|
Bush: Bốn Năm Dài Trước Mặt
LTS: -Cuộc tổng tuyển cử ở Mỹ đă xong, lần này th́ TT
Bush đắc cử một cách công khai đường hoàng hơn lần trước. Đảng Cộng Ḥa cũng
kiểm soát luôn cả Quốc Hội. Với cái nhiệm mệnh dân chủ đó, TT Bush sẽ làm ǵ
trong bốn năm tới? Chánh Đạo đă thử trả lời câu hỏi đó qua bài viết dưới đây,
theo một quan điểm trung dung, ôn ḥa và quân bằng. Chính Đạo là bút danh của
Tiến sĩ Sử học/Luật học Vũ Ngự Chiêu, tác giả Băo Sa Mạc (1991) và Từ Pearl
Harbor tới New York (2002). Chính Đạo hiện đang nghiên cứu về khía cạnh pháp
luật của kế hoạch Đổi Mới tại Việt Nam với hai học bổng Fulbright của Bộ Ngoại
Giao Mỹ và Rockefeller của Trung tâm William Joiner Center, Đại học
Massachusetts, Boston trong niên khoá 2004-2005.
Chuyển Luân
Bush: Bốn Năm Dài Trước Mặt
CHÍNH ĐẠO
Thứ Ba, 2/11/2004. Đă hai giờ đêm, nhưng hai trong bốn đài
truyền h́nh lớn vẫn chưa chịu dự đoán kết qủa cuộc bầu cử Tổng thống 2004.
Thượng nghị sĩ John Kerry, dĩ nhiên, chưa chịu nhận thua cuộc. Tổng thống George
M. Bush cũng chưa xuất hiện tuyên bố được tái đắc cử. Đầu mối là tiểu bang Ohio,
với 20 phiếu cử tri đoàn, nơi Bush đang dẫn đầu với khoảng 139,000 phiếu; nhưng
c̣n khoảng hơn 100,000 phiếu ‘tạm thời’ chưa kiểm soát và một số phiếu hải
ngoại. Nên dù đă dẫn Kerry khoảng 3 triệu rưỡi phiếu cá nhân trên toàn quốc, số
phiếu cử tri đoàn của Bush vẫn chưa đạt số 270 qui định.
Kết quả sơ khởi này khiến tôi hơi ngạc nhiên. Tôi vẫn nghĩ
Bush sẽ thắng cả phiếu cá nhân lẫn phiếu cử tri đoàn một cách dễ dàng. 3 triệu
rưỡi phiếu bầu cá nhân sai biệt, cùng việc Đảng Cộng Ḥa chiếm đa số ghế tại
Lưỡng viện Quốc hội, chứng minh rơ ràng rằng dư luận Mỹ vẫn đang tiếp tục hướng
về phía cực hữu sau cuộc tấn công hai cao ốc WTC và Ngũ Giác Đài ngày 9/11/2001
của tập đoàn Al Qaida đang hô hào "thánh chiến" -với 2749 nạn nhân [trong số này
chỉ có 1179 người được xác nhận, số 1570 c̣n lại bị coi là mất tích trong hai
cao ốc đó và hàng trăm tỉ Mỹ kim thiệt hại vật chất.
Dẫu vậy, sớm hay muộn, tôi tin Bush sẽ được tuyên bố tái
đắc cử, bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai. Tôi chẳng chút ngần ngại chúc mừng chiến thắng
của ông. Và tôi hy vọng Thượng Nghị sĩ Kerry hăy can đảm nhận thua cuộc, tránh
cho nước Mỹ cảnh bẽ bàng của mùa bầu cử 2000. Kerry từng tuyên bố trong chiều
ngày 1/11/2004: Nước Mỹ cần đoàn kết và hướng về tương lai sau ngày bầu cử. Đây
là cơ hội cho Kerry thực hiện lời tuyên bố trên, và có thể chuẩn bị cho cuộc
tranh cử 2008 trong niềm nể trọng của cử tri.
Phần Bush, dù nhiệm kỳ thứ hai chưa bắt đầu, bốn năm sắp
tới là bốn năm đầy khó khăn. Tôi chỉ xin giới hạn trong cuộc chiến chống khủng
bố quốc tế. Đây là một cuộc chiến cần thiết (war of necessity). Afghanistan,
Iraq, Thái Lan, Philippines, hay Indonesia -và có thể Iran, Syria hay Somalia
-chỉ là những điểm nổ lựa chọn. Giống như Việt Nam, một điểm nổ của cuộc chiến
tranh lạnh- một loại chiến tranh lựa chọn (war of choice).
