|
Điểm sách “Hai mặt sáng-tối của Y học hiện đại”
của tác giả Nguyễn Văn Tuấn
Nguyễn Đ́nh Nguyên
Y học là một trong những ngành khoa học đạt được nhiều
thành tựu lớn và bước những bước tiến dài trong lịch sử khoa học. Không thể phủ
nhận được những tiến bộ của khoa học ứng dụng trong việc chữa trị bệnh, nâng cao
tuổi thọ, nâng cao chất lượng đời sống và càng ngày khoa học Y học càng đi sâu
vào bản chất của bệnh ở mức độ phân tử. Thế nhưng, không phải như thế là mọi
việc đều ngă ngũ. Mức độ phức tạp của bệnh tật và mức độ phân hoá trong các
phương thức chẩn đoán cũng như cách thức điều trị bệnh dường như càng tăng lên
theo với mức độ phát triển của Y học hiện đại.
Y học hiện đại trong vài thập niên cuối cùng gần đây đang
chuyển hướng từ y học điều trị sang y học dự pḥng; có nghĩa là chuyển hướng từ
việc điều trị cho một cá thể bệnh nhân ở bệnh viện sang điều trị cho cả một cộng
đồng theo một nguyên lư rất lư trí và logic là “pḥng bệnh c̣n hơn chữa bệnh”.
Và lư thuyết này lại hàm chứa một nguyên tắc “thà đánh nhầm c̣n hơn bỏ sót”. Tại
sao lại như vậy? Và có đúng như thế hay không?
Về phương diện thông tin đại chúng thi thoảng đọc trên một
tít báo quảng cáo về một phát hiện mới, hoặc quảng cáo về một thành tựu y học vĩ
đại mới…nhưng sau đó th́ lại công bố là thiếu sót, là sai lầm. Tại sao có sự bất
cập như vậy, tại sao lại có sự tiền hậu bất nhất nhiều khi đến mức dối trá như
thế?
Cuối cùng vẫn là quay lại điểm mấu chốt trong lĩnh vực sức
khoẻ là chỉ có một mối quan hệ thầy thuốc-bệnh nhân thông qua “con bệnh”. Dân
gian có câu “hữu bệnh tắc cầu”, và không chỉ ở Việt Nam thôi mà ngay cả xứ Tây
phương cũng không khác ǵ hơn. Giới thầy thuốc được coi là tầng lớp thượng lưu,
được kính trọng với danh xưng riêng biệt bác sĩ/doctor; và khi Việt Nam c̣n
trong tay thực dân, các bác sĩ c̣n được có danh xưng “Quan”-quan đốc. Điều đó để
nói lên uy quyền của người bác sĩ như thế nào. Thế nhưng với những bất định của
khoa học y học, vả lại thầy thuốc cũng là con người, cho nên sai sót là điều
không thể tránh khỏi, và cuối cùng th́ người “thọ nạn” là bệnh nhân. Thế th́ bất
công quá, có phương thức nào để có thể cải thiện được quyền lợi của bệnh nhân
không?
Để có các câu giải đáp cho hàng loạt những vấn đề hóc búa
đó, “HAI MẶT SÁNG-TỐI CỦA Y HỌC HIỆN ĐẠI” của tác giả Nguyễn Văn Tuấn do Nhà
xuất bản Trẻ ấn hành vào cuối tháng 10/2004 vừa qua có thể là một trong những
cuốn sách làm hài ḷng bạn đọc.
