WWW CHUYỂN LUÂN

 

Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm Mậu Tư-2008 Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

Trang chủ || Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
 

Góp nhặt cát đá

 

Tác giả

  Video clips
  Online số cũ từ 2003
  Các số báo trước 2003
   

 

Nối Kết:

      

   
  Tác phẩm chọn lọc
  Thầy Nhất Hạnh
   

CHUYỂN LUÂN SỐ THÁNG 12/2004

BỨC TƯỜNG PHỐ THỊ  và LỜI TH̀ THẦM của GORBACHEV

Anthony Darlic

 

Sydney 9/11/2004 – Hôm nay là ngày kỷ niệm 15 năm bức tường Berlin bị triệt hạ. Đổ nhào theo bức tường đó là khối đế quốc Nga Xô ở Đông Âu, kết thúc Chiến Tranh Lạnh kéo dài trên ba mươi năm với những hệ lụy bi thảm cho những nước nhỏ, những chư hầu, những con ruồi giữa hai con trâu đang hăm he húc nhau. 

 

Bài Học Qua Phân

Hơn ai hết, Cao Ly Việt Nam Campuchia Lào là những dân tộc phải rút tỉa kinh nghiệm về bài học lịch sử này.  Nhất là trong t́nh h́nh hôm nay với một cuộc chiến tranh lạnh mới đang manh nha, không phải nhân danh chính trị hay ư thức hệ giữa Cộng Sản với Tư Bản, mà là nhân danh tôn giáo giữa Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. 

Ngày 8/5/1945, Đức Quốc Xă đầu hàng và bị phân chia thành bốn vùng do Nga Anh Pháp và Mỹ chiếm đóng.  Ba phần của Anh Mỹ Pháp họp lại thành Cộng Ḥa Lên Bang Đức [Tây Đức] do một bộ tư lệnh hỗn hợp quản trị.  Phần của Nga Xô kiểm soát là Cộng Ḥa Dân Chủ Đức [Đông Đức].  Thủ đô Berlin do Hồng quân Nga chiếm được sau nhiều trận tấn kích đẩm máu nhưng vẫn được chia đều 4 phần như nước Đức.  Phần của Nga là Đông Berlin.  Gần hai tháng sau ngưng bắn, Anh và Mỹ mới vào nhận lănh phần ḿnh, Pháp th́ thêm năm tuần sau nữa mới đến.  Ba phần lănh thổ Berlin của Anh Mỹ Pháp họp thành Tây Berlin.  Tây Berlin nằm sâu trong nội địa Đông Đức và chỉ giao thông với Tây Đức bằng ba hành lang hàng không và ba đường bộ như Anh Mỹ và Nga Xô đă thỏa thuận trong các hội nghị Yalta và Potsdam giữa trước đó. Điều hành Berlin là một ủy ban liên kiểm gồm chỉ huy trưởng của bốn phe.  

Chiến Tranh Lạnh Ấm Dần

Nhưng t́nh h́nh ngày một căng thẳng.  Chiến Tranh Lạnh thực sự thành h́nh khiến Mỹ và Nga, hai đồng minh khắn khít trong trận tuyến chống Đức-Ư dần dần trở thành kẻ thù. Thế chiến thứ hai chấm dứt là cơ hội cho những nước nhược tiễu bị trị vùng lên.  Chủ trương giải thực của Tổng Thống F.D. Roosevelt có thể biến Mỹ thành kẻ bảo trợ cho cao trào giải phóng dân tộc này. Nhưng Roosevelt tạ thế bất đắc kỳ, nhường bàn cờ quốc tế đang vừa xóa đi bày lại mới mấy năm cho ông phó H. Truman.  Chính sách đối ngoại của Roosevelt bị đảo ngược 180 độ.  Cuộc chiến chống Trục độc tài phát-xít Đức Ư Nhật dần dần trở thành cuộc chiến ngăn chận làn sóng Đỏ Tam Vô mà Nga Xô bị coi là đầu sỏ.  Nhưng Nga không phản ứng mạnh.  Một phần v́ Nga Xô chưa gượng dậy nổi sau những tàn phá của Đức trong thế chiến thứ hai và lại chưa có bom nguyên tử như Mỹ nữa.  Cũng v́ vậy Nga đành chịu đựng cho Mỹ đi ngược lại những thỏa thuận trong các hội nghị Potsdam và Yalta về tương lai Âu châu để tái thống nhất nước Đức, nhắm mắt cho Mỹ tiếp tục chia cắt nước Đức và tái vũ trang Tây Đức, biến Tây Đức thành pháo đài chính ngăn chận ảnh hưởng Nga vào Âu châu.  Chịu đựng cũng có hạn nhất là khi Nga Xô thấy phe ḿnh cũng không đến nổi nào.  Thật vậy, ở Trung Hoa, đồng minh của Mỹ là Tưởng Giới Thạch đang trên đà chiến bại và đồng minh ư thức hệ của Nga Xô là Mao Trạch Đông đang trên đà chiến thắng.  Ở Việt Nam, Mỹ yễm trợ Pháp tái lập chế độ thuộc địa.  Nhưng Pháp đă thất bại trong việc ngăn cho cuộc đối kháng của người Việt phát khởi. Súng đă nổ.  

Tây Berlin, Nơi Đọ Sức

Ở Đức, Nga Xô đă phả ứng.  Ngày 16/6/1948, Nga tẩy chay ủy ban liên kiểm Berlin.  Bốn ngày sau, đồng minh đổi tiền đưa ra một đồng bạc mới cho Tây Đức gọi là DM.  Nga cũng ra lệnh đổi tiền ở Đông Đức.  Bốn ngày sau, ngày 24/6/1948, Nga tiến thêm bước nữa phong tỏa các con đường bộ nối liền Tây Bá Linh với Tây Đức.  Trong gần một năm trời, người dân Tây Berlin phải chịu đựng cảnh thiếu ăn, thiếu điện, thiếu than củi.  Đồng minh đă phải thiết lập cầu không vận ồ ạt khổng lồ để giải cứu.  Nước Đức thực sự bị chia cắt.  Berlin thực sự bị chia cắt.  