Cuộc bầu cử 2004 cho thấy đa số dân chúng Mỹ ủng hộ chính
sách cứng rắn của Bush. [Có thời gian 90, 91% dân Mỹ ủng hộ Bush]. Nhưng cổ
nhân thường dạy: Đêm dài lắm mộng. Mới chỉ hơn ba năm qua, sự phẫn hận và ḷng
yêu nước của người Mỹ đă phần nào phai nhạt. Dù chính phủ Mỹ cực kỳ khôn khéo
trong mặt trận chiến tranh chính trị để lôi kéo sự ủng hộ của dân chúng số người
không tán thành chính sách của Bush tăng từ 10% lên khoảng 47%. Bush và
Rumsfeld phải nhiều lần trấn an dân Mỹ rằng cuộc chiến này là cuộc chạy đua
trường lực (a marathon) mà không phải một cuộc chạy đua nước rút (a
sprint).Trong khi đó, những biện pháp tăng cường an ninh nội bộ cũng gây nhiều
chống đối trong giới dân cử và tranh đấu nhân quyền. Bộ trưởng Tư pháp John
Ashcroft phải ra điều trần trước Quốc hội về những vấn đề như bắt giữ các nghi
can gốc thiểu số, việc thiết lập Ṭa án binh đặc biệt để xử người ngoại quốc,
v.v.. Áp lực khủng hoảng kinh tế ngày càng mạnh. Số người thất nghiệp gia tăng
không ngừng. Liệu phong trào phản chiến có thể đạt được cường độ của thập niên
1960 và 1970, khi những túi đựng tử thi lũ lượt được gửi về nội địa Mỹ, nghiêng
dần cán cân tham chiến ở Nam Việt Nam từ "quyết tâm duy tŕ một tiền đồn chống
Cộng của thế giới tự do" trong giai đoạn 1949-1968 sang "triệt thoái trong danh
dự" vào giai đoạn 1969-1973? Và chính phủ Bush sẽ có phản ứng ǵ với những đạo
luật đầy uy quyền trong tay?
Từ một góc cạnh nào đó, chiến dịch Enduring Peace [Tự Do
Măi Măi] ít nữa đang mở ra cho Afghanistan một niềm hy vọng mới. Ai đó có thể
tuyên bố nước Mỹ vừa giải phóng cho dân Afghanistan khỏi mối họa giáo phiệt
Taliban. Một chính phủ lâm thời, liên hiệp và ḥa giải dân tộc đă được thành
lập. Thủ tướng Hamid Karzai đă đắc cử Tổng thống. Tại Iraq, chế độ Saddam
Hussein đă trở thành dĩ văng. Khoảng 10,000 khủng bố quân quốc tế đang phát động
một cuộc "Thánh chiến" tại Trung và Cận Đông. Ở một thoáng nh́n, hiện tượng
trên khởi nguồn từ tôn giáo, với niềm tin Trung Cổ. Khuynh hướng trở lại với
thứ đạo đức và trật tự cổ thời này không chỉ hiện hữu tại các xă hội đang phát
triển, thánh địa của tham nhũng, hối mại quyền thế, vô luật pháp, bạo lực, đói
khổ, chậm tiến. Nó cũng ngày một gia tăng ở các nước hậu kỹ nghệ hóa như Mỹ,
Germany, Bri-tên, v.v.. Các tổ chức Skinheads, Neo Nazi và các nhóm tôn giáo quá
khích (như Pro Life, chống cloning, v.v..) chỉ là vài thí dụ.
Đại cương nó là hậu quả của t́nh trạng khủng hoảng và bất
trắc tiềm ẩn của mỗi cá nhân, mỗi xă hội, cũng như toàn thế giới trong chu tŕnh
hiện đại hóa và toàn cầu hóa. Kiến thức mới và cuộc cách mạng truyền thông
khiến con người cảm thấy bơ vơ, lẻ loi và cô độc trong ḍng sống miệt mài chảy
xuôi như thác lũ lôi cuốn đi bất cứ chướng ngại vật nào. Những đơn vị xă hội
như gia đ́nh và các sợi dây t́nh cảm hàng ngang giữa cá nhân ngày một rạn nứt,
xoi ṃn. Con người ngày một hụt hơi, đuối lả trong cuộc giành sống nghiệt ngă,
nhân diện nhợt nhạt. Như một phản ứng tự nhiên, con người ngày một thiên về
phía cực hữu, mơ tưởng về một thời dĩ văng vàng son. Dù dĩ văng ấy không vàng
son và an b́nh như họ nghĩ. Nó là một phần bản chất của con người: chống lại
những đổi thay của xă hội, và duy tŕ t́nh trạng hiện hữu hoặc hoài cổ. Các
mujaheedin (thánh binh Islam) ngày nay cũng vậy. Họ chống lại sự xâm nhập của
nền văn hóa Ki-tô/vật bản Âu Mỹ, t́m về thời vàng son mà Tiên tri Mohammed đă
hứa hẹn; với ảo vọng rằng sẽ tạo được một thế giới hiện đại với kỹ thuật Tây
phương và đạo đức, trật tự cổ truyền. Nhưng mơ ước này khó thể, nếu không phải
bất khả, thực hiện.
Dưới chế độ giáo phiệt Muslim, đàn ông không được mặc Âu
phục, không được cạo râu; phụ nữ phải mặc burqua che phủ từ đầu tới chân, chỉ để
lộ cặp mắt và một thứ cửa sổ nhỏ để dễ hô hấp; không được sinh hoạt trong xă
hội, kể cả việc cắp sách đến trường. Nhiệm vụ chính chỉ có sinh con, nấu nướng
và phục vụ chồng con. Tại Afghanistan, họ bị đánh đập trước đám đông nếu không
ăn mặc theo đúng luật lệ về y phục. Âm nhạc, phim ảnh và truyền h́nh bị cấm
đoán. Thiếu niên chỉ được tụng thuộc ḷng những lời kinh trích dẫn từ Quran, và
những khẩu hiệu nhồi sọ chống bọn Sa-tăng "ngoại đạo." Luật pháp là loại luật
pháp của hàng chục thế kỷ trước. Ăn cắp bị chặt tay, chặt chân; và Bộ trưởng Y
tế là người kư lệnh giải phẫu. Khung "gôn" của sân đá banh trở thành cây treo
cổ. Ai chống lại chế độ hay vi phạm luật Islam bị xử ngay tại chỗ. Những cuốn
phim thời sự và biên khảo về Afghanistan khiến người ta rùng ḿnh liên tưởng đến
những ṭa án dị giáo (Inquistion) của Giáo hội Ki-tô Vatican thời Trung Cổ,
những cực h́nh voi dày, ngựa xé vài thế kỷ trước tại Việt Nam.