Đọc bản thảo từ tác giả để góp ư, tôi không thể không
khâm phục tác giả đă dũng cảm và phải nói là liều ḿnh đi vào một trong những
vấn đề gai góc nhất của giới nghiên cứu y học hiện nay, đó là chất vấn là tính
xác thực, tính khả tín và khả thi của một số phương án, chiến lược thực hành
trong y khoa. Bản thân người viết bài này là một người làm lâm sàng, tức là từng
lăn lộn với bệnh nhân, từng đánh vật với con bệnh, giành giật mạng sống cho bệnh
nhân; từng thành công và cũng từng mắc phải sai lầm phải trả giá không ít; và
cũng lại dấn thân vào con đường nghiên cứu khoa học dù mới là chập chững. Thế
nhưng một điều không dễ dàng là dù có biết sai lầm, biết ḿnh sai lầm, biết đồng
nghiệp ḿnh sai lầm, biết những thông tin khoa học có thể là sai lầm nhưng không
mấy khi được nói ra một cách thành thật. Có thể là v́ sợ mất danh dự, có thể là
v́ “nồi cơm bát gạo” mà cũng có thể là v́ vấn đề tế nhị. Nếu không nói là đầu
tiên th́ tôi nghĩ Nguyễn Văn Tuấn cũng là một trong những người nói tiếng Việt
đi tiên phong trong việc chất vấn, đặt vấn đề ngược lại với những trào lưu ư
tưởng, phương thức thực hành đang hiện hành trong nền y học tân tiến của thế
giới; tiên phong dám “vạch áo cho người xem lưng”. Làm được như vậy phải là con
người có bản lĩnh và tự tin. Như tôi đă từng nhận xét đâu đó về cuốn sách đầu
tay của tác giả viết về Chất độc màu Da cam (cũng do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành
vào trung tuần tháng 7/2004), tác giả là một chuyên viên cao cấp về nghiên cứu Y
khoa, đương chức ở một trong những Viện nghiên cứu Y khoa hàng đầu thế giới; tác
giả được đào tạo căn bản và nhận học vị cao nhất về các chuyên ngành cần thiết
trong công việc nghiên cứu Y khoa. Chính v́ thế tác giả đă sở đắc được một thứ
“vũ khí” lợi hại để có thể có đủ can đảm bước vào một lĩnh vực mà giới chuyên
môn cho là gai góc và “tự biến ḿnh thành một con cừu đen” (black sheep). V́ quả
thực, chẳng ai dám dại dột đi nói ngược lại những điều mà các “chuyên gia đầu
ngành” đă “ấn kư”, trào lưu hiện hành đang gây ấn tượng.
“HAI MẶT SÁNG-TỐI CỦA Y HỌC HIỆN ĐẠI” có thể nói là một
dạng sách bán chuyên môn-bán phổ thông, bán khoa bảng-bán quần chúng. Sách dày
364 trang không kể b́a, in khổ A5. Nội dung gồm phần mở đầu và 17 bài viết chủ
yếu mổ xẻ những vấn đề thuộc “hậu trường” của nền y học hiện đại trong đó có hai
nhóm đối tượng chính được đề cập đến: nhà nghiên cứu y khoa/bác sĩ điều trị,
bệnh nhân/người tiếp cận thông tin. Để có thể mổ xẻ và phương thức mà tác giả đă
mổ xẻ các vấn đề như thế nào th́ khoảng một phần tư cuốn sách được dành để nhận
định về y học hiện đại và phương thức tiếp cận thông tin này; phần c̣n lại của
cuốn sách là phần để minh hoạ- phân tích, đánh giá lại một số thông tin y học
được giới khoa học chuyên gia công bố và lưu hành, mà chủ yếu là đặt lại vấn đề
của mục đích chẩn đoán bệnh trong quần thể dân cư.