Theo thỏa thuận, quân đội Nga đồn trú ở Đông Berlin cũng như quân đồng minh ở Tây Berlin có quyền di chuyển tuần hành khắp Berlin.  Người dân Berlin cũng tự do qua lại hai khu.  Đường bộ, đường điện thoại và đường tàu điện giữa Đông Tây vẫn được duy tŕ.  

V́ nhu cầu tuyên truyền chính trị, Tây Berlin dần dần trở thành một ốc đảo huy hoàng rực rỡ. Ngân sách của Tây Berlin chiến hết 1/10 toàn bộ ngân sách Tây Đức.  Tây Berlin được hưởng nhiều đặc quyền, kể cả quyền miễn dịch cho nên Tây Berlin đă trở thành thiên đàng của những kẻ trốn quân dịch.  Tây Berlin cũng là thiên đàng của dân bụi đời lêu bêu được trợ cấp cơm ăn áo mặc nhà ở để ăn rồi đi phá làng phá xóm.  T́nh trạng thác loạn này thể hiện rơ qua những khẩu hiệu, những ḍng chữ, những tranh vẽ quái dị điên cuồng tràn ngập trên vách tường Berlin phía Tây, đă hẳn.   

Tây Berlin là một quầy hàng chưng bày những cái hay cái đẹp cái hấp dẫn của Tây phương tư bản tự do ngay giữa ḷng thế giới cộng sản khắc khổ khép kín, kích động người dân Đông Âu và thu hút người dân Đông Đức.  Ngày 17/6/1953, dân Đông Đức nổi dậy đ̣i tự do cơm áo và bị đàn áp bằng sắt máu.  Hậu quả là đă có khoảng từ 2.6 đến 3 triệu người Đông Đức ... bỏ phiếu bằng chân, trong khi tổng số dân Đông Đức chỉ có 17 triệu.  Đông Đức thật sự bị xuất huyết v́ bỏ trốn sang Tây Đức thường là những người có học, có tay nghề và c̣n sức lao động.  Với Nga Xô và chính quyền Đông Đức, Tây Berlin là cái nhằm trong mắt, cái gai dưới chỗ ngồi của họ.  Tháng 11/1958, Khrouchtchev hăm he đ̣i đồng minh rút quân khỏi Tây Berlin và biến Berlin thành một đô thị phi quân sự.  Nếu đồng minh không chịu th́ Nga Xô sẽ đơn phương tính chuyện ấy với Đông Đức.  Đồng minh đă làm lơ trước tối hậu thư ấy.  Dĩ nhiên là Nga Xô phải tính cách khác.  Bức tường.  

Cho đến bây giờ, không ai nói được bức tường Berlin đă được dựng lên lúc nào và ai quyết định, Khrushchev hay Chủ Tịch Đông Đức Walter Ulbricht?  Ngày 15/6/1961, khi tiếp xúc với kư giả ngoại quốc, Ulbricht nói như đinh đóng cột: Có ai nghĩ đến chuyện bức tường ǵ đâu.  Thợ hồ trong thủ đô chúng tôi đang lo xây nhà cho dân ở, bao nhiêu tay nghề đều dồn vào đó cả… Thế đó nhưng chưa đầy hai tháng sau, rạng ngày 15/8/1961, lực lượng an ninh Đông Berlin đă bất thần phong tỏa tất cả lối qua lại giữa hai vùng.  Bức Tường Ô Nhục đă h́nh thành.

 

Kỳ Công Hắc Ám Điên Cuồng

Bức tường Berlin đúng là một kỳ công hắc ám mà con người có thể tưởng tượng ra.  Đây là một công tŕnh xi măng cốt sắt dài 165,7 kilomét gồm hai phần, 43km ngăn cách Đông và Tây Berlin và 112 km c̣n lại bao vây Tây Berlin với các vùng tiếp giáp Đông Đức.  Bức tường đó đă bít nghẽn ba xa lộ, 32 đường tàu và hàng chục ḍng sông.  Dọc theo bức tường về phía Đông là vùng tiêu thổ rộng đến 300 mét.  Tất cả nhà cửa lọt vào vùng đó  đều bị dật sập hoặc xây bít cửa ngơ. Sinh vật thảnh thơi đi lại trong vùng tiêu thổ đó là thỏ và chuột.  

Trong 167km chiều dài của bức tường th́ hết 106km là bằng những tấm mành bê tông cốt sắt cao 3,60m.  Phần c̣n lại là hàng rào kẽm gai.  Giữ an ninh dọc bức tường đó là 14.000 quân biên pḥng trong 295 trạm gát, 20 hầm chỉ huy, 136 hầm bê tông, chưa kể 212km hầm chống thiết giáp, 243km đường cho chó đi tuần, chưa kể 127 trạm c̣i báo động, và những ụ súng tự động không cần xạ thủ.  Dọc bức tường là những đèn rọi cách nhau 30m bật lên khi chiều tối, biến bức tường trở thành nơi sáng sũa huy hoàng nhất của cả Berlin.  Dọc bức tường là những vùng đất trống được rây cào cẩn thận để phát hiện dấu chân của quân gian.  

Bức tường Berlin là hiện thân của Bức Màn Sắt – iron curtain – là chữ mà Thủ Tướng Anh Winston Churchill đă dùng để chỉ lằn ranh giữa Tư Bản và Cộng Sản đă phát họa trong bài diễn văn tại Fulton, Missouri năm 1946.  Có thể nói đây cũng chính là diễn văn chính thức khai mạc Chiến Tranh Lạnh.  Bên này và bên kia bức màn sắt đó là những đau thương và thảm kịch.  Bên này và bên kia bức tường Berlin là những gia đ́nh ly tán, cha mẹ đứng xa xa bên này vẫy tay chào con bên kia, vợ đứng bên kia nâng con lên cho cha bên này nh́n thấy.  Và răi rác dọc bức tường là thân xác của những kẻ dám liều mạng một lần và măi măi.  Trong 28 năm bức tường tồn tại, đă có khoảng 270 người bỏ mạng, và 5000 người thành công bằng cách liều mạng thăng thiên độn thổ ngang bức tường oan nghiệt này sang Tây Berlin.  Bức tường ô nhục, nỗi ô nhục của người Đức với người Đức, người Âu châu đối với người Âu châu, và của người đối với người nhân danh lư tưởng chính trị.