Thứ "thuật cai trị" bằng bạo lực này thường được những
người nắm quyền lực ưa thích. V́ họ được che chở bằng một triết lư chính
trị/tôn giáo "bạo lực cần thiết." Nhưng thứ luật lệ bán thần linh, hay trộn lẫn
giữa thần quyền và thế quyền, kiểu Trung Cổ này khó thể khuất phục những người
cổ vơ nhân quyền hay nhân bản. Nó c̣n gieo rắc sự phẫn hận và hờn oán trong đám
đông. Điều này giải thích tại sao đa số dân Afghan đă nhận sự can thiệp của Mỹ
và đồng minh.
Nỗ lực vặn ngược kim đồng hồ hơn chục thế kỷ của hàng tăng
lữ Islam (imams ở Iran, hay mullahs ở Afghanistan), không chỉ thuần do sự cuồng
tín tôn giáo. Vấn đề phức tạp và sâu xa hơn chúng ta nghĩ. Kỳ thị chủng tộc
(racism) và bài ngoại (xenophobia) là một cặp yếu tố song sinh quan trọng. Từ
nhiều thế kỷ qua, giống như Á châu, Phi châu và vùng Trung Đông đă chịu đựng
muôn vàn khổ đau do phong trào dân Ki-tô/vật bản Âu châu mang đến. Trong khi mê
say thực hiện "Gánh nặng của người da trắng," các cường quốc Âu châu đă lưu lại
trong ḷng người dân địa phương ḷng oán ghét sâu đậm, do những tội ác thực tế
hoặc ảo tưởng từ thế kỷ XV, XVI. Cùng với phong trào tranh đấu giành độc lập
trong thế kỷ XX là sự phát triển tinh thần bài ngoại và kỳ thị chủng tộc. Mặc
dù đă có những nỗ lực hàn gắn lại những vết thương cũ, vẫn có thêm những vết
thương mới. Việc lập quốc của Israel (Is-riêu) năm 1948 trên một phần lănh thổ
nước Palestine (Pa-lés-tin) cũ là một thí dụ. V́ không thể trực diện Is-riêu
bằng vơ lực, những tổ chức vơ trang cực đoan đi t́m ở học thuyết Đại Arab cùng
Đại Islam thứ men say tinh thần để gia tăng cường độ tinh thần kỳ thị chủng tộc
và bài ngoại. Họ qui trách mọi tội lỗi của xă hội và thế hệ ḿnh cho ngoại nhân
cùng những kẻ ngoại đạo (những quốc gia từng có thành tích xâm lăng, phá hoại,
hay chiếm đoạt đất nước cùng tài nguyên Trung Đông và Phi châu trong quá khứ).
Nước Mỹ bị lôi cuốn vào cơn sốt bài ngoại và kỳ thị chủng tộc này do những
"quyền lợi an ninh quốc gia," và từ cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI -đang từ thần
hộ pháp của dân chủ, tự do và quyền tự quyết của thế giới -thoái hóa thành "quỉ
Sa-tăng khổng lồ" dưới mắt nhóm Islam cực đoan.
Yếu tố kinh tế cũng có phần đóng góp. Hố ngăn cách giàu
nghèo giữa các quốc gia, và đặc biệt là giữa hai tầng cai trị với đám đông thầm
lặng trong nội bộ mỗi quốc gia, tạo nên sự bất măn và ganh tị thường trực trong
đám đông nghèo khổ. Khó thể phủ nhận một điều: viễn ảnh kinh tế của các quốc
gia nhược tiểu là những bệt xám khủng khiếp. Nền kinh tế nói chung chỉ là thứ
kinh tế tiêu thụ hàng hóa ngoại nhập và xuất cảnh tài nguyên thiên nhiên, kể cả
lao công rẻ tiền. Các quốc gia mất đi khả năng kinh tế tự túc, ngày càng tùy
thuộc vào giai tầng đại tư bản tại các cường quốc.
