần
77 triệu lít hóa chất khai quang; trong số này, có khoảng 50 triệu lít (hay 64%)
là chất màu da cam, có chưa dioxin. Dioxin là một độc chất số 1 có khả năng gây
ung thư và hàng loạt tác hại cho sức khỏe.
Từ khi cuộc chiến chấm dứt, các cựu chiến binh Úc thường
than phiền về t́nh trạng suy đồi sức khỏe, và họ tin rằng nguyên nhân là họ bị
phơi nhiễm độc chất da can trong thời chiến. Nhưng một số nghiên cứu ban đầu
cho thấy tỉ lệ tử vong trong các cựu chiến binh Úc không cao hơn so với tỉ lệ tử
vong trong dân số Úc nói chung (2,4). Tuy nhiên, một số nghiên cứu gần đây cho
thấy cựu chiến binh Úc có nguy cơ tử vong v́ các bệnh ung thư và bệnh tim mạch
cao hơn dân số Úc (5-9). Một nghiên cứu mới nhất vừa được công bố trên tập san
Organohalogen Compounds (bộ 66, năm 2004) cho thấy tỉ lệ mắc bệnh ung thư trong
giới cựu chiến binh Úc rất phù hợp với những loại ung thư mà y khoa biết là do
dioxin gây ra.
Trong công tŕnh nghiên cứu này, các nhà dịch
tễ học thuộc Bộ cựu chiến binh sự vụ (Department of Veterans Affairs) và Viện Y
tế và phúc lợi xă hội (Australian Institute of Health and Welfare) phân tích tỉ
lệ bệnh ung thư trong 59.187 cựu chiến binh (trong số này có 41.087 thuộc bộ
binh, 13.538 thuộc binh chủng hải quân, và 4.570 thuộc binh chủng không quân).
V́ mất liên lạc với một số người, nên các nhà nghiên cứu chỉ thu thập dữ kiện
đầy đủ trên 96% các cựu chiến binh. Sau đó, họ đối chiếu danh sách này với danh
sách tất cả các bệnh nhân ung thư trên toàn nước Úc (ở Úc, tất cả các trường hợp
ung thư đều được lưu trữ trong máy vi tính) từ 1982 đến 2000. Các nhà nghiên
cứu tính toán tỉ lệ mắc ung thư trong cựu chiến binh và trong dân số Úc, rồi
tiến hành so sánh mức độ khác biệt giữa hai tỉ lệ xem có ư nghĩa thống kê (hay
do các yếu tố ngẫu nhiên) sau khi điều chỉnh cho những khác biệt về độ tuổi.
Qua đối chiếu, các nhà nghiên cứu phát hiện
4.623 trường hợp ung thư trong số 59.187 cựu chiến binh, tức tỉ lệ gần 4 trên
1000 người mỗi năm. Tỉ lệ này cao hơn tỉ lệ trong toàn dân số khoảng 18% (xem
bảng thống kê kèm theo). Phân tích cụ thể cho từng loại ung thư cho thấy các
các bệnh ung thư sau đây có tỉ lệ cao hơn so với tỉ lệ trong dân số Úc: ung thư
tuyến tiền liệt (cao hơn 28%), ung thư thanh quản và cổ / đầu (khoảng 50%), ung
thư máu (20%), ung thư bạch cầu măn tính (50%), ung thư da (35%) và đặc biệt là
ung thư Hodgkin’s (cao hơn đến gần 2.1 lần).
Phân tích theo từng binh chủng cho thấy, tính
chung, tỉ lệ ung thư trong giới cựu hải quân tăng cao nhất (28%), tiếp theo là
lính bộ (15%), và không quân (10%). Trong các cựu chiến binh hải quân, tỉ lệ
mắc bệnh cao thường thấy trong ung thư phổi (tăng 47%), ung thư máu (49%) và ung
thư tuyến tiền liệt (22%). Trong các cựu bộ binh, ung thư Hodgkin’s được ghi
nhận là cao nhất (cao gấp 2.3 lần so với tỉ lệ trong dân số), ké tiếp là ung thư
bạch cầu măn tính (77%), ung thư thanh quản (56%) và ung thư tuyến tiền liệt
(29%). Trong giới cựu không quân, chỉ có ung thư tuyến tiền liệt (tăng 29%) là
có ư nghĩa thống kê; c̣n các loại ung thư khác v́ số trường hợp quá ít nên không
thể tiến hành phân tích thống kê được.