Tuy có thể dễ dàng tách bạch hai chủ điểm nhưng đan xen
trong những bài nặng tính lư thuyết, cũng có chứa những minh hoạ; và trong những
bài chủ yếu là minh hoạ cũng có xen phần lư thuyết. Cho nên theo thiển ư của
chúng tôi, tác giả đă nhắm vào đối tượng bạn đọc khá rộng răi, từ tầng lớp khoa
bảng cho đến tầng lớp bạn đọc phổ thông. Chính v́ đối tượng rộng như vậy nên
những vấn đề nặng tính chuyên môn đă được tác giả cố gắng diễn dịch dưới những
ngôn ngữ b́nh dân, tuy nhiên vẫn chứa đựng được đầy đủ tính khoa bảng và học
thuật. Đây là điểm mạnh nhưng theo chúng tôi có lẽ cũng là một trong những điểm
yếu của cuốn sách. Ngầm hiểu ư của tác giả là “biết mà không nói là đại bất
nhân, nói mà không hết là đại bất nghĩa”, chính v́ muốn nói cho hết nên tác giả
đă cố gắng gom cả lư thuyết chuyên ngành và thực hành lại làm cho giới bạn đọc
phổ thông sẽ phải gặp không ít khó khăn khi đọc những bài viết về phương pháp,
học thuật. Ngược lại với đối tượng là chuyên ngành, dù những thông tin này có
tính hệ thống và kết dính (coherent) cao, nhưng có thể lại chưa đủ sâu. Lẽ đă
hẳn, chỉ cần chủ đề mà tác giả đă nêu ra thôi, giới khoa học đă tốn không biết
bao nhiêu tiền của, công sức và giấy mực để bàn thảo. Biết đâu, đó cũng là ư đồ
của tác giả, gợi ra cho mọi người cùng đặt tư duy, đào sâu và cùng bàn luận.
Điều khá lư thú là tác giả đă đề cập đến tính “dối trá”
trong cách tŕnh bày các dữ kiện khoa học dưới dạng thống kê, mặc dù tác giả
không thẳng thừng nói ra như vậy. Lấy một thí dụ trong bài “Ung thư vú, vấn đề
thông tin Y khoa”, khi công bố về lợi ích của chương tŕnh khám nghiệm ung thư
vú, các khoa học gia có công bố rằng qua một nghiên cứu cho thấy những người
tham gia chương tŕnh khám nghiệm ung thư vú th́ tỷ lệ tử vong do ung thư vú
giảm 25% so với những người không tham gia vào chương tŕnh này. Và trên các
phương tiện truyền thông đều được nói như vậy. Thế nhưng một thực tế đến nực
cười là theo tác giả đă chỉ ra sự khác biệt tuyệt đối giữa hai nhóm chỉ có 1
người trên đơn vị 1000 người (tr. 328). Hoặc khi nói đến con số tử vong, tác giả
đă trích dẫn cho thấy với 16000 phụ nữ được theo dơi trong 5 năm, có 5 người bị
tử vong v́ ung thư vú và có 3 ở nhóm dùng HRT và 2 ở nhóm không dùng HRT! (tr.
189). Và c̣n rải rác nhiều nơi khác trong sách tác giả có chỉ ra những cách đưa
thông tin tương tự (tr. 314, 346-348). Hoặc cũng một nơi khác trong bài ung thư
vú, khi nhận định về con số, giới truyền thông “rêu rao” cứ 100 người phụ nữ da
trắng (Mỹ) th́ có 10 người bị ung thư vú (10%), nhưng tác giả chỉ ra rằng thông
tin này có đúng nhưng không đủ là với một điều kiện “nếu”- nếu người đó
phải sống cho tới 85 tuổi và không hề bị chết trước bởi các bệnh khác,
th́ xác suất cho người này mắc ung thư vú là 10% (tr. 345-346). Thật là một sự
thực lạ lùng đến độ khó tưởng tượng!
Điểm cốt lơi mà tác giả nêu ra và bàn luận mà tôi cho là linh hồn của cuốn sách
là ở điểm sàng lọc chẩn đoán bệnh ở cấp vĩ mô tức là chẩn đoán bệnh cho một cộng
đồng. Tác giả nêu ra một số trường hợp đó là chẩn đoán ung thư vú, chẩn đoán ung
thư tiền liệt tuyến, chẩn đoán HIV/AIDS. Vốn dĩ từ khi ngành dịch tễ học lâm
sàng (từ đang được dùng hiện hành ở Việt Nam để chỉ ngành clinical epidemiology)
được phát triển và áp dụng rộng răi, tử khi trào lưu được chuyển hướng từ y học
chữa trị cá thể sang xu hướng y học dự pḥng th́ các khái niệm, công cụ dùng để
chẩn đoán hàng loạt đó cũng phát triển ồ ạt. Phải nói rằng là bất cứ một ngành
chuyên khoa riêng biệt nào cũng có đầy dẫy các nghiên cứu về các phương thức
dùng để sàng lọc và nhận dạng bệnh. Trên một nguyên tắc “thà bắt nhầm c̣n hơn bỏ
sót”, giới khoa học gia bằng mọi cách để làm thế nào với một hoặc một nhóm các
“công cụ chẩn đoán” có thể tóm bắt được nhiều đối tượng có thể để điều trị dự
pḥng nhiều nhất. Dựa trên nguyên tắc đó người ta đưa ra thuật ngữ độ nhạy
(sensitivity) và đặt chỉ tiêu là “muốn tóm bắt càng nhiều đối tượng khả nghi th́
công cụ chẩn đoán đó phải có độ nhạy càng cao”. Thế nhưng theo tác giả th́ vấn
đề đặt ra th́ đúng nhưng cách trả lời lại không nhằm vào câu hỏi!