 

Bức Tường Rạn Nứt

Mục tiêu chính của bức tường là biến Tây Berlin rộng đến 432km vuông chứa 2 triệu dân trong đó thành một nhà tù kiên cố.  Dân chúng Đông Đức và riêng Đông Berlin chỉ được đi qua những xứ Đông Âu, đặc biệt là Czechoslovakia và Poland, có khi để gặp lai thân nhân đă chia ĺa.  Loài người và riêng Nga Mỹ dần dần cũng thấy được nỗi điên cuồng của chiến tranh lạnh.

Kennedy của Mỹ và Khrushchev của Nga rồi ra cũng thấy được chuyện đó nữa.  Nhất là khi cả hai đă hú hồn hú vía thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng nguyên tử ở Caba hăm dọa đưa cả nhân loại đến bời diệt vong.  Ngày 27/6/1963, Kennedy bất thần đến thăm Tây Berlin với sự tháp tùng của Thị Trưởng Willy Brandt, lănh tụ Đảng Xă Hội, Thủ Tướng tương lai của Tây Đức và khôi nguyên giải Nobel ḥa b́nh năm 1971.  Trong dịp này, Kennedy đă thốt lên một câu bất hủ bằng tiếng Đức: Ich bin ein Berliner. [Tôi là một người Berlin.] Đó không phải là một phát súng lệnh chiến tranh mà là một lời kêu gọi ḥa b́nh.  Hai tháng sau, ngày 5/8/1963, hai bên Nga Mỹ kư thỏa ước ngưng thi đua vũ khí nguyên tử.   

T́nh h́nh căng thăng của bức tường Berlin cũng theo đó mà đổi thay.  Tháng 12/1963, hai bên thỏa thuận cấp thông hành cho người Tây Berlin sang Đông Berlin.  Tháng 9/1964, những người Đông Berlin hết tuổi lao động được quyền sang Tây Berlin cho người ta nuôi báo cô!  Tháng 11/1969, Mỹ Nga kư thỏa ước giới hạn vũ khí chiến lược.  Ở Tây Đức, Willy Brandt lên làm Thủ Tướng không c̣n CCCB như người tiền nhiệm là Konrad Adenauer.  Ở Đông Đức, đệ tử trung thành của Stalin là Walter Ulbricht cũng rút lui nhường chỗ cho Erich Honnecker.  Honnecker là tay chân của trùm KGB Yuri Andropov, kẻ mở đường cho Mikhail Gorbachev vào ghế lănh đạo Điện Kremlin để đẩy nhân loại vào trang sử mới sau này. 

Ngày 19/7/1970, cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Thủ Tướng Tây Đức Brandt và Thủ Tướng Đông Đức Willy Stoph.  Hai năm sau th́ các thỏa ước ḥa b́nh giữa Đông Tây Đức và Đông Tây Berlin được lần lược kư kết giữa hai chính quyền Đông Tây Đức và các đàn anh Nga Mỹ Anh Pháp về vấn đề thông thương.  T́nh trạng đó kéo dài cho đến ngày bức tường ô nhục sụp đổ hẳn 17 năm sau. Và hôm nay là ngày kỷ niệm. 

Lời Th́ Thầm Của Gorbachev

Chính sách Đổi Mới Nới Lỏng của Gorbachev dần dần lan sang Đông Âu.  Các chư hầu Đông Âu dần dần được phục hồi quyền tự quyết chứ không c̣n bị xe tăng nghiền nát như Đông Berlin năm 1953, Budapest năm 1956 và Praha năm 1968.  

Người Đông Đức lại c̣n thèm tự do hơn những người Đông Âu khác.  Lư do v́ một đàng nước Đức không nghèo lắm, dân Đông Đức có nhiều bà con thân nhân bạn bè ở Tây Đức giúp đỡ.  Hằng ngày người Đông Đức lại có thể dễ dàng nghe radio, bắt đài TV, đọc sách báo của Tây Đức…trong khi đó họ vẫn phải chịu đựng một chế độ chính trị hà khắc hơn những nơi khác như Poland, như Hungary.  Ḷng nôn nóng tự do của họ tăng lên là v́ vậy.  Trong khi phong trào đổi mới nới lỏng như một vết dầu loan lan sang Poland Hungary Romania Czechoslovakia th́ chính quyền Đông Đức vẫn trơ trơ.  Điều ấy càng thúc đẩy dân Đông Đức hăm hở t́m mọi cách vượt biên nhiều hơn.  Ngày 29/7/1989, Đại sứ Đông Đức tại Budapest bị một nhóm du khách Đông Đức nổi nóng hành hung.  Đổ dầu thêm vào lửa, Tây Đức lấy cớ là không kham nổi với những làn sóng người xin di dân đă đột ngột quyết định đóng cửa văn pḥng đại diện của ḿnh ở Đông Berlin và các Ṭa Đại Sứ ở Budapest và Praha. 

Rồi th́nh ĺnh ngày 10/9/1989, Hungary mở cửa biên giới cho người Đông Đức muốn quá cảnh để qua tỵ nạn bên Tây Đức.  Trong ba tuần đă có 25.000 người vượt qua ngă đó.   Ṭa Đại Sứ Đông Đức ở Praha, Warsaw cũng tràn ngập người tầm trú.  Ngày 30/9/89, Tổng trưởng Ngoại giao Tây Đức tuyên bố nhận 4000 người tầm trú đang dồn đống trong Ṭa Đại Sứ Đông Đức ở Praha.  Hai ngày sau, lại có thêm 7000 từ các Ṭa Đại Sứ Đông Đức ở Praha và Warsaw nối tiếp. Tầm trú trở thành một cơn sốt khắp Đông Âu.   

Tại Đông Đức cũng đă có những tín hiệu bất ổn chính trị.  Kể từ ngày 4/9/1989, giáo hội Tin Lành ở Leipzig bắt đầu tổ chức những buổi cầu nguyện ḥa b́nh vào chiều thứ Hai.  Mới đầu chỉ có một nhúm lèo tèo dè dặt, ba tuần sau số đó lên đến 8000 và đến tuần sau nữa th́ lên 25.000. 

