|
Vài đề nghị
nâng cao chất lượng giáo dục đại học
Làm ǵ
để nâng cao chất lượng đại học ở nước ta? Đó là câu hỏi chiếm th́ giờ của nhiều
người quan tâm đến vấn đề giáo dục đại học trong nước. Tranh luận cũng nhiều,
nhưng h́nh như những tranh luận chỉ xoay quanh những vấn đề chung chung, ít đi
vào các biện pháp cụ thể. Ở đây, khi Quốc hội đang họp thường niên, tôi muốn
đóng góp một số ư kiến về các biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng giáo dục.
Thực trạng: tỷ lệ đào tạo
sinh viên đạt chuẩn quốc tế c̣n ít
Trước
khi đưa ra những đề nghị, tôi muốn nhắc lại một số sự thật. Sự tụt hậu về kiến
thức của sinh viên ta so với các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế c̣n khá lớn. Sinh
viên ra trường chưa đảm nhận được công việc mà đáng lẽ những người được đào tạo
như thế phải làm được, v́ thiếu ư thức chủ động trong làm việc, thiếu khả năng
ứng xử trong làm việc, thiếu năng khiếu về ngoại ngữ và quản lí, v.v... Một viên
chức người Việt Nam thuộc Chương tŕnh Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) nhận
xét: "Hệ thống GD-ĐT lâu nay của Việt Nam c̣n bất cập. Tỷ lệ người được đào
tạo ra đạt tiêu chuẩn quốc tế là rất ít. Mọi việc cứ diễn ra một cách b́nh
thường. Chỉ khi nào những tiêu chuẩn quốc tế được ‘soi’ vào, chúng ta mới giật
ḿnh. Thực tế là khi soi vào tiêu chuẩn của UNDP, hàng loạt cán bộ chuyên viên
của Việt Nam đă không đáp ứng được điều kiện cần và đủ." Theo thống kê của
Bộ GDĐT, hàng năm có khoảng 20.000 sinh viên tốt nghiệp ĐHCĐ; trong số này, chỉ
có 50% sinh viên kiếm được việc làm sau khi tốt nghiệp; và trong số t́m được
việc, chỉ có 30% t́m được việc đúng ngành nghề. Ngay cả những sinh viên đă t́m
được việc làm, họ đều phải được huấn luyện lại, nhất là ở các công ty nước
ngoài. Theo nghiên cứu của bà Maureen Chao thuộc Trường Đại học Seattle (Mỹ),
trong nhiều công ty liên doanh với Việt Nam, hầu hết sinh viên Việt Nam đều phải
được đào tạo lại cả về chuyên môn lẫn kỹ năng giao tiếp!
Chúng
ta, do đó, phải nh́n nhận rằng sinh viên tốt nghiệp từ các đại học trong nước,
dù có người rất xuất sắc, nhưng khi va chạm với môi trường đại học quốc tế họ
c̣n rất lúng túng và có khi thiếu tự tin. Vấn đề này có thể hiểu được, bởi v́
giáo dục đại học nước ta chưa rèn luyện người sinh viên phải có tư duy tự tin,
sáng tạo, phải luôn luôn tự ḿnh t́m ṭi học hỏi, phải biết áp dụng tinh thần
khách quan khoa học vào đời sống, phải biết hợp tác làm việc chung với người
khác ư ḿnh, phải có óc tổ chức và thực tế, v.v… Ngược lại, những đặc
tính mà tôi hay thấy trong sinh viên nước ta là thường hay đi theo đường ṃn
sách vở một cách máy móc; thiếu tính độc lập trong suy nghĩ; thiếu tính năng nổ,
xông xáo lao vào vấn đề; thiếu khả năng tự t́m ṭi; và hay sợ thầy cô một cách
quá đáng, không dám chất vấn thầy cô ... Tôi cho đó là những khía cạnh
yếu của sinh viên chúng ta, và những khía cạnh yếu này không hẳn là do lỗi của
họ, mà là do hệ thống giáo dục chưa khuyến khích hay tạo điều kiện cho họ khắc
phục những yếu kém đó.