Chuyện ǵ sẽ xảy ra cho các nước sản xuất dầu hỏa khi
những kho vàng đen trong ḷng đất hay ngoài thềm lục địa khô cạn? Chuyện ǵ sẽ
xảy ra khi những món nợ quốc gia ngày một chồng chất, chỉ nguyên việc trả lăi
xuất đủ xanh máu mặt? Bởi thế, đă có người đưa ra lư luận những nước nghèo và
kém phát triển có quyền (entitlement) được hưởng sự trợ cấp của các nước kỹ nghệ
hóa -lập luận ngày một quen thuộc khắp “thế giới thứ ba.” Nhưng ngay đến việc
xóa nợ, hay viện trợ cũng gặp nhiều khó khăn. Nước cho viện trợ luôn luôn có
những sợi cước ràng buộc vào viện trợ. Nước nhận viện trơ chưa hẳn đă hài ḷng
với các điều kiện ràng buộc, nhưng vẫn phải miễn cưởng hứa hẹn, thực hiện cho
qua. Trong khi đó, tại nội bộ mỗi quốc gia, thiểu số cai trị thâu tóm trong tay
hầu hết tài sản. Đại đa số dân chúng sống trong cảnh nước ngập đến cổ, chỉ cần
một làn sóng gợn đủ sặc sụa hay chết đuối. Sự bất măn này chẳng khác ǵ một thể
khối hỗn hợp khí nổ, chỉ chờ một tia lửa điện nhỏ đủ bột phát.
T́nh trạng dân trí cũng không kém quan trọng. Với những
người như nhóm Taliban hay al-Qaida, chẳng hạn, túi khôn của nhân loại nằm trong
những bài học mà họ ngày đêm ngoẹo đầu ngoẹo cổ, gật gù tụng học từ thuở ấu thơ
trong các chủng viện (madrasa) mà các chủng viện th́ thường thích thực hiện lối
giáo dục ngu dân. Trong thư viện của chủng viện lớn nhất tại Peshawar chẳng
hạn, chỉ có những cuốn Quran chép từ thế kỷ thứ XVII-XVIII và vài cuốn khoa học
in vào thập niên 1920. Những giáo viên dạy tư, kèm cho các học sinh Trung học
Afghanistan tại Kabul, có thể làm nhân chứng cho hiện tượng ngu dân này. (Phong
trào chống đối cloning [tạo sinh vô tính] tại Tây phương cũng vậy, phảng phất
hơi hướng của những Ṭa án Dị giáo hay phong trào săn "phù thủy" kiểu Trung Cổ)
Thêm vào đó, không thể không đề cập đến tham vọng của
những cá nhân cầm đầu các tổ chức khủng bố quốc tế. "Sheik" Osama, chẳng hạn,
là hiện thân của một nạn nhân của ḷng cuồng si quyền lực. Con đường dẫn đến
quyền lực ở Sao-đi A-rab-bi-a của Osama đă bị ngăn cản v́ độc quyền cai trị nằm
trong tay ḍng dơi hoàng tộc Fahd và các giáo sĩ Islam. Với tiền rừng, bạc bể
trong tay, nhưng Osama và ḍng họ bin Laden vẫn chỉ là những tên di cư từ Yemen,
những thiểu số ngoại nhân trong vương quốc. Bởi thế Osama đă đầu tư vào tôn
giáo và bạo lực, tạo nên một thứ đoàn thể tội-ác-có-tổ-chức mang màu sắc ngụy
tôn giáo (pseudo-religion), với hy vọng một ngày nào sẽ làm chủ Sao-đi
A-rab-bi-a và có thể cả vùng Trung Đông, dưới dạng thức một quốc gia (umma)
Islam với một tỉ dân số. Dưới danh nghĩa jihad, thường được diễn dịch một cách
sai lầm là "thánh chiến chống lại những kẻ ngoại đạo (infidels)," Osama lừa
người (và có thể tự lừa chính ḿnh) bằng một thứ "thiên mệnh" giải phóng toàn
thể giáo hữu Islam, thiết lập một nước Islam huyền thoại không hề và không thể
hiện hữu. Tổ chức al-Qaida của Osama nhúng tay vào bất cứ thứ tội ác nào, từ
sát nhân tới buôn lậu ma túy, khí giới, kim cương, thu "hụi chết" qua các tổ
chức gọi là "từ thiện" v.v.. nhưng vẫn cố che đậy bằng những tấm nhiễu hồng
"thánh chiến" của 1 tỉ giáo dân Islam, mở miệng ra là nhân danh Allah vĩ đại
cùng nhờ hồng ân của Allah. Dù biết hay không biết đến các tác phẩm The Prince
của Machiavelli, Osama áp dụng một nguyên tắc bất biến của những kẻ tham vọng
quyền lực từ cổ chí kim, Đông qua Tây: lấy mục đích biện minh cho phương tiện.
Dưới mắt Osama, bất cứ phương tiện nào cũng tốt. Giết người, gieo rắc hăi sợ
trong ḷng người về ám ảnh của những cái chết đột ngột, bất đắc kỳ tử dường như
là phương tiện hữu hiệu nhất. Phụ tá và đồng minh của Osama cũng là những kẻ có
tham vọng đẩm máu tương tự. Chúng liên kết với nhau chặt chẽ, phối hợp giữa bạo
lực và tuyên truyền để thuyết phục, khuynh đảo hoặc tiêu diệt người chống đối.
(Các nhà truyền giáo thường biện minh bằng thiên mệnh rao giảng hồng ân của nước
Chúa. Những người Cộng Sản thường thích gọi đó là "uy thế của cách mạng.")
Trong khi đó, đám đông thường thiếu hiểu biết và mê muội
v́ những thành kiến tiên thiên. Thực tế phũ phàng, chua chát giữa những xă hội
đầy rẫy bất công mà họ đang sống khiến họ ít nhiều thiện cảm với những mẫu người
Saladin của Trung Đông, hay Đơn Hùng Tín phương Đông, Robin Hood phương Tây, nên
không thấy được những bàn tay đẫm máu của "thần tượng mới."