Ngày 7/10/1989, Gorbachev đến Đông Berlin tham dự lễ kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Cộng Ḥa Dân Chủ Đức.  Một  một rừng người Đông Đức cuồng nhiệt hô to Gorbi! Gorbi! đón chào.  Cuộc biểu t́nh đă bị trấn áp khốc liệt gay trước mắt Gorbachev.  Dù vậy, thái độ lạnh lùng khó chịu của Gorbachev trước mặt Honecker đă khuyến khích phong trào chống đối tiếp diễn.  Theo những tài liệu vừa giải mật cho biết th́ hôm đó Gorbachev đă th́ thầm vào tai Chủ Tịch Công Đoàn Đông Đức: Đừng để mất th́ giờ nữa.  Thủ Tướng Tây Đức cũng đă được thông báo khẩu lệnh này.  Mười một ngày sau, ngày 18/10/1989, th́ Honecker bị hạ bệ.  Những thành phần tiến bộ thay thế Honecker cố gắng làm chủ t́nh h́nh nhưng đă muộn.  Ngày 4/11/1989, ngót một triệu người ở Đông Berlin và hàng trăm ngàn ở các thành phố khác đồng loạt xuống đường hô khẩu hiệu: Wir sind das Volk- Dân tộc là chúng tôi đây và Wir sind ein Volk - Chúng ta là một dân tộc. 

Năm ngày sau, bức tường ô nhục đă bị chọc thủng gần như v́ một câu nói t́nh cờ.  Thật vậy, đó là ngày 9/11/89.  Nhóm người kế vị Honecker tính rằng nếu giải tỏa biên giới Đông Tây th́ may ra có thể cứu văn được chế độ và chính họ.  Và phát ngôn viên của Bộ Chính Trị Gunter Schabowski họp báo tuyên bố lấp lững: Sau gần ba mươi năm tự cô lập, Đông Đức quyết định chấm dứt những hạn chế di chuyển sang Tây Đức .  Một kư giả ngứa miệng hỏi tới: Bao giờ th́ quyết định này có hiệu lực? Schabowski tần ngần rồi đáp: Ngay tức th́, không tŕ hoăn.  Lúc đó là 9 giờ rưỡi đêm 9/11/1989.  

Đúng là như một quả bom nổ.  Người ta lâng lâng như không c̣n tin vào tai ḿnh nữa, để rồi sau đó, tất cả đă ùa về chỗ bức tường nơi có trạm kiểm soát gần nhất trên đường Bernauer.   Người ta ôm hôn nhau, người ta khiêu vũ, người ta nhảy múa những nơi nào nhảy múa được, người ta vác cuốc xẻng búa tạ nện vào bức tường bể ra từng mảng trong tiếng hoan hô cổ động của đám đông và trước cái nh́n hoang mang tần ngần của những người lính biên pḥng trước đây chẳng bao lâu vẫn c̣n bị xem như hung thần khát máu sẵn sàng nổ súng như những người máy.  Những ‘công an nhân dân’ đó giờ đây đang sững sờ ngơ ngác nh́n cảnh tháo cũi sổ lồng.  Họ nh́n ngày tàn của một chế độ.  Họ nh́n biểu tượng của Chiến Tranh Lạnh tàn lụi dưới bước chân hoan lạc của những người dân Đông Berlin ôm nhau mừng vui tấp nập rủ rê nhau vượt bức tường ô nhục.  Chỉ trong ṿng vài giờ sau câu trả lời sấm động của một thành viên Bộ Chính Đông Đức, ngót 100 ngàn người vượt qua Tây Đức trước con mắt ngơ ngác của công an biên pḥng.   Cứ thế mà trong ba ngày con số đó đă lên đến hai triệu.  Mỗi người Đông Đức sang Tây Đức đều được chính quyền Tây Đức tặng 50DM ‘tiền chào mừng’ để dằn túi. 

Tổ quốc Đức lại trở về thành một mà không cần máu đổ thịt rơi thêm nữa như Cao Ly Việt Nam hay đảo Cyprus.  Lịch sử đang hiện thân thành ḍng nước mắt rưng rưng ngỡ ngàng của những người tưởng như đây chưa phải là sự thật.  Lịch sử đang hiện thân thành tiếng cười hoan lạc của những người chỉ thấy đâu cũng là màu hồng hạnh phúc và màu xanh hi vọng. 

 

Bức Tường Ngoài Phố, Bức Tường Trong Tim

Chính giới Tây phương cũng như riêng Đức thường ca tụng việc tái thống nhất Đông Tây của Đức là một chiến thắng của tự do và dân chủ, một thành công của dân Đông Đức lật đổ chính quyền con đẻ của Stalin mà không phải tốn một giọt máu - chữ của Gerhard Schroder đương kim Thủ Tướng Đức. Nhưng Helmut Kohn, Thủ Tướng Tây Đức hồi đó và được coi như kiến trúc sư của công tŕnh thống nhất Đông Tây th́ đă thú nhận rằng bốn mươi năm ngăn cách bởi lằn ranh Chiến Tranh Lạnh, mức độ chia rẻ Đông Tây Đức là điều sâu đậm hơn người ta tưởng.  

Ngày vui qua mau.  Vui mừng hân hoan trước thành công chính trị triệt hạ an toàn một chế độ hà khắc mà người ta  quên không nghĩ kỷ cái giá phải bỏ ra để căi tạo tư bản chủ nghĩa Đông Đức hay để …biến Đông Đức thành một vùng phồn vinh đầy hoa lá như chính Thủ Tướng Kohn đă hồ hỡi hứa hẹn.  Thật vậy, ‘tư bản’ Tây Đức ăn ngon mặc đẹp đă đảo lộn hệ thống lao động và an sinh của ‘cộng sản’ Đông Đức mà chủ yếu là đồng lương đủ để khỏi đói rách nhưng ai cũng có việc làm.  Hậu quả là từ ngày tái thống nhất, Đức đă bỏ ra 1.9 tỉ - phải, một-ngàn-chín-trăm-triệu-triệu ĐK! - cho mục đích phồn vinh hoa lá ấy nhưng đến hôm nay Đông Đức vẫn c̣n 17.5% thất nghiệp, nghĩa là gấp đôi Tây Đức.  Cho nên chẳng có ǵ ngạc nhiên ǵ khi nghe những lời ngậm ngùi:  Đă có thời chúng tôi ôm hôn nhau nước mắt lưng tṛng.  Giờ đây th́ chuyện đó không c̣n nữa, như Achim Mentzel, một nghệ sĩ gốc Đông Đức than.  Hay khi nghe một người khác như Mục sư Friedrich Schorlemmer nói huỵch toẹt: Cái quà tặng tự do tuyệt vời này có ích ǵ cho ai đây.  Tự do làm ǵ nếu thất nghiệp.   