Những đề nghị cụ thể
V́ thế, nói đến việc nâng
cao chất lượng giáo dục là nói đến mục tiêu đào tạo con người, tức là sinh viên
và đội ngũ giảng dạy.
Một khi chúng ta đă có những sinh viên tốt, và đội ngũ giảng dạy và làm nghiên
cứu giỏi, th́ giáo dục đại học của ta mới có thể sánh vai cùng các nước trong
vùng và trên thế giới. Do vậy, theo thiển ư tôi, mục tiêu thực tế và hiện tại
của chúng ta là đào tạo một đội ngũ chuyên viên khoa học lành nghề, bén nhạy
trong việc giải quyết vấn đề, và nhất là có khả năng hội nhập vào trường khoa
học quốc tế. Để làm việc này, tôi có những đề nghị sau:
Thứ nhất, nên thành lập ủy
ban nghiên cứu và giám định chất lượng giáo dục.
Tôi vẫn nghĩ sự buông lỏng trong kiểm tra chất lượng là một lư do lớn dẫn tới
t́nh trạng chất lượng đào tạo kém. Cố nhiên, mỗi đại học cũng phải có trách
nhiệm về chất lượng đào tạo, nhưng dường như có một số trường chưa nhận trách
nhiệm này một cách nghiêm túc. Để t́m hiểu nguyên nhân và từ đó nâng cao chất
lượng đào tạo cho tương đương với các tiêu chuẩn quốc tế, ngay bây giờ, cần có
một ủy ban có nhiệm vụ chính là nghiên cứu phương pháp giảng dạy, đề ra tiêu
chuẩn đồng nhất về đào tạo (kể cả sách giáo khoa) và thẩm tra chất lượng đào tạo
cho tất cả các trường đại học và cơ sở đào tạo cấp ĐH hay sau ĐH. Ủy ban này nên
độc lập với Bộ GDĐT, nhưng phải có đại diện của Bộ, của các trường đại học, của
chính quyền địa phương, các nhà doanh nhân, cơ sở nghiên cứu, và các nhà khoa
bảng ở nước ngoài. Ở Nam Phi trong các thập niên 70 và 80 của thế kỷ trước, ủy
ban kiểm tra chất lượng đào tạo ĐH này đă rất thành công trong việc nâng cao
chất lượng sinh viên của họ.
Thứ hai, đẩy mạnh đào tạo và
nâng cao đội ngũ giảng dạy.
Vấn đề đào tạo đội ngũ giảng dạy trong các trường ĐH chiếm một vị thế cực ḱ
quan trọng trong việc nuôi dưỡng nhân tài. Trong khi các trường ĐH ta đang thiếu
thốn giảng viên một cách nghiêm trọng, số lượng được đào tạo trong nước chẳng là
bao. Theo như một thống kê gần đây, trong ṿng 30 năm qua, kể từ khi có quyết
định chương tŕnh đào tạo hậu ĐH trong nước, trung b́nh mỗi năm cả nước chỉ đào
tạo trên dưới 650 thạc sĩ và tiến sĩ, một con số c̣n khiêm tốn, có khi c̣n thấp
hơn con số của một trường lớn ở các nước phương Tây. Rơ ràng, một số lớn này
phải được đào tạo từ nước ngoài. Do đó, Việt Nam cần mạnh dạn gửi học sinh và
giảng viên ra nước ngoài học hậu ĐH nhiều hơn nữa. Nhưng đơn thuần gửi sinh viên
ra ngoài học là một phương án tương đối đắt giá. Tôi nghĩ một phương án khác đỡ
tốn kém hơn là qua đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu với các ĐH nước ngoài, để qua đó
tạo điều kiện cho cộng tác viên phiá VN có cơ hội làm luận án và đào tạo được
thêm chuyên viên nghiên cứu và giảng viên cho VN với kinh phí vừa phải.
Thứ ba, đặt chất lượng
nghiên cứu khoa học thành một tiêu chuẩn số một trong việc tuyển chọn và đề bạt
các chức vụ khoa bảng.