Chỉ có những người dân Âu châu thời Trung Cổ như John Huss
hay Galileo Gallilei mới hiểu biết khía cạnh man dă, bất nhân của các Ṭa án Dị
giáo Ki-tô La Mă. Chỉ có những người dân Afghan hay Iran mới tri nghiệm được
thế nào là "bạo lực thánh giáo Islam." Chỉ có những người dân Liên Xô, Đông Âu,
Trung Quốc, Bắc Hàn và Việt Nam mới thấu hiểu thế nào là "bạo lực chuyên chính
vô sản." Nhưng khi đă lọt vào ṿng kiềm tỏa của bạo lực rồi, dù là thứ bạo lực
giáo phiệt hay vô sản, dẫu có hối hận cho sự lầm lỡ của ḿnh thường đă quá
muộn. Và bất lực để phản kháng. Trong những xă hội mà bạo lực làm chủ tể, kẻ
cầm quyền thường cai trị bằng cách gieo rắc sự hăi sợ qua việc kiểm soát kinh tế
gia đ́nh (hộ khẩu chẳng hạn) và h́nh phạt nặng nề, man dă; không những để trừng
trị người vi phạm luật lệ hiện hành, mà c̣n nhắm ngăn chặn cả những ư tưởng vi
phạm. Không những chỉ lấy cá nhân người vi phạm làm đối tượng, mà c̣n trừng
phạt cả những người thân thuộc (kiểu lư lịch ba đời).
Dù muốn, dù không, nước Mỹ phải chấp nhận cuộc "thánh
chiến" mà Osama và tổ chức al-Qaida đă khởi xướng. Quyền tự vệ chính đáng cho
phép Mỹ vận dụng tất cả khả năng của cái mà TT. Roosevelt từng gọi là "Righteous
Might" để đạt chiến thắng cuối cùng. Dù muốn dù không, phải tiếp tục cuộc truy
diệt nhóm al-Qaida và Taliban bằng mọi phương tiện. Vượt ra ngoài biên cương
Afghanistan và Iraq nếu cần. Không thể không tiếp tục và mở rộng việc sử dụng
những toán săn đầu người lấy tiền thưởng chuyên nghiệp (như đang sử dụng ở
Afghanistan). Là những đội binh tư nhân, họ có sự tự do và linh động để săn
đuổi các tên sát nhân tập thể quốc tế mà tránh được những phiền phức ngoại giao
hay tinh thần chống chiến tranh ngay tại nội địa Mỹ và các nước Arab. Và, dĩ
nhiên, phải sử dụng mọi khả năng kỹ thuật quân sự của Mỹ. V́ đây không phải là
một cuộc chiến do nước Mỹ chọn lựa. Đây là cuộc chiến cần thiết, liên quan đến
sự sống c̣n của nước Mỹ cùng các nguyên tắc dân chủ, tự do và nhân bản.
Hẳn nhiên, ai nấy trong chúng ta không thể không rùng ḿnh
ghê sợ với ư nghĩ phải chứng kiến bom đạn tiêu hủy các giáo đường, trường học,
bệnh viện, nhà cửa, chợ búa ở Afghanistan, Iraq hay một quốc gia nào đó. Nhưng
chính khủng bố quân đă mời gọi sự tàn phá và giết chóc ấy để có thể mở rộng mặt
trận tuyên truyền, dấy gợi sự thù hận trong đại đa số giáo dân Islam và Arab, và
nỗi trắc ẩn của lương tâm nhân loại.
Cổ nhân thường nói "ném chuột, bể lọ." Chính nỗi khổ tâm
này khiến có người đưa ra lập luận "con muỗi và bệnh sốt rét." Mỗi năm, theo
tác giả trên, loài muỗi đă giết hại hàng triệu người, nhưng không ai nghĩ đến
chuyện tuyên chiến với muỗi; mà chỉ có thể giới hạn sự tàn phá của chúng. Lối
ví von gợi h́nh này có kẽ hở của nó. So sánh giữa muỗi độc và khủng bố quân có
vẻ đơn giản hóa sự việc, nếu không muốn nói sai lầm, từ bản căn. Muỗi độc là
một loại côn trùng chỉ có thể sinh sôi nẩy nở và đồng thời tác hại ở những xứ
nhiều rừng hoang, nước đọng, khí hậu ẩm thấp. Hàng triệu người chết v́ loài
muỗi độc ở các nơi khác, nhưng không phải trên chính nước Mỹ, nơi thuốc trừ muỗi
đă dùng từ lâu để trong sạch hóa các thành phố và vùng dân chúng cư ngụ. Tại
nước Mỹ, đă lâu lắm chưa nghe nói có ai bị muỗi làm hại. Khủng bố quân là những
sát nhân chuyên nghiệp, len lỏi ở lẫn với người thiện lương từ Tây Âu qua tới
chính nước Mỹ, chỉ chờ bất cứ cơ hội sơ hở nào sẽ ra tay. Cuộc chiến đấu chống
khủng bố quân cũng tương tự như việc ngăn chận và trừng trị tội phạm. Bất kể
bao nhiêu nhà tù được dựng lên, bao nhiêu phiên ṭa đăng đường xét xử, bao nhiêu
nhân viên công lực được vận động, tội ác vẫn hiện hữu và có thể xảy ra bất cứ
lúc nào. Mỗi kẻ sát nhân đều có một lư do để biện bạch và một hay nhiều lư do
để ra tay. Vấn đề đáng quan tâm không phải là tận diệt mà là có thể ngăn chặn
hay vô hiệu hóa kịp thời được những mầm ác lớn hay chăng.