Nói ǵ th́ nói, bây giờ người Đông Đức có muốn trở lại cái thời công tác túi áo, báo cáo túi quần th́ cũng không được nữa.  Quy luật của lịch sử là một chế độ đă qua là qua luôn. Quy luật lịch sử là vô chủ nghĩa – no ism, anti-isme.  Vô chủ nghĩa không có nghĩa là vô chính phủ, là cơ hội chủ nghĩa hay manh động. Vô chủ nghĩa là quan điểm và thái độ cho rằng chủ nghĩa chỉ là… cái mo cau, buồng cau muốn lớn th́ phải bung ra khỏi cái mo cau, hất cái mo cau xuống đất.  Nếu không vậy th́ nơi phố thị Bức Tường Berlin sập rồi nhưng vẫn c̣n bức tường trong óc.  Bức tường của rising expectations - trâu cột ghét trâu ăn, của homo homini lupus - sống chết mặc bây.  Bức tường đó không xây bằng gặch đá nhưng là bằng những con số trong trương mục ngân hàng.

 

Ảo Tưởng Ư Thức Hệ

Đức không phải là quốc gia duy nhất nạn nhân của Chiến Tranh Lạnh hay chiến tranh ư thức hệ. Triều Tiên Việt Nam Cyprios Đài Loan đều là những nạn nhân điêu đứng thê thảm v́ chia cắt.  Hoặc không chia cắt mà vẫn chết như Cambodia Hi Lạp Chile Philippines hay Bolivia. 

Đồng bào một nước bỗng bị chia cắt bởi những biên giới tưởng tượng gọi là Bức Màn Sắt Bức Màn Tre Bức Tường Berlin hay những lằn ranh trên bản đồ là vỷ tuyến 17 vỷ tuyến 38.  

Việt Nam là điển h́nh cụ thể. Vừa có vỷ tuyến 17, vừa có bức màn tre. Bức màn tre đó đă được sơn phết thành hai màu.  Bên xanh tự do no ấm, bên đỏ độc tài đói rách. Bên xanh hữu thần, bên đỏ vô thần.  Bên xanh hiền ḥa thanh b́nh, bên đỏ hiếu chiến xâm lăng.  Lặp đi lặp lại riết rồi ai cũng thuộc ḷng như ông đồng bà cốt.  

Chiến tranh ư thức hệ tàn lụi.  Được bao lâu?  Chỉ được mười hai năm từ khi Bức Tường Berlin sụp cho đến khi hai cao ốc WTO ở New York tan tành cát bụi.  Biến động này chính thức thay thế xung đột ư thức hệ 1950-1989 bằng xung đột tôn giáo.  Đúng ra là chính thức thay thế cuộc xung đột giữa một bên Tư Bản-Tin Lành-Ki Tô giáo và bên kia là Cộng Sản-Chính Thống giáo thời chiến tranh lạnh bằng Tự Do Thiên Chúa giáo và bên kia là Ngoan Đạo Hồi giáo thời chiến tranh chống khủng bố hôm nay.  

Bức tường tôn giáo này xem ra c̣n kiên cố hơn bức tường bê tông cốt sắt Berlin.  Bởi trong thời chiến tranh lạnh, có khi hai đối thủ đă không khỏi rùng ḿnh v́ viễn ảnh chết chùm là cái chắc – MAD: mutual assured destruction -  anh bấm nút tôi cũng sợ ǵ mà không bấm nút! - nên đă có những lúc yếu ḷng xét lại.  Kennedy, Khrouchtchev, Mao Trạch Đông, Reagan, Gorbachev đều có lúc lạnh cẳng miệng hùm gan sứa.   

Cái sướng của các lănh tụ là không cần phải giải thích cho những kẻ đă nghe ḿnh mà bỏ mạng sa trường.  Không cần phải bận tâm nói cho những kẻ đă nghe họ mà bỏ cha bỏ mẹ bỏ vợ bỏ con chết cho tự do dân chủ nhân quyền, cho kinh tế thị trường, cho sứ mạng chống đế quốc xâm lược chống tư bản rừng rú chống bá quyền tham lam… Không cần phải dài ḍng văn tự với những kẻ đă theo họ mà chống Tam Vô hay thực hiện Tam Vô đỉnh cao thời đại.

Hơn ai hết, người Việt hai bên bức màn tre đều hiểu rơ điều đó và hẳn phải tự hỏi…  

Tại sao họ phải chống cộng v́ cộng sản Vô Thần triệt hạ tự do tôn giáo. Thế nhưng khi cộng sản đổ rồi th́ Chính Thống giáo ở Nga và Đông Âu hay Ki Tô giáo ở Poland lại nhiều hơn đông hơn thời trước khi Stalin sắt máu vô thần vô tôn giáo tàn bạo lên cầm quyền?  

Tại sao họ phải theo Mỹ chống đế quốc Nga Xô Trung Cộng bành trướng xâm lược nhưng Nga Xô Trung Cộng lại không có thêm một toán viễn chinh không có một hạm đội hay một căn cứ bến cảng phi trường quân sự nào nhưng các chú G.I th́ hà rầm long nhong khắp thế giới, hết lom khom đi hành quân th́ dơn dơn đi t́m bar?  Mỹ ngăn chận tuyên truyền ư thức hệ Nga Hoa để tự ḿnh tuyên truyền ư thức hệ Tự Do bằng đô-la đỏ qua những cửa hàng PX vốn là nơi tuyển mộ và đào tạo một giai tằng tay sai mới mà bản chất là ma cô đàng điếm. 