Các hàm như "giáo sư" không
nên được xem là một danh hiệu vinh quang hay huân chương khoa bảng, mà chỉ là
những chức vụ khoa bảng, dùng để ghi nhận sự cống hiến, và ở một khía cạnh nào
đó, tŕnh độ chuyên môn, của người được đề bạt. Một sự thật mà những ai hoạt
động trong khoa học đều phải công nhận là sự hiện diện của các nhà khoa học ở
trong nước trên trường quốc tế c̣n quá khiêm tốn. Để nâng cao chất lượng người
được đề bạt và khuyến khích nghiên cứu khoa học, tôi đề nghị tiêu chuẩn được đề
bạt không nên được căn cứ hay đặt nặng vào số lượng bài báo công bố, mà nên đặt
nặng vào chất lượng của những bài báo đó. Ở Mỹ, có nhiều giáo sư thực thụ chỉ có
30 hay 40 bài báo (tất nhiên là có chất lượng, được đồng nghiệp trên thế giới
công nhận), không cần đến con số 100 như các nước khác. Ở các nước phương Tây
ngày nay, chất lượng các bài báo đă được công bố trên các tạp chí khoa học quốc
tế, thường được xem là những thước đo chuẩn về khả năng làm khoa học của người
giữ các chức vụ khoa bảng trong ĐH hay các viện nghiên cứu. Một người mang hàm
"giáo sư" mà "vô danh" trên trường quốc tế trong lĩnh vực hoạt động của ḿnh là
một điều không thể chấp nhận được.
Thứ tư, mở rộng truy nhập
mạng internet.
Thế giới ngày nay đang ở trong một thời kỳ cách mạng vĩ đại về thông tin, mà
trong đó internet là một công cụ cực kỳ quan trọng. Công nghệ thông tin
(information technology) được công nhận là một bộ phận không thể thiếu được
trong giáo dục. Internet không những là một kho tàng thông tin, một thư viện
bách khoa vĩ đại của nhân loại, mà c̣n là một trường đại học của cộng đồng trên
thế giới. Mạng internet đă và đang làm thay đổi hầu như trong mọi vận hành, kể
cả cách thức giảng dạy và nghiên cứu, trong tất cả các trường đại học ở phương
Tây. Internet, điện thư (e-mail), và hội đàm viễn liên (teleconference) đang
nhanh chóng thay đổi lề lối làm việc và nghiên cứu của các đại học phương Tây.
Ngày nay, ở các nước như Mỹ và Âu châu, nếu không có hệ thống internet chắc có
lẽ trường ĐH sẽ ngưng hoạt động! Tôi đă từng hướng dẫn thành công vài du học
sinh chỉ qua điện thư! Trong khi đó, số lượng học sinh, sinh viên và các nhà
khoa học ở trong nước có điều kiện truy nhập vào mạng Internet c̣n quá ít. Do
đó, giúp đỡ và tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu, sinh viên, học sinh tham
gia vào cuộc cách mạng về công nghệ thông tin này cần phải được đưa lên một
trong những quốc sách hàng đầu trong nền giáo dục. Tôi đề nghị Nhà nước nên dành
một ngân khoản xứng đáng cho tất cả các trường ĐH được nối vào một mạng chung.
Trong khi việc nâng cấp các thư viện là một mục tiêu lâu dài, Nhà nước cần dành
ra một ngân khoản giúp đỡ giảng viên và sinh viên ở các trường ĐH hay viện
nghiên cứu được truy nhập mạng internet miễn phí hay với chi phí tối thiểu, để
cho họ có được những thông tin khoa học mới nhất hay có cơ hội trao đổi ư kiến
với đồng nghiệp trên thế giới.