Khủng bố quân c̣n nguy hiểm hơn những tên tội phạm thông
thường khá xa. Chúng hoạt động có tổ chức, với chân rết lan rộng khắp thế
giới. Thoạt nh́n, chúng có thứ ma lực hấp dẫn đám đông kiểu anh hùng Saladin
chống các đạo Thập tự quân (crusades) Ki-tô, hay 108 anh hùng Lương Sơn Bạc, cứu
khốn pḥ nguy. Bởi thế, cần có một kế hoạch chi tiết gồm nhiều giai đoạn.
Giai đoạn đầu sẽ là một cuộc tổng diệt khủng bố quân hoàn
cầu, hoặc ít nữa ở những khu vực từ đó chúng hiện có khả năng mang lại chết chóc
và đau khổ cho người vô tội. Dù sức mạnh quân sự tự nó chưa đủ, nhưng vẫn cần
một lực lượng quyết liệt, ở trận càn quét đầu tiên này. TT. Bush tuyên bố: Sẽ
truy lùng khủng bố không ngừng nghỉ, không biết mệt mỏi. Đại đa số dân Mỹ ủng
hộ. Vấn đề chỉ c̣n là quyết tâm và sự ủng hộ ấy kéo dài bao lâu?
Song song với nỗ lực trên, cần củng cố mật trận quốc
nội. Kẻ thù nguy hiểm nhất vẫn là nội thù. Nhưng trong nỗ lực củng cố mặt trận
an ninh quốc nội, cần tránh những thảm kịch tương tự như 13 trại tập trung người
Mỹ gốc Nhật trong thế chiến thứ hai. Và không thể chỉ v́ lư do an ninh mà làm
mất đi hệ thống tư pháp hiến định, nhân bản của nước Mỹ. Dù cho tới một tương
lai khá xa, khó thể có một nền tư pháp hoàn hảo, hệ thống tư pháp Mỹ vẫn là
một mẫu h́nh cho nhiều quốc gia thế giới thứ ba.
Trên mặt trận ngoại giao, phải t́m cách lấy gió khỏi cánh
buồm Islam quá khích. Một trong những bước cơ bản là đẩy mạnh hơn việc thiết
lập một nước Pa-lés-tin. (Tôi không thể tán thành việc Thị trưởng Rudolp
Giuliani từ chối 10 triệu Mỹ kim cứu trợ nạn nhân ở New York chỉ v́ hoàng tử
Saudi Arabia, Alwaleed bin Talal, tuyên bố rằng cần phải t́m rơ cội nguồn của
khủng bố, như trường hợp Is-riêu đang "sát sinh" dân Pa-lés-tin mỗi ngày. Cuộc
tấn công vào bờ Tây Gaza từ cuối tuần 20.10 và những cuộc tấn kích kế tiếp cho
tới nay dùng danh từ nào chính xác hơn "sát sinh?") Mặc dù ngày thứ bảy,
10.11.2001, Bush đă khẳng định sẽ tiến đến việc thành lập một quốc gia
Pa-lés-tin sống chung ḥa b́nh bên cạnh Is-riêu, sẽ c̣n có chống đối từ của cả
hai dân tộc này. V́ quyền lợi an ninh quốc gia Mỹ nói riêng và nền ḥa b́nh thế
giới nói chung, đă đến lúc người Mỹ bảo thẳng những phần tử quá khích Is-riêu
rằng "nước Mỹ không có kẻ thù vĩnh viễn."
Điều này chẳng có ǵ mới lạ. Cựu Ngoại trưởng Henry A.
Kissinger, người từng được chia đôi giải Nobel Hoà B́nh với Lê Đức Thọ năm 1973,
đă đưa ra lời tuyên bố trên từ thập niên 1970.
Giai đoạn hai có thể gọi là "cuộc chiến giành tim và óc"
hay "chiến tranh nhân tâm." Từ Afghanistan tới Iraq, phe Đồng minh mới chỉ
chiếm được các thành phố lớn và trục giao thông chiến lược. Trận chiến du kích
mới chỉ khởi đầu. Vẫn c̣n những tên sát nhân chuyên nghiệp rải rác đó đây trong
lănh thổ Afghanistan, Iraq và các quốc gia khác, kể cả những nước "đồng minh"
như Pakistan, Sao-đi A-rab-bi-a, Indonesia, Philippines, hay Lebannon, Somalia,
Iran, v.v..
Mặc dù giai đoạn quân sự để trừng trị chế độ dung dưỡng
khủng bố đă tạm hoàn tất, nước Mỹ nên nương cơ hội này để bồi đáp lại cho dân
Afghan và Iraq phần đóng góp xương máu, nước mắt, sự tàn phá tài sản của họ
trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh lạnh Mỹ-Nga (1947-1991), và đồng thời
sửơa lại lỗi lầm cũ đă khiến họ ngộ nhận rằng nước Mỹ chỉ "dụng nhân như dụng
mộc."