Để minh hoạ điều này của tác giả, chúng tôi trích diễn
dịch lại theo ư tác giả đă tŕnh bày trong đoạn đầu ở trang 337, về khả năng
quang tuyến xác định ung thư vú dưới dạng biểu đồ.
Nh́n vào biểu đồ đó ta có thể hiểu nôm na độ nhạy
là nếu đưa 8 bệnh nhân ung thu vú đi chụp X-quang, th́ có 7/8
người (0.875 hay 88%)
trong số này, phim X-quang xác định đúng là có ung thư. Thế nhưng theo ư tác
giả, điều nghịch lư trong câu trả lời này là ở chỗ nếu đă biết là bị bệnh rồi
th́ cần ǵ phải làm xét nghiệm? Tính nguy hiểm của sự hiểu lầm này là sẽ có một
tỷ lệ lớn những người không ung thư mà bị chẩn đoán là ung thư, coi như đưa họ
vào một “bản án” tử h́nh không nên có (ở đây là 70/992=0.07
hay 7%); ngược lại cũng sẽ có một số bệnh nhân bị
bỏ sót khi không xác định là có bệnh, do Xquang bỏ sót (theo ví dụ này là 1/8
người, 12.5%). Về mặt vĩ mô th́ sự sai sót là cho phép, thế nhưng đứng về mặt
đạo đức và về phương diện cá nhân, một tính mạng là một tài sản vô giá.
Điều mà một người làm công tác chẩn đoán cũng như bệnh nhân muốn biết là với
khi một người bị nghi là ung thư (chưa biết có bị bệnh hay không) đi chụp
X-quang, phim X-quang xác định người này bị ung thư th́ khả năng cho
người đó đúng bị ung thư là bao nhiêu phần trăm. Theo tác giả câu trả lời là
7/(7+70)= 0.09 hay chỉ có 9 %! Con số này rất thấp và hầu như là không có giá
trị cao trong việc dùng để xác định bệnh.
Thế nhưng ngay trong cả giới chuyên ngành, nếu được hỏi
nếu chụp X-quang xác định là dương tính th́ khả năng bị ung thư sẽ được nhận câu
trả lời là 88%!
Ấy thế mà gần đây, giới chuyên môn tại Việt Nam lại đang
rầm rộ khuyến cáo phụ nữ nên nên tích cực tham gia chương tŕnh khám X-quang để
chẩn đoán sớm ung thư vú. Điều ǵ sẽ xảy ra cho ‘một nửa thể giới với món quà
thiên nhiên tuyệt tác’ này??
Hiểu được diễn dịch này, bạn đọc có thể dễ dàng tự suy
luận trong các vấn đề khác mà tác giả đề cập đến như xác định nhiễm HIV/AIDS,
ung thư tiền liệt tuyến, cholesterol và bệnh tim/tử vong, vấn đề về y học thực
chứng, tư vấn bệnh nhân.
