I.
KANT LÀ AI?
Mai Lan tŕnh bày
Thái Kim Lan chuyển Việt.
Triết gia W.Fichte có lần đă nói: “Chọn lựa một triết
học như thế nào tùy thuộc vào dữ kiện con người chọn lựa đó là ai: bởi v́
một hệ thống triết thuyết không phải là một thứ gia dụng chết mà người ta có
thể vất đi hay chấp nhận tùy theo ư thích của ḿnh, ngược lại hệ thống ấy đă
được thổi sinh khí bằng linh hồn của cái con người đă sở hữu nó.”
Do dó bài viết này t́m cách đến gần với con người Kant
qua sự t́m hiểu về cuộc đời ông, về cá tính cũng như sự bận rộn hàng ngày
của ông với các tác phẩm triết học. Kant là một người như thế nào? Tuổi thơ
ấu ông ra sao, ông đă hưởng sự đào tạo giáo huấn ǵ? Ông đă sống những ngày
ở Königsberg ra làm sao?
Kant sinh ngày 22 tháng tư năm 1724 tại Königsberg, thủ
đô lănh địa công tước Phổ, là con trưởng của gia đ́nh 11 người con. Vào thời
điểm này thành phố bến cảng Königsberg đang phồn thịnh với nền thương măi, cho
nên trên đường đi đến trường học chàng thanh niên Kant đă chứng kiến cảnh buôn
bán rộn ràng ấy và lần đầu tiên có dịp tiếp cận với nét quyến rũ của những văn
hóa xa lạ trên bến cảng có tàu bè ngoại quốc tấp nập. Nhưng Kant sẽ không bao
giờ rời thành phố ấy cả, điều này làm cho ông thường mang tiếng là một người
xa cách thế giới bên ngoài. Tuy thế ông đă viết về Königsberg như sau:
„Một thành phố lớn, trung tâm điểm của một vương quốc,
trong đó tọa lạc doanh triều của chính phủ, có một đại học (để trau dồi các
khoa học) và đồng thời lại có địa điểm cho việc buôn bán đường biển, vị thế
tạo thuận lợi cho việc giao thương nhờ có những con sông từ nội địa đổ về và
nhờ sự tiếp cận với những nước biên giới hẻo lánh có những ngôn ngữ khác
nhau,- một thành phố như thế, như thành phố Königsberg trên con sông Pregel
này, có thể được xem là một nơi thuận tiện để mở rộng kiến thức về con người
cũng như về thế giới, một nơi những kiến thức ấy có thể thu lượm được mà không
cần phải viễn du.“
Thân mẫu của ông đă ảnh hưởng sâu đậm trên sự phát triển
thời niên thiếu của ông, bởi v́ „bà đă vun trồng và nuôi dưỡng trước tiên mầm
thiện hảo trong tôi, (…) bà đă đánh thức và mở rộng những khái niệm ngôn từ
của tôi, và lời giáo huấn của bà đă có một ảnh hưởng mang an lành măi măi lên
cuộc đời của tôi.“ Thân mẫu ông đă nhận ra rất nhanh quan năng sắc bén và năng
khiếu lănh hội nhanh nhẹn của người con của bà.. Nhờ những nỗ lực của bà, Kant
được theo học một trường tốt hơn: trường trung học Collegium Friedericianum. Ở
đó ông đă nhận được sự rèn luyện cần thiết chuẩn bị cho sự đào tạo hàn lâm sau
này. Nhưng vào thời điểm này chưa thấy một dấu hiệu nào về sở thích nghiên cứu
triết lư nơi ông cả.
Thật ra Kant quan niệm rằng “Người ta phải t́m kiếm kiến
thức từ tất cả các ngành khoa học, mà không loại bỏ một ngành nào cả, ngay cả
ngành thần học, ngay khi người ta không kiếm cơm nhờ vào các ngành học ấy.”
Tại đại học Albertus-Universität Kant đă nỗi bật v́ sự quan tâm rộng răi của
ông về các môn: triết học, toán học và vật lư học. Đó là những môn mà Kant đă
dùi mài học hỏi. Ngay trong thời kỳ trên đại học Kant đă biết rơ là ông muốn
đi theo con đường của một nhà giáo khoa học. Nhưng khi Kant 22 tuổi, thân phụ
ông qua đời và ông phải rời khỏi đại học, hành nghề thầy giáo tại gia để kiếm
tiền độ nhật (Schelling, Hegel, Hörlderlin cũng đă làm như thế).
Không biết Kant đă kết thúc giai đoạn đào tạo đại học
của ông không, điều đó vẫn chưa sáng tỏ, tuy nhiên trong cùng một năm ông đă
viết một tiểu luận đầu tiên bằng tiếng Đức: “Một số suy nghĩ về sự đánh giá
đúng đắn các năng lực sinh động” (Gedanken von der wahren Schätzung der
lebendigen Kräfte). Lần đầu tiên tinh thần phê b́nh của ông được bộc rơ trong
bài viết này. Bởi v́ ở đây, vấn đề đặt ra cho Kant là phản bác hai nhân vật
trong số những tư tưởng gia nỗi tiếng thời ấy (Leibniz và Descartes).