Mặt khác, tại sao họ phải theo Liên Xô Trung Quốc chống Mỹ xâm lược, nhưng khi Mỹ cút nguỵ nhào rồi th́ phải sắp hàng nạp đơn vào WTO, phải xin tiền Mỹ để chống SIDA, phải vơ vét xuất khẩu kiếm tiền để mua giày Nike máy lạnh CD DVD phim nhạc của Mỹ, mỹ phẩm thời trang phô-ma Ḅ Cười của Pháp, xe hơi của Đức của Nhật, rượu và trái cây của Úc, giày và cà vạt của Italia, nước Ḅ Cụng và gái gọi của Thailand?  Một số người Việt đang tụng mấy chữ Hiện Đại GDP GNP WTO như những người vượt biên niệm chú cầu kinh khi gặp sóng to gió lớn hay hải tặc.  Đánh thắng Mỹ về quân sự chính trị nhưng có cần - và liệu có thể - phải è cổ ra để cố cho bằng Mỹ về tiêu thụ không?  

Những Kẻ Bị Qủy Ám

Giữa người Việt với người Việt giờ đây không c̣n một kinh tuyến vỷ tuyến chia cắt nào, không c̣n bức màn tre bức màn sắt nào ngăn cách.  Nhưng vẫn c̣n một số người cả trong lẫn ngoài chính quyền dựng lên những bức mành sương khói để chạy tội và để bảo vệ những quyền lợi đă vơ vét được nhờ biết ôm chân Pháp chân Mỹ.  

Mất bao nhiêu năm đánh Pháp đuổi Mỹ nhưng khi Pháp Mỹ thua rồi tại sao tôi phải dựng tượng đặt tên đường lập bàn thờ cúng vái những Petrus Kư, Paulus Của, Alexandre de Rhodes, Nguyễn trường Tộ, Trần Lục. Điển h́nh là Alexandre de Rhodes.  Nếu đă dựng tượng đặt tên đường cho những kẻ đó được th́ tại sao không dựng tượng đặt tên đường cho những kẻ đă xây Hỏa Ḷ Hà Nội, nhà tù Lao Băo, nhà tù Thừa Phủ, chuồng cọp Côn Sơn?  

Quái đản nhất là những âm mưu làm sống lại mồ ma cố đạo thừa sai Alexandre de Rhodes với lư do De Rhodes có công với văn hóa giáo dục nước nhà bằng chữ ‘quốc ngữ’.  Họ làm như thể không có De Rhodes th́ dân Việt vẫn c̣n trong thời ăn lông ở lỗ như dân Aborigines ở Úc.  

Nhưng văn học Việt Nam có một tác phẩm ‘quốc ngữ’ nào qua mặt được truyện Kiều chưa, về lời thôi chứ khoan nói về ư?  Và Nguyễn Du đâu cần đợi đến khi có chữ ‘quốc ngữ’ mới viết được Truyện Kiều.  

Ghi ơn de Rhodes v́ nhờ chữ ‘quốc ngữ’ mà người Việt mới tiến bộ về khoa học? Nhưng người Nga Nhật Đại Hàn Trung Quốc có a-b-c-d có i-tờ-tờ-i-ti không mà họ tiến bộ như vậy.

Ca tụng De Rhodes sao không ca tụng Mă Viện Cao Biền Trương Phụ đă ‘đốt sách chôn học tṛ’ Việt Nam? Sao không thờ Tích Quang Nhâm Diên đă dạy cho người Việt chữ Hán? De Rhodes bày ra chữ ‘quốc ngữ’ cho đất nước tiến bộ hay để đào huyệt chôn lấp toàn bộ di sản văn hóa Hán Nôm của Việt Nam?  

Alexandre de Rhodes là một tên phá hoại văn hóa như thế đó mà hôm nay vẫn có một số người - ngoài và trong chính quyền - cứ lải nhải đ̣i dựng bia dựng tượng tôn thờ trong khi thờ cúng cha mẹ th́ bị những kẻ này tố cáo là mê tín dị đoan làm chay tế ruồi. Số người đó là ai? Đây là những tên đặc công đội lốt tôn giáo và văn hóa mà điển h́nh là Nguyễn gia Kiểng với Tổ Quốc Ăn Năn. Muốn biết đặc sản ‘quốc ngữ’ Tổ Quốc Ăn Năn của Nguyễn gia Kiểng nói ǵ th́ cứ hỏi bào huynh của Nguyễn gia Kiểng là cựu Nghị Sĩ Nguyễn gia Hiến trong liên danh Sao Sáng ngày xưa muốn ǵ khi ông cả quyết ‘Thà mất nước không thà mất Chúa’!?       

Người Việt đă phải mất ba mươi năm chờ đợi, phải liên tục chịu trần thân khổ nhục để nghĩ được: Sướng khổ kệ cha tui.  Nước tui tui ở nhà tui tui ở cơm tui tui ăn.  Nói nôm na ra đó là ‘không có ǵ quư hơn độc lập tự do’.  Hồ chí Minh đă nuôi ư nguyện đó khi phất cờ khởi nghĩa năm 1945.  Hơn ai hết, Hồ chí Minh hiểu được nỗi nhục nhằn ư thức hệ, chủ thuyết, chủ nghĩa. Người Việt hôm nay uống nước nhớ nguồn hẳn phải cảnh giác cái bẫy ư thức hệ đang đội lốt tôn giáo – hay tôn giáo đội lột ư thức hệ th́ cũng thế.    

Nhiều thầy thúi ma, càng lắm chủ thuyết chủ nghĩa đức tin tôn giáo, con người càng dễ sai trái, càng tàn ác với nhau.  Cứ nh́n người Ả Rập Hồi giáo, người Israel Do Thái giáo, người Mỹ Anh Úc Tin Lành, người Poland người Italia Công giáo, người Nhật Thần đạo… loay hoay giết nhau ở Trung Đông mịt mù cát bụi sặc mùi dầu khí và thấp thoáng đồng đô-la.  