Tuy rằng phát hiện của tác giả về vấn đề này không phải là
mới, v́ các ngành khoa học khác đă ứng dụng từ lâu; và lư thuyết này đă được
Linh mục Thomas Bayes đề xuất từ thế kỷ XVIII c̣n gọi là định lư Bayes. Thế nhưng
ít ra trong lĩnh vực mà tác giả đang nghiên cứu và trong giới nghiên cứu y khoa
Việt nam có lẽ tác giả là một trong những người mạnh dạn chất vấn và đi tiên
phong trong qui tŕnh cải tổ nghiên cứu khoa học.
Ngoài ra, tác giả c̣n đặt vấn đề bị hiểu nhầm do cố t́nh
hoặc do thiếu hụt kiến thức khi giới khoa học nói đến mối tương quan
(association, correlation) và quan hệ nhân quả. Vấn đề này được tác giả mổ xẻ
trong bài viết về cholesterol cũng như có đề cập đến trong bài viết tổng quan về
nghiên cứu y khoa (Những tiêu chí cần thiết để đánh giá bằng chứng y học, tr.
64-75). Tóm tắt lại ư của tác giả bằng một ví dụ cụ thể và nôm na như sau: Các
yếu tố nguy cơ là tang chứng, vật chứng của một vụ trộm do một tẻn trộm (căn
nguyên) để lại. Vấn đề là khi xác định có tang chứng th́ có khả nghi một mối
liên quan cao đến một tên trộm cụ thể nào đó, nhưng vấn đề cần phải xác định có
đích thực có phải của đúng tên trộm này hay không; chứ tang chứng vật chứng chưa
thể là điều kiện đủ để quy kết nguyên nhân là của kẻ trộm nhất định nào đó.
Muốn t́m đến một mối liên hệ nhân quả, người ta phải tiến
hành làm thực nghiệm trên con người sống, mà những thí nghiệm này nhiều khi
không bao giờ thực hiện được v́ lư do đạo đức. đặc biệt một khi đă nghi ngờ nó
có hại. Một thí dụ về thực nghiệm như chính Louis Paster đă chứng minh tác dụng
của vaccine dại khi tự cho ḿnh nhiễm virus dại. Hoặc Robert Koch đă chứng minh
là ḿnh đă t́m ra được vi trùng lao bằng cách tự cho ḿnh nhiễm Lao.
Trải suốt các bài viết, tác giả đă chỉ ra đầy dẫy những
sai lầm về kiến thức, về nhận định về suy luận về diễn dịch số liệu của giới
khoa học và giới thầy thuốc khi tiếp cận thông tin y học và xử lư thông tin;
trong khi đó th́ bệnh nhân lại không hề hay biết ǵ ḿnh lại là một “nạn nhân”
vô t́nh của một kết cục bất định trong nghiên cứu y học, nạn nhân của sự thiếu
hụt kiến thức một cách vô t́nh hay cố ư đó, và họ lắm khi trở thành một người
“đẽo cày giữa đường” v́ mỗi thầy thuốc một ư, mỗi một chuyên gia một phách.
Giải pháp của vấn đề mà tác giả đưa ra đó là trường phái Y
HỌC THỰC CHỨNG (Evidence Based Medicine, EBM), như tác giả đă tŕnh bày trong
bài viết (tr. 10-24) và một bài bổ sung (tr. 25-55). Vấn đề cốt lơi của trường
phái y học thực chứng này là thầy thuốc được đào tạo để trang bị kiến thức y
học, kiến thức y học là một khoa học cho nên nó luôn động và chứa những yếu tố
bất định. Qua thời gian người thầy thuốc có thể thu thập được kinh nghiệm, nhưng
đó vẫn là ư kiến chủ quan dù vẫn là quư giá. Kinh nghiệm đó có thể là tiền đề
cho một chiều hướng mới trong thuật chữa trị tuy nhiên nó cần được lượng hoá và
khách quan hoá. Do đó ngoài kinh nghiệm bản thân, người thầy thuốc cần phải luôn
cập nhật bằng chứng khoa học trong chuyên ngành của ḿnh. V́ bệnh tật trong một
cuộc sống đa tương tác và đa nhân tố, cho nên khó có thể mà có một nguyên
nhân-một phương thuốc đặc trị như các bệnh nhiễm trùng trước đây. Ngay cả bệnh
nhiễm trùng đơn thuần như cúm, người ta đă biết nó hàng mấy thế kỷ, thế mà y học
hiện đại vẫn cứ phải bó tay. Cho nên các phương thức điều trị ngày nay nó không
c̣n bị bó buộc theo một quy tắc cứng nhắc nào, và cũng thay đổi theo từng quan
điểm của nhóm điều trị, người điều trị. Điều đó đă đặt bệnh nhân vào một vị thế
khó khăn là họ không được có một phương pháp điều trị tối ưu theo sự thoả thuận
mà hoàn toàn phó mặc vào quan điểm của thầy thuốc. Cho nên Y học Thực chứng ra
đời cũng nhằm thay đổi mối quan hệ đó. Như tác giả đă tŕnh bày, người bệnh nhân
cần phải được thông báo thông tin bệnh trạng từ thầy thuốc. Họ phải ư thức được
những diễn tiến nào đang xảy ra, thầy thuốc đang nghĩ ǵ và t́m giải pháp nào.