Kant tự cho ḿnh là một người tư tưởng tự do, là kẻ
không muốn dựa vào một uy quyền nào cả, là kẻ xem lư trí của ḿnh là năng lực
phán đoán chắc chắn nhất, đúng như khi sau này ông đă đ̣i hỏi trong các tác
phẩm về khai sáng của ông. Trong tranh luận, Kant t́m cách khám phá ra những
yếu điểm của đối thủ đề phản bác những điểm này, nhưng ông cũng liên kết với
những khám phá và phát triển quan điểm riêng tư của ḿnh.
Kant cũng t́m cách hướng dẫn cho sinh viên của ông đường
lối tư duy tự do như thế, sau khi ông được ủy nhiệm chức giáo sư thực thụ năm
1770 sau nhiều năm làm giáo thụ và giáo sư tự do.
Nhưng sinh hoạt của Kant với tư cách là thầy dạy hàn lâm
viện đă không có những đổi thay đáng kể từ thời điểm ông được phong chức giáo
sư thực thụ, đơn giản bởi v́ ông đă giữ đúng y không thay đổi những tập tục
hàn lâm cũng như sinh hoạt hàng ngày. Không những trật tự hàn lâm của ông được
phân phối một cách nghiêm nhặt mà toàn thể đời sống thường nhật của ông cũng
không thể trôi chảy được nếu không có một thời khóa biểu phải giữ đúng một
cách tỉ mỉ. Đúng 5 giờ sáng Kant được người hầu tên là Lampe đánh thức với lời
hô to trước sau như một: “Đến giờ rồi!” Liền sau đó Kant bắt đầu ngồi chuẩn bị
bài giảng mà ông luôn luôn giảng vào giờ học y chang như trước. Đầy nhiệt t́nh
và hào hứng ông theo sát các buổi giảng của ḿnh, đến nỗi không bao giờ có
buổi giảng nào bị hủy bỏ hay không có một phần tư giờ giảng nào bị phí phạm.
Phương cách giảng dạy của ông không nhằm lấy những sách
giáo khoa đă có sẵn làm nền tảng mà chỉ xử dụng chúng như điểm khởi đầu cho tư
tưởng riêng mà thôi. Với phương pháp ấy ông khác biệt hẳn với những đồng
nghiệp của ông thời bấy giờ thường có thói quen giảng đọc từ các sách giáo
khoa. Lư tưởng của ông trong việc dạy là không chuyển đạt triết học như một
chất liệu có thể học được, mà khích lệ động viên sinh viên biết triết lư. Bởi
thế trong các buổi giảng ông không tŕnh bày ra những kết quả mà t́m cách động
cân năo lư luận để rút ra những khái niệm đúng thực, để chứng minh cho sinh
viên có thể theo dơi và thấy rơ được công tŕnh tư tưởng của ông qua những
khái niệm ấy. Con đường tư duy đối với Kant quan trọng hơn là mục đích. Tuy
nhiên mỗi khi ông theo ḍng tư tưởng đi lạc xa đề tài chính, th́ theo lời kể,
ông thường đơn giản cắt ngang th́nh ĺnh với mấy chữ như „vân vân và vân vân…“
rồi trở lại đề tài giảng dạy. Thật là lư thú để biết Kant đă dạy khá nhiều bộ
môn, trong đó những bài giảng về nhân chủng học và địa lư h́nh thể (physische
Geographie) lại là những bài được yêu chuộng nhiều nhất.
Kant, người không bao giờ đi xa khỏi Königsberg một vài
dặm, lại có thể mô tả một cách chính xác thế giới bên ngoài ở đâu xa h́nh thù
như thế nào, chỉ nhờ căn cứ vào văn chương du lịch. Năng lực tưởng tượng sống
động của ông đă giúp ông mang người nghe đi theo trên những chuyến du hành mà
ông chưa bao giờ thực hiện cả. (Câu chuyện về chiếc cầu Wesminster). Như thế
trong mỗi bộ môn ông có thể lôi kéo người nghe mê măi theo con đường của ḿnh
với cách biện luận sôi nổi và nhất là nhờ sự miêu tả đầy sống động.
Theo thời khóa biểu, sau buổi giảng là khoảng thời giờ
dùng cho công việc riêng tư. Trong khoảng thời gian này ông nghiên cứu triết
học một cách cật lực nhất, đến nỗi người ta rất có thể giả thuyết rằng những
tác phẩm của ông đều được h́nh thành trước giờ cơm trưa. Tuy nhiên đă chưa bao
giờ xảy ra chuyện ông bỏ quên buổi ăn trưa qua công việc này. Trước hết chính
v́ buổi ăn trưa đối với Kant là giờ nghỉ giải lao của ông. Do đấy không được
nói lời nào đụng đến các vấn nạn triết học nơi bàn ăn trưa. Kant đă có niềm
vui lớn nhất được cùng với bạn hữu của ông thảo luận vào buổi trưa về những
câu hỏi thời sự chính trị trong ngày, về những phát triển kinh tế, về những
thành tựu khoa học. Nhất là ông rất quan tâm đến những tin mới mẻ về chính trị
của cuộc cách mạng Pháp và ảnh hưỏng của nó. Theo lời kể, một buổi ăn trưa
kiểu ấy đối với những người tham dự đă là một đàm thoại vui vầy bằng hữu và
khách khứa thích đến tham dự. Tương truyền, Kant đă rất được quí mến như một
chủ nhân lư thú.