Nếu chủ nghĩa Quốc Xă hay Mác-xít đă giết cả trăm triệu người th́ ư thức hệ Thiên Chúa giáo - Chiristianisme, Catholicisme - cũng đă giết cả 80 triệu thổ dân ở Nam Mỹ chưa kể các cuộc thánh chiến ở Trung Đông chiến tranh tôn giáo 100 năm ở Âu châu và các cuộc đàn áp nhân danh ‘nước Chúa trị đến vâng ư Cha dưới đất bằng trên trời’ ở Phi châu Á châu.      

Tôi vừa nhận được một tài liệu từ Paris thiết nghĩ cũng không xa ǵ ước vọng no-ism hay anti-isme đă nói ở trên. Tài liệu này có nhan đề Những Ngộ Nhận Về Học Thuyết Marx của Nguyễn Hoài Vân. Tài liệu này đề ngày 7/4/2004.  

Mở đầu, Nguyễn Hoài Vân viết:

‘Học thuyết Marx đă được tôn sùng thái quá bởi những guồng máy tuyên tuyền tại các quốc gia toàn trị, và bởi đội ngũ trí thức ngự trị trên trường tư tưởng tại các nước tự do.  Người ta c̣n nhớ câu nói của Sartre: ‘Những kẻ chống cộng là đó chó!’  Ngày nay, đội ngũ trí thức quay lưng lại Marx, mặc dù chưa nhất quyết phải chạy theo cái ǵ.  Trong sự trống vắng đó, dân chủ nghị trường cùng với kinh tế tự do mặc nhiên trở thành ‘điểm đến của Lịch Sử’.  Như thể tất cả sẽ dừng lại ở đó: ở một h́nh thái dân chủ, và ở thị trường tự do.  Điều quan trọng phải tự hỏi là: những vấn đề trọng đại của nhân loại có hi vọng được giải quyết bởi các phương thuốc này hay không?  Vấn đề môi sinh ô nhiễm, vấn đề chên lệch giàu nghèo, vấn đề tài nguyên khánh kiệt… Địa cầu chỉ c̣n khoảng 40 năm dự trữ dầu hỏa, 70 năm khí đốt, 55 năm Uranium…Thêm vào đó, số lượng xe hơi và mức tiêu thụ năng lượng sẽ nhân đôi trong thập thiên tới.  Giả sử người ta thành công trong việc nâng cao mức sống của đại đasố dân trên thế giới hiện đang nghèo đói, đến mức ngang hàng với dân Hoa Kỳ, th́ tài nguyên của trái đất sẽ khánh kiệt trong ṿng 10 năm, chưa kể đến vấn đề ô nhiễm.  Thử tưởng tượng mọi người Trung Hoa đều có xe hơi, khói xe của họ sẽ làm ngộp thở toàn địa cầu!  Dân chủ đại nghị, kinh tế duy lợi, có ngăn được người Trung Hoa mua xe hơi hay không?  Có bắt nổi người Hoa Kỳ, vô địch trong lănh vực lăng phí tài nguyên và gây ô nhiễm, phải bớt tiêu thụ, bớt hao phí tài nguyên, bớt gây ô nhiễm, hay không?  Có bắt nổi người dân các nước giàu mạnh, phải giảm sức sống của ḿnh để chia sẻ với nhân dân các nước nghèo đói hay không?’ 

Nguyễn Hoài Vân nghĩ có thể t́m thấy những câu trả lời nơi Marx, sau khi đă thấy rơ những ngộ nhận về ‘học thuyết’ Marx.  Nguyễn Hoài Vân cũng nói thẳng: ‘…ở một tŕnh độ rất khiêm nhượng, tôi có một cái ǵ chung với Marx. Thật vậy, cũng như Marx, tôi không phải là người Marxiste!’ 

Bài viết của Nguyễn Hoài Vân tỏa ra một niềm lạc quan chân chất trong cố gắng trả lời câu hỏi: sống để làm ǵ? và thế nào là một cuộc đời đáng sống? Niềm lạc quan chân chất này làm tôi nhớ đến bốn câu ‘kệ thị tịch’ của Tố Hữu mà trưởng nam của ông đă chuyển cho tôi ngày 18/2/2003:  

Tạm Biệt

Tạm biệt đời ta yêu quư nhất

C̣n mấy ḍng thơ, một nắm tro.

Thơ gửi bạn đường. Tro bón đất

Sống là cho. Chết cũng là cho. 

Nguyễn Hoài Vân và Tố Hữu có điểm giống nhau là cả hai đều có thời theo Marx, cả hai đều tin rằng ‘chủ thuyết’ Marx là liều thuốc cần cho con bệnh Việt Nam chống lại virus Thực Dân Pháp.  Nếu tôi không lầm th́ cả hai khác nhau ở điểm, Tố Hữu từng tin rằng định chế là kết điểm của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trong khi Nguyễn Hoài Vân nghĩ đó chỉ mới là khởi điểm. Và dĩ nhiên cả hai đều nghĩ đó là ư của Marx, là ‘chủ thuyết’ Marx. 

Có lẽ cái hay của Marx là câu nói này của chính Marx: Cho đến bây giờ các triết gia  chỉ loay hoay kiến giải cuộc đời trong khi thực sự là phải biến căi cuộc đời - Jusqu’ici les philosophes ne font qu’ interpréter le monde alors qu’il s’agit de le transformer … hoặc một câu đại loại như thế mà tôi mang máng nhớ đă đọc h́nh như trong bản dịch Thèses sur Feuerbach bằng tiếng Pháp thời c̣n đi học xa xưa?  Và nếu vậy th́ cái dở của Marx phải chăng là đă chủ trương biến căi cuộc đời bằng những kiến giải của chính ông mà cơ bản là chỉ để trả lời câu hỏi ‘sống để làm ǵ?’ chứ không thử trả lời câu hỏi ‘sống là ǵ’?  Và đây cũng là điều làm cho Marx khác với một nhà ‘xă hội chủ nghĩa’ khác sống trước Marx gần 25 thế kỷ. Phật Thích Ca. 