Nước Mỹ cần giúp dân Afghan và Iraq thiết lập một chế độ
không bị ảnh hưởng tôn giáo; dựa trên nhân bản và nhân đạo, tự do, dân chủ; để
người dân được thực sự yên hưởng một thời kỳ ḥa b́nh, thịnh vượng.
Mặc dù Liên Hiệp Quốc đă liên tục thất bại trong việc tái
lập hoà b́nh ở Kampuchea và rồi Afghanistan, cơ quan thích nghi nhất giúp tái
thiết Afghanistan, và nếu cần Iraq, vẫn là Liên Hiệp Quốc, đứa con tinh thần của
nền dân chủ pháp trị Mỹ nói chung, và TT Roosevelt nói riêng. Nhưng các cường
quốc nên rút từ những kinh nghiệm cũ để Liên Hiệp Quốc sẽ cải thiện và thành
công trong sứ mệnh mới được trao phó này.
Cũng đă đến lúc Oat-shinh-tân cần tái duyệt chính sách
Trung và Cận Đông. Cuộc truy diệt khủng bố sẽ không chỉ giới hạn trong lănh thổ
Afghanistan hay Iraq, mà sớm muộn sẽ phải mở rộng khắp các quốc gia mà đa số dân
chúng theo đạo Islam. Mục tiêu kế tiếp của Mỹ có thể là Iran. Chế độ giáo
phiệt ở đây, và kế hoạch chế tạo bom nguyên tử của Iran, mới thực là nguồn gốc
cho mối hiểm họa thánh chiến Islam. Ngoài nhu cầu tự vệ, nước Mỹ sẽ phải trực
tiếp hoặc gián tiếp giúp giải phóng đại đa số thầm lặng ở các nước thứ ba khỏi
gông ách của tập đoàn cuồng tín Islam (hoặc bất cứ tổ chức tôn giáo và ư thức hệ
quá khích nào), kẻ tử thù của tự do, dân chủ và nhân quyền. Somalia và Yemen
cũng có thể là những nước cần nghiên cứu. Kinh nghiệm Somalia năm 1993 có thể
khiến nhiều người ngại ngần, nhưng với một chính sách can thiệp khôn khéo, việc
truy lùng tàn binh al-Qaida chẳng phải bất khả. Tương tự, Mỹ cần tiếp tay Yemen
tích cực hơn trong kế hoạch trung lập hóa những nhóm thiên về al-Qaida.
Vấn đề chính của nước Mỹ không phải là muốn hay không muốn
giúp đỡ các nước đang phát triển. Vấn đề là giúp đỡ cách nào. Vài thí dụ về sự
sai lầm của chính sách viện trợ Mỹ trong dĩ văng là đă bảo trợ các nhóm thiểu số
Ki-tô tại Trung Quốc và Việt Nam để "chống Cộng." Sự thất bại của thí nghiệm
Tưởng Giới Thạch năm 1949 hay Ngô Đ́nh Diệm-Nguyễn Văn Thiệu năm 1975 là những
thất bại tiêu biểu. Ngoài ra, c̣n vấn đề Sri Lanka và Đông Timor. Liệu chính
phủ Bush và các nước Âu Châu có muốn sử dụng nhân vật lực của quốc gia ḿnh để
thành lập những tiểu quốc Ki-tô trong mỗi quốc gia thế giới thứ ba?
Nhưng gai góc nhất và là đầu mối của hiểm họa chiến tranh
trong thập niên đầu của thế kỷ XXI vẫn là cuộc tranh chấp Is-riêu/Pa-lés-tin.
Núp bóng chủ thuyết Bush, chính phủ cực hữu/quân phiệt Sharon đang t́m cách ngăn
chặn và phá vỡ mọi nỗ lực t́m ḥa b́nh tại Tây Gaza. Do ảnh hưởng của cộng đồng
Jews giàu có, nhiều ảnh hưởng, phe cực hữu/quân phiệt Sharon được sự ủng hộ của
một số dân biểu và nghị sĩ trong Quốc Hội Mỹ, cùng cánh tay nối dài của cơ quan
t́nh báo Mossad. Liên minh cực hữu/quân phiệt này đang đẩy Yasser Arafat -một
lănh tụ Pa-lés-tin ôn ḥa từng chia giải thưởng Nobel Ḥa B́nh với Thủ tướng
Yitzhak Rabin năm 1994- tới chân tường và đe dọa sẽ hủy diệt cả Arafat; như họ
đă từng giết hại Rabin năm 1995.
Phe cực đoan Pa-lés-tin, chắc chắn, cũng không muốn thấy
ông già trên 70 tuổi Arafat "mềm yếu" hay "nhu nhược" tiếp tục cầm quyền. Dù
chính phủ Mỹ và quốc dân Mỹ có thể không muốn nhận hiểu, tinh thần bài dân Jews
(anti-Zionism) đă ḥa nhập với tinh thần bài Mỹ (anti-Americanism) nói riêng, và
bài Anglo-Saxon (anti-Anglo-Saxonism) nói chung. Bao phủ và xen lẫn trong tinh
thần chống đối trên là sự kỳ thị tôn giáo, hay bài Ki-tô giáo (anti-Catholicism)
từ hơn ngàn năm trước.