Nếu có nhiều giải pháp điều trị th́ họ cần đợc hiểu rơ để tự lựa chọn cho ḿnh
một phương án thích hợp nhất, “bởi v́ nếu bác sĩ và bệnh nhân không hiểu thông
tin về chẩn đoán, không có được những dữ kiện thật th́ lí tưởng thoả thuận giữa
họ chỉ là một sự thoả thuận mù quáng, chứ không phải thoả thuận sáng suốt” (tr.
52). Và cũng theo tác giả “vấn đề là không phải t́m cách để tránh rủi ro (mà
không thể nào tránh khỏi), nhưng phải học cách sống với hiểm nguy một cách sáng
suốt” (tr. 100).
Phải công minh mà nói đây thực là một công tŕnh tâm huyết
của tác giả. Với kiến thức nghiên cứu y khoa của ḿnh, tác giả đă mạnh dạn vươn
đến những chuyên ngành khác, tuy nhiên nó không nằm ngoài phổ kiến thức của tác
giả là dịch tễ học lâm sàng. V́ vấn đề này gần như là c̣n mới mẻ trong cộng đồng
người Việt của chúng ta, cho nên nó không chỉ khó tiếp thu đối với đối tượng phổ
thông mà cũng không dễ dàng ǵ cho giới chuyên môn. Chính v́ thế mà chúng tôi
nghĩ, tác phẩm sẽ có giới hạn về mặt số lượng độc giả. Để bù lại tác giả đă cố
gắng lặp lại vấn đề bằng cách minh hoạ cụ thể cho mỗi trường hợp, tất cả cũng
chỉ xoay quanh chủ đề giá trị chẩn đoán của các tiêu chí xác định bệnh trong
cộng đồng.
Tính dày công của tác phẩm c̣n thể hiện ở số lượng tài
liệu tham khảo. Hầu như mỗi bài viết đều có phần tài liệu tham khảo, mỗi phần
trích dẫn đều có chỉ rơ dữ kiện đă được trích từ đâu- điều này vẫn c̣n chưa được
phổ biến ngay cả trong giới khoa bảng Việt Nam. Nhờ vậy, bạn đọc sẽ dễ dàng truy
t́m tài liệu gốc, và đặc biệt cho đồng nghiệp Việt Nam muốn nghiên cứu, muốn đối
chứng, có các tài liệu để tra cứu.
Nói như thế không phải tất cả các bài viết đă có trích dẫn
đầy đủ, ví dụ trong bài viết Loăng xương và Lăo hoá (tr. 161-186) có thể là v́
lĩnh vực nghiên cứu chính của tác giả, nên tác giả có một kiến thức tổng quan
khá vững vàng khi tŕnh bày vấn đề. V́ vậy mà bài viết chứa một lượng thông tin
khá dồi dào nhưng số lượng tài liệu tham khảo lại không tương xứng, có nhiều
thông tin được nêu trong bài nhưng không đưa nguồn trích dẫn. Và rải rác trong
một số bài viết cũng không có trích dẫn (tr. 272, ví dụ về lượng dioxin trong
máu trong một nghiên cứu).