Nói Phật giáo là một thứ xă hội chủ nghĩa không phải là thấy sang bắt quàng làm họ đâu.  Chính trị cần Phật giáo chứ Phật giáo không cầu quyền lực thế trị.  Đó không phải là điều tưởng tượng kiểu Bộ Áo Cà Sa Nhuộm Máu của Tô Nguyệt Đ́nh.  Đó là sự thật lịch sử.  Chỉ cần nhớ lại mối liên hệ Phật giáo-cách mạng kháng chiến hồi tiên khởi.  Chưa tin, xin cứ hỏi các chuyên viên lịch sử đảng th́ biết năm 1945-1946, trong lúc tầng lớp lănh đạo kháng chiến đang điên đầu với chuyện quân Tưởng Giới Thạch chuẩn bị đảo chánh để đưa nhóm Nguyễn Hải Thần lên, trong khi quân của d’Argenlieu cố t́nh bạo động khiêu khích th́ các thành phần lănh đạo đảng trốn ở những chùa nào, đài phát thanh và máy in đặt ở chùa nào, thường họp ở chùa nào, nhà nào th́ thấy ai cần ai.  

Chính quyền mới đây đă có một hành động có ư nghĩa đó là Chủ Tịch Trần đức Lương đă đích thân đến Chùa Quán Sứ Hà Nội để đọc thông điệp Phật Đản năm 2004.  Đúng là chuyện ‘trăm năm mới có một ngày’.  Phật giáo phải ghi nhận rơ ràng đích đáng hành động đó, v́ trách nhiệm chứ không phải v́ cầu ân cầu huệ.   

V́ độc lập tự do mà Phật giáo phải ‘phồn hoa bất hoài vinh nhục’ như Thái Hư Đại Sư nói thời ngài theo Tôn Dật Tiên làm cách mạng.  Nhưng công thành thân thoái.  Tăng già mà mấp mé cọ xác với chính trị th́ trước sau cũng cháy.  Cháy thảm hại.  Cứ nh́n cái gương của Thượng Thủ Tâm Châu, Phó Tăng Thống Quảng Độ, Viện Trưởng Hộ Giác, cứ nh́n mấy đấng ‘ḥa [thượng] thượng [tọa] đại [đức]’ lau hau cắc ké Giác Lượng, Chánh Lạc, Trí Lực, Thiện Hạnh, Thái Ḥa, Viên Lư, Quảng Ba, Huyền Tôn, Giác Đức chỉ ngớp ngớp để hợp ca theo nhịp gỏ của Vơ văn Ái và đám CCCB th́ rơ tác hại của chính trị đối với những vị cũng là đầu tṛn áo vuông loi ngoi vẫy vùng trong vũng lầy chính trị.  

Marx đă làm luận án, đă chịu khó suy nghĩ về những triết gia cổ đại Hi Lạp Democritus hay  Epicurus, đă nghĩ đến cái cộng sản nguyên thủy của nhóm đồ đệ tiên khởi dưới quyền lănh đạo của Jesus Nazareth… thế mà Marx không biết ǵ về Phật giáo.  Phải chăng yếu tố vô minh này đă vô t́nh làm cho Marx một thời quyến rũ được Lenin Nga Chính Thống giáo và Mao Trạch Đông Nho Lăo mà không quyến rũ được Gandhi và Nehru thấm nhuần Ấn giáo và Phật giáo? 

Kiến giải ‘sống là ǵ?’ của Phật giáo có thể sẽ giúp Marx tránh được những điều mà sau này Nguyễn Hoài Vân gọi là ‘những ngộ nhận về…’ vậy.  Và có lẽ kiến giải đó đă làm cho Tố Hữu, một người mà theo Nguyễn Hoài Vân đă ‘ngộ nhận về học thuyết Marx’ nhưng trước khi tạ thế đă để lại một ước nguyện rất Bồ Tát.  Dù là Bồ Tát đọa? Với ước nguyện ấy th́ c̣n chỗ nào cho chủ thuyết chủ nghĩa cho ism này isme nọ nữa đây?  Với ước nguyện ấy th́ c̣n chỗ nào cho vỷ tuyến số mấy, kinh tuyến số mấy, cho Bức Màn Sắt hay Bức Màn Tre nữa đây? 

Nếu không, th́ phải nghĩ rằng chiến tranh ư thức hệ kéo dài ngót 40 năm – 1950-1989 th́ chiến tranh tôn giáo sẽ kéo dài đến bao giờ 2000- ???? trong lúc loài người vừa thoát khỏi cơn ác mộng 2KY Bug chỉ mới bốn năm.

 Có buồn không?

 

Anthony Darlic.     

Bài trong tháng

Ban nhạc sống của cơi âm
Bức tường phố thị...
Cựu chiến binh Úc và Ung thư
Dioxin và những kinh nghiệm từ Seveso
Hồn dân tộc qua tiền cổ
Jacques Derrida
Khi nhà báo không nói thật
Loạt bài phóng sự chất độc Da cam 4
Loạt bài phóng sự về chất độc Da cam 3
Loạt phóng sự chất độc Da cam 5
Loạt phóng sự chất độc Da cam 6
Loạt phóng sự chất độc Da cam 7
Loạt phóng sự về chất độc Da cam 1
Loạt phóng sự về chất độc Da cam 2
Lá thư đầy năm
Lăng Hoa đào, Tận Anh hùng
Một người Áo được phong hàm Đại tá của VN
Nguyễn Nhược Pháp và bài thơ Chùa Hương
Nhúm ruột Việt trên đất Isan
Những luận điệu vô ơn
Nói chuyện cùng giới BS VN TD
Nữ văn sĩ VN đầu tiên viết tiểu thuyết
Phóng sự chất độc Da cam bài cuối
Phóng sự về chất độc Da cam
Phật giáo và thời đại Tin học
Sách Chất độc Da cam_Giao điểm
Thủ đoạn của Vơ Văn Ái
Tiếng thời gian
Trái tim Palestine
Từ Graham đến da Vinci
Vĩnh Tùng
Yasser Arafat
Điểm sách "Hai mặt Sáng-Tối của Y học"
Đo lường hiệu suất KH
Đề nghị nâng cao chất lượng GD

 

 

   

Copyright Chuyển Luân 2005

Designed by HT MEDSOFT

CHUYỂN LUÂN ONLINE