ĐH là
nơi tập trung những thành phần trí thức ưu tú, và là cái nôi phát triển và nuôi
dưỡng nhân tài. Nhưng điều đáng buồn ở Việt Nam ngày nay là ĐH không có sức thu
hút nhân tài, v́ t́nh trạng lương bổng quá nghèo nàn, không đủ nuôi sống những
nhà khoa học có tài thực sự. V́ thế, cần phải ổn định một số nhỏ nhà nghiên cứu
làm nghiên cứu cơ bản qua tăng lương một cách xứng đáng cho họ có thể sinh sống
trong một nền kinh tế thị trường. Một nhà khoa học không thể nào nghiên cứu
trong khi cái tâm cứ nơm nớp lo nghĩ đến miếng ăn hàng ngày. Cần phải có chính
sách cụ thể khuyến khích các nhà khoa bảng làm nghiên cứu ứng dụng và qua đó
tăng khả năng thu nhập riêng cho họ và cho trường ĐH. Cần phải khuyến khích
(bằng các phần thưởng xứng đáng về vật chất và danh dự cho các) sinh viên tham
gia thành công vào nghiên cứu khoa học.
Thứ năm, tranh thủ hợp tác
và hỗ trợ của các nhà khoa học gốc Việt đang làm ở nước ngoài.
Hiện nay, số lượng người Việt đang định cư hay làm việc ở nước ngoài đă lên đến
con số hai triệu; trong số này, có ít nhất là 10% có tŕnh độ ĐH trở lên. Trong
hầu như tất cả các nghành khoa học và trong nhiều đại học trên thế giới, đều có
sự hiện diện của người Việt; trong số này, có nhiều người giữ chức vụ khoa bảng
quan trọng, có khả năng khoa học kỹ thuật cao, có kinh nghiệm lâu năm trong
nghiên cứu khoa học, có uy tín lớn với các cơ quan cung cấp tài chính cho nghiên
cứu, và quan trọng hơn nữa, là họ có tâm huyết với nền giáo dục trong nước. Thế
nhưng cho tới nay, mặc dù có sự cộng tác cá nhân giữa vài nhà khoa học ở ngoài
và các trường, viện nghiên cứu trong nước, việc huy động và sử dụng nguồn nhân
lực khoa học này vẫn chưa được tiến hành một cách có hệ thống. Tôi đề nghị Bộ
Giáo Dục và Đào Tạo nên xúc tiến một ngân hàng dữ liệu về các nhà khoa học gốc
Việt đang làm việc ở nước ngoài trong các lĩnh vực khoa học. Và từ đó, nhà nước
nên có chính sách cụ thể và tích cực nhằm tạo điều kiện cho các nhà khoa học gốc
Việt ở nước ngoài có cơ hội giảng dạy, tham gia vào việc thẩm định các luận án
sau đại học, và nghiên cứu ở trong nước.
Thứ sáu, nên mở ra những
chương tŕnh “visiting fellowship”, tức là chương tŕnh thỉnh giảng.
Tại các ĐH và trung
tâm nghiên cứu Tây phương, người ta đều có những chương tŕnh “visiting
fellowship” mà trong đó các giáo sư và nhà nghiên cứu nước ngoài đến giảng dạy
hay nghiên cứu trong một thời gian 3 hay 6 tháng. Đây là một h́nh thức “mở cửa”
để trao đổi kinh nghiệm, để t́m cơ hội hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài,
và qua đó tranh thủ sự tài trợ của họ.
Ở nước
ta, năm 2020 thường được đề cập đến như một cái mốc thời điểm để hoàn thành công
cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Thời gian 20 năm không phải là
dài, nếu không muốn nói là quá ngắn, cho một mục tiêu đầy thử thách và tham vọng
này. Những ai quan tâm tới nền giáo dục trong nước đều nhận ra rằng việc cải
cách nền giáo dục là cần thiết, nhưng dường như ít người nhận ra sự khẩn trương
của cải cách. Nếu ta vẫn chưa thoát ra khỏi lối suy nghĩ ao tù, nơi mà thế giới
không bao giờ thay đổi, hay kiểu không làm được hôm nay th́ có thể làm ngày mai,
th́ ta lại càng bị tụt hậu và thua kém các nước khác trong vùng. Vấn đề cải cách
giáo dục và chất lượng giáo dục cần phải được giải quyết ngay từ bây giờ, không
thể dần dà để 5 hay 10 năm nữa, nếu ta không muốn bị thế hệ sau phê phán là đă
thụ động.
Nguyễn Văn Tuấn
Trích:
http://www.nld.com.vn/tintuc/giao-duc/105321.asp
|
|