Số trường hợp mắc ung thư và tỉ lệ mắc bệnh so với dân
số Úc (1982-2000)
|
Ung thư |
Số trường hợp mắc ung thư |
Tỉ lệ ung thư so với dân số Úc |
|
Tất cả ung thư |
4623 |
1.18 |
|
Ung thư đường ruột |
628 |
1.10 |
|
Ung thư tuyền tiền liệt |
699 |
1.28 |
|
Ung thư cổ và đầu |
247 |
1.50 |
|
Ung thư thanh quản |
344 |
1.49 |
|
Ung thư phổi |
581 |
1.26 |
|
Ung thư Hodgkin’s |
51 |
2.08 |
|
Ung thư da |
762 |
1.35 |
|
Ung thư máu |
131 |
1.20 |
|
Ung thư bạch cầu măn tính |
58 |
1.56 |
Ghi chú: Bảng thống kê này chỉ tŕnh bày những
ung thư mà tỉ lệ mắc bệnh có ư nghĩa; c̣n các ung thư khác không có khác biệt ǵ
giữa nhóm cựu chiến binh và dân số không có tŕnh bày trong bảng này. Nếu bạn
đọc muốn có thêm chi tiết, xin liên lạc với người viết.
Vài nhận
xét
Vấn đề ảnh hưởng dioxin đến sức khỏe của cựu
chiến binh Úc vẫn c̣n trong ṿng tranh căi. Không như Mĩ nơi mà hàng trăm
nghiên cứu đă được tiến hành và nhiều dữ kiện quan trọng đă được thu thập cho
phép khoa học kết luận một số mối liên hệ giữa phơi nhiễm độc chất da cam và ung
thư, ở Úc số lượng nghiên cứu qui mô như thế c̣n khá khiêm tốn. Gần 20 năm
trước đây, một ủy ban hoàng gia (Royal Commission) được thành lập để điều tra về
mối liên hệ giữa phơi nhiễm độc chất da cam và sức khỏe trong cựu chiến binh
Úc. Sau gần một năm nghiên cứu và tổng hợp tài liệu, ủy ban đi đến kết luận
rằng chưa đủ bằng chứng khoa học để khẳng định hay bác bỏ tác hại của độc chất.
Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, càng ngày càng có nhiều nghiên cứu cho thấy
cựu chiến binh Úc mắc các bệnh ung thư và tiểu đường cao hơn trong dân số Úc.
Kết quả trong nghiên cứu này cung cấp thêm một dữ kiện mới trong chiều hướng đó.
Một điều đáng chú ư trong các kết quả của nghiên cứu này
là xu hướng tỉ lệ ung thư trong cựu chiến binh Úc rất phù hợp với những loại ung
thư mà người ta biết là do dioxin gây ra. Chẳng hạn như trong các cựu chiến
binh Mĩ từng bị phơi nhiễm độc chất da cam (tức những người từng tham gia vào
chiến dịch phun thuốc khai quang Ranch Hand) tỉ lệ ung thư tiền liệt tuyến và
ung thư da hắc tố cao gấp 2 đến 4 lần so với tỉ lệ trung b́nh trong dân số.
Ngoài ra, báo cáo của Viện Y khoa Mĩ cũng kết luận rằng dioxin là yếu tố gây ra
các ung thư bạch cầu măn tính, ung thư Hodgkin’s, và ung thư các mô mềm. Tất cả
các bệnh ung thư này đều được ghi nhận khá cao trong các cựu chiến binh Úc,
nhưng mức độ liên quan thấp hơn so với mức độ liên quan t́m thấy trong các cựu
chiến binh Mĩ.
Có thể đây là một bằng chứng cho tác hại của phơi nhiễm
độc chất da cam trong thời chiến? Thật là khó trả lời câu hỏi này, bởi v́ các
nhà nghiên cứu không đo lường nồng độ dioxin trong máu của các cựu chiến binh
cho nên không thể nói các bệnh trên đây do (hay không do) phơi nhiễm dioxin gây
ra. Một điểm yếu của công tŕnh nghiên cứu này là các nhà nghiên cứu chưa xét
đến thời gian và địa điểm mà các cựu chiến binh từng tham gia chiến trường ở
Việt Nam. Phần lớn lính Úc chỉ lưu lại Việt Nam khoảng 1 năm, nhưng cũng có một
số lưu lại đến cả 5 năm, và thời gian là một yếu tố phơi nhiễm có thể ảnh hưởng
đến kết quả phân tích.