So sánh giữa những trái bom người khủng bố Pa-lés-tin và
những đại pháo, hỏa tiễn, xe tăng, thiết giáp, trực thăng, khu trục khủng bố
Is-riêu, chẳng có thứ bạo lực khủng bố nào tốt. Cả hai loại bạo lực khủng bố ấy
đều là bệnh dịch của đám đông vô tội. Không ai muốn lựa chọn giữa dịch tả và
dịch hạch.
Nhị nguyên "either/or" của Bush không thể áp dụng được ở
đây một cách cứng ngắc. Đă đến lúc chính phủ Bush bảo thẳng Sharon và giới lănh
đạo Is-riêu rằng họ phải ngừng ngay quốc sách khủng bố. Niềm kiêu hănh của
chính phủ Harry Truman (1945-1953), để bù đắp cho thảm cảnh holocaust trong thế
chiến thứ hai, đang trở thành một gánh nặng cho quốc dân Mỹ. Vào đầu thế kỷ
XXI, thảm cảnh diệt chủng (holocaust) của dân Pa-lés-tin đang diễn ra ở Tây Gaza
và Jerusalem mỗi ngày. Việc Đại sứ Mỹ John Negroponte dùng quyền phủ quyết để
bác bỏ nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc về cuộc tranh chấp
Is-riêu/Pa-les-tin chỉ tạo nên những hờn oán không cần thiết, và chẳng có liên
hệ ǵ đến quyền lợi an ninh của Mỹ.
Trong nội địa Mỹ, để làm gương cho các nước thế giới thứ
ba, cần thêm một lần tự chứng minh khả năng tách biệt giữa thần quyền và thế
quyền qui định trong Hiến Pháp (Establishment Clause, Tu chính án thứ nhất).
Phải trả tôn giáo về lại khuôn viên các thánh đường. Tránh nhồi sọ thanh thiếu
niên bằng những lời cầu nguyện ở trường học hay các buổi tranh tài thể thao,
v.v.. Không thể quay mặt làm ngơ hoặc gián tiếp khuyến khích trước những nỗ lực
vặn ngược kim đồng hồ trở lại thời Trung Cổ của một thiểu số giáo mục và giáo đồ
cuồng tín. Đồng thời, tách rời quyền lợi của các Hội Truyền giáo ở hải ngoại
với chính sách ngoại giao Mỹ. Đại đa số quốc dân Mỹ không muốn thánh chiến với
Islam, và cũng chẳng ủng hộ những cuộc phiêu lưu điên cuồng tương tự. Dư luận
Mỹ đă nghiêm khắc lên án những thành phần quá khích như Franklin Graham, lănh tụ
phe cực hữu, khi ông ta lên án Islam là "ác quỉ" (evil); nhưng chưa đủ.
Chính phủ Bush cũng không nên chỉ tự tách biệt khỏi những
phần tử Ki-tô cực hữu bằng "tuyên cáo" mà cần chứng tỏ bằng hành động và quyết
tâm tương tự như việc tru diệt những phần tử khủng bố quân Islam cực đoan. Cần
nhiều kế hoạch thiết thực hơn để chứng tỏ với thế giới thứ ba rằng chính phủ Mỹ,
theo đúng qui định của Hiến Pháp, hoàn toàn trung lập về lănh vực tôn giáo.
Giai đoạn thứ ba, và có thể song song với những nỗ lực
trên, nước Mỹ nên nh́n nhận và ủng hộ sự thiết lập ṭa án h́nh sự quốc tế, và
cứu xét lại bản tuyên ngôn chống kỳ thị chủng tộc. Nước Mỹ đă đi tiên phong
trên nhiều lănh vực, từ thể chế chính trị dân chủ, tự do, phân quyền, tách biệt
quốc gia và tôn giáo, đến khoa học và kỹ thuật không gian, vi tính, y khoa, kinh
tế, v.v.. Không thể, v́ bất cứ lư do ǵ, mà chậm chân trong sứ mệnh tạo một trật
tự mới cho thế giới, trong khuôn khổ sinh hoạt tương thân, tương kính giữa các
quốc gia. (Tôi không muốn nước Mỹ phải đưa vai gánh lănh nhiệm vụ dân chủ hóa
toàn thế giới. Mà chỉ cần thiện ư và nỗ lực trong khả năng).
Bốn năm sắp tới của Bush, bởi thế, sẽ đầy thử thách. Dù
muốn dù không, Liên bang Mỹ cần duy tŕ vị thế lănh đạo trong thế kỷ XXI đầy tai
ương và bất trắc trước mắt, hơn ép buộc thế giới chấp nhận khuôn mẫu tiên thiên
do ḿnh đề xướng. Các nước Á, Phi, Trung Đông, Nam Mỹ và ngay cả Âu châu chẳng
bao giờ có được cấu trúc xă hội đặc thù của Mỹ. Bởi thế, cần biết tự giới hạn
biên cương và cường độ của mặt trận chống khủng bố quốc tế.
Một trong những lư do khiến các đế quốc tự cổ chí kim bị
suy tàn là cái họa chinh chiến liên miên. Mang lại những hậu quả khó dự đoán về
chính trị, kinh tế, văn hóa và xă hội ngay tại các đế quốc ấy!
CHÍNH ĐẠO
|
|