Một điểm khác, như tác giả tự nhận là xa Việt Nam đă khá
lâu, nên tiếng Việt của tác giả đă có thể không c̣n lưu loát nữa. Nhưng phải nói
thật khó khăn lắm mới t́m ra được vài lỗi nhỏ như ‘dóc dáng’(tr. 163, đúng là
vóc dáng); c̣i cọc (tr. 226, đúng ra là c̣i xương); cục bưới (tr. 325, đúng là
cục bướu) hay lá lách bị ph́nh ra (tr. 245, đúng hơn là sưng lá lách), và những
câu văn không thuần Việt nhưng không đến nỗi trúc trắc, khó hiểu.
Về cấu trúc tŕnh bày nội dung, chúng tôi thiết nghĩ để có
tŕnh tự kết dính và logic hơn, các bài tổng quan về kiến thức nên đưa lên trên;
như hai bài Thống kê trong Y khoa, và Chẩn đoán và vấn đề thông tin xác suất nên
đưa lên đầu; sau đó là các loạt bài minh hoạ; các bài về Y học Thực chứng, mối
quan hệ bệnh nhân-thầy thuốc nên để xuống sau cùng.
Một số vấn đề rải rác trong một số bài chưa được minh hoạ
rơ ràng, như đă nêu ở trên, trong bài Ung thư vú, tác giả có ghi xem biểu đồ
(tr. 337) nhưng lại không thấy biểu đồ ở đâu.
Trong phần diễn giải ở trang 346 về nguy cơ ung thư vú. : “có 4 phụ nữ bị
ung thư và độ tuổi 30 và 13 người bị bệnh vào độ tuổi 40…đến 85 tuổi tổng số
người bị ung thư vú là 99 trường hợp…” Chúng tôi nghĩ ở bảng 1 trang 347 nên gộp
các nhóm tuổi lại thành đơn vị 10: dưới 20, độ tuổi 20, độ tuổi 30 v.v…th́ sẽ dễ
h́nh dung hơn, v́ không phải độc giả nào cũng có khiếu đọc và diễn dịch con số.
Cuối cùng cũng là phần cuối của cuốn sách, chúng tôi mong
đợi một phần kết luận của tác giả sau khi đă dẫn dắt độc giả qua một “mê lộ khoa
học”, chắc hẳn tác giả cũng muốn độc giả phải lưu lại trong đầu một vài nội dung
cốt yếu và một vài lời khuyên thiết thực bằng kinh nghiệm nghiên cứu y khoa thâm
niên của tác giả. Nhưng chúng tôi hơi thất vọng là đă không t́m thấy. Điều này
không phải là thiếu sót nghiêm trọng nhưng nếu có th́ cuốn sách sẽ được hoàn hảo
hơn, và bạn đọc cũng sẽ đỡ tốn công hơn khi muốn tóm lược lại những điều ḿnh đă
đọc qua.
Tuy thế những thiếu sót nhỏ đó không làm giảm đi giá trị
của cuốn sách, “Hai mặt sáng-tối của y học hiện đại” của tác giả Nguyễn Văn Tuấn
là một điểm son nữa của tác giả đóng góp vào lĩnh vực nghiên cứu Y học của Việt
Nam. Dù sách được ấn hành dưới dạng phổ thông, nhưng nó rất có ích cho các đồng
nghiệp y khoa, những người làm công tác nghiên cứu, sinh viên y khoa cần phải
suy ngẫm, động năo và có thể đây là một khơi ng̣i cho một tranh luận sôi nổi
trên các diễn đàn y khoa trong nước khi đọc cuốn sách. Một cuốn sách không thể
bỏ qua cho những ai có quan tâm và nhiệt tâm đối với sự phát triển của y học
hiện đại, đối với những vần đề c̣n nhiều nghi vấn trong những thực hành y khoa
hiện đang áp dụng.
Cuối 11/2004
|