Ngoài yếu tố thời gian, một khiếm khuyết khác là các nhà
nghiên cứu chưa xét đến yếu tố địa điểm. Mức độ phơi nhiễm độc chất da cam ở
Việt Nam dao động tùy theo vùng. Chẳng hạn như vùng Biên Ḥa, B́nh Định và Đà
Nẵng nói chung bị phun độc chất nặng hơn các vùng miền Tây Nam bộ. Cũng có thể
phần lớn quân lính Úc đóng trong các vùng thuộc miền Đông Nam bộ, nhưng nếu
không phân tích theo địa điểm th́ mức độ liên hệ giữa độc chất và ung thư có thể
không đúng với thực tế.
Chúng ta có thể rút ra kinh nghiệm ǵ từ
nghiên cứu này? Có lẽ không ngoa nếu cho rằng độ phơi nhiễm độc chất da cam của
quân lính Úc (hay bất cứ quân lính chư hầu nào của Mĩ) trong thời gian chiến
tranh chỉ là con số lẻ so với sự phơi nhiễm của quân đội và đồng bào Việt Nam,
những người phải sống và chiến đấu trong môi trường độc hại do lính Mĩ để lại.
Nhưng cho đến nay, thế giới vẫn chưa biết ǵ đến tác hại của độc chất da cam
trong các cựu chiến binh (và đồng bào) Việt Nam. Điểm qua hệ thống PubMed (thư
viện y khoa thế giới), không có một nghiên cứu nào từ Việt Nam trực tiếp
đề cập đến vấn đề này. V́ thế nhu cầu cho một nghiên cứu tương tự và lớn hơn
công tŕnh nghiên cứu của Úc là rất cấp bách, bởi v́ sau 30 năm chấm dứt chiến
tranh các cựu chiến binh ngày nay đă cao tuổi hay thậm chí có người đă qua đời.
Phân tích dịch tễ học và lâm sàng để xác định mối liên hệ
giữa phơi nhiễm độc chất da cam và ung thư tùy thuộc vào hai dữ kiện chính: tỉ
lệ phát sinh bệnh ung thư, và chỉ số phơi nhiễm độc chất. Vấn đề xác định bệnh
tật trong cựu chiến binh có lẽ không phải quá khó khăn, nhưng xác định chỉ số
phơi nhiễm trong từng cựu chiến binh là một vấn đề không dễ chút nào. Chỉ số
phơi nhiễm tùy thuộc vào địa điểm đóng quân, thời gian phục vụ trong quân đội,
độ tuổi, giới tính, v.v… V́ thế nhu cầu thu thập dữ kiện lâm sàng và các số liệu
liên quan đến quá tŕnh phục vụ trong quân đội một cách chính xác và đầy đủ là
cực ḱ quan trọng để đảm bảo giá trị khoa học của công tŕnh nghiên cứu. Ngoài
ra, một điều rất quan trọng là cần phải có sự giúp đỡ hay cộng tác của các
chuyên gia trong lĩnh vực thống kê học và dịch tễ học, v́ đây thực chất là một
nghiên cứu dịch tễ học với phân tích thống kê là một khâu chính.
Nghiên cứu dịch tễ học đ̣i hỏi thời gian và tiền bạc.
Nhưng trong công tŕnh nghiên cứu vừa đề nghị trên, có lẽ không cần nhiều tiền
bạc để đo nồng độ dioxin, mà chỉ cần thời gian, công sức và nhất là sự quyết tâm
của giới lănh đạo khoa học. Một phân tích về tác hại của độc chất da cam trong
các cựu chiến binh Việt Nam rất ư là cần thiết, v́ đó là một nghĩa vụ, một một
cách hệ thống hóa tác hại của chiến tranh và cũng là một cách ghi nhận và xoa
dịu nỗi đau của những người đă bỏ ra một phần đời hay cả đời cho sự nghiệp dành
độc lập đất nước. Một phân tích như thế chẳng những góp phần giải quyết những
thiếu sót trên đây trong nghiên cứu của Úc, mà c̣n cho thế giới biết một khía
cạnh dai dẵng khác của cuộc chiến hóa học.
|