Tuy về cuộc sống yêu đương của Kant không thấy có chuyện
ǵ hồi hộp đáng kể ra và Kant đă không lập gia đ́nh, nhưng điều đó không có
nghĩa là trong những năm trẻ tuổi Kant đă không yêu hay không có quan niệm tốt
về đời sống phu thê. H́nh như Kant đặc biệt được quí mến, bởi v́ ông có thể
tạo những cuộc nói chuyện dí dơm và thâm thúy nhưng không buông thả theo giọng
dạy đời mà những người đàn ông khác hay có thói quen như thế đối với phụ nữ.
Sau buổi ăn kéo dài rũng rải Kant thường rút lui, đọc
sách hay ngồi trầm mặc, để sau đó ông bắt đầu cuộc đi dạo đúng giờ y bon từng
phút. Nghe nói những người dân Königsberg đă lên giây đồng hồ của họ theo
“cuộc đi loanh quanh” của nhà triết học. Sau buổi đi dạo Kant dành khoảng thời
gian cho đến giấc nghỉ đêm – đúng 10 giờ đêm ông lên giường - để đọc sách.
Trong đời, cuộc sống hàng ngày của Kant đă tiếp diễn một cách đều đặn và tẻ
ngắt một nhịp như thế.
Theo đuổi sự khát khao chân lư, ngay trong tác phẩm đầu
tiên, Kant đă tự đưa ra châm ngôn định hướng con đường sự nghiệp hàn lâm sau
này của ḿnh: “Giờ đây ta có thể dám mạnh dạn xem những phán đoán của Newton
và Leibniz chẳng là ǵ cả nếu nó đối lập với sự khám phá chân lư, và không
vâng theo những lời thuyết phục nào khác hơn là con đường của trí tuệ.”
Về những tác phẩm trong thời tiền phê b́nh của ông, như
chính thuật ngữ „tiền phê b́nh“ đă nói lên, chỉ cần nêu ra ở đây là những tác
phẩm này đánh dấu giai đoạn tư tưởng trước của Kant, trong đó Kant vẫn c̣n t́m
cách chứng minh sự hiện hữu của Thượng đế, điều mà sau đó măi đến trong tác
phẩm Phê Phán Lư Tính Thuần Túy ông mới chối từ. Trong giai đoạn này đă
bắt đầu thái độ hoài nghi đối với sự lạc quan của Khai sáng, mà theo ông sự
đ̣i hỏi đối với lư trí quá cao xa.
Như thế Kant triển khai “sự phê b́nh của lư trí thuần
túy” với một tựa đề có nghĩa gấp đôi bằng ngữ phạm “genetiv” (thuộc cách)
“của” (“der”). Nghĩa thứ nhất nên được hiểu đây là sự phê b́nh về lư trí (một
sự phê b́nh thực sự được đặt ra ngay từ đầu), nghĩa thứ hai đây là một sự phê
b́nh do lư trí đảm nhận. Với công cuộc phê b́nh Kant muốn đem triết học (siêu
h́nh học) trở về trên nền tảng chắc chắn của dữ kiện thực tế.
Tác phẩm quan trọng nhất về triết học thực tiễn của ông
là quyển Phê Phán Lư Tính Thực Tiễn đă được chuẩn bị trước đó bằng sự
“đặt nền tảng cho nền siêu h́nh học về đức lư“ (tên của tác phẩm). Ở đây Kant
lư giải “qui luật đạo đức “trong” ông, đó là Mệnh lệnh Phạm trù: hăy hành
động chỉ theo châm ngôn nào mà với châm ngôn ấy đồng thời anh có thể mong muốn
nó trở nên một qui luật phổ quát.”
Thêm vào đó những tác phẩm Phê B́nh Năng Lực Phán
Đoán, Tôn Giáo Trong Giới Hạn Của Lư Trí Thuần Chất. Tác phẩm chính
trị có Hướng Về Một Nền Hoà B́nh Vĩnh Cữu…
Kant, người đă muốn đem triết học trở lại trên con đường
đúng đắn, đă muốn vén màn ảo tưởng của nền siêu h́nh học đương thời, người đă
thách đố những nhà tư tưởng đương thời cho những lư tưởng của ḿnh: Tự do,
B́nh đẳng, Tự chủ, đă từ trần trước đây 200 năm vào ngày 12/02/1804 với lời
thốt ra: “Tốt rồi!” Ư nghĩa của mấy chữ ấy măi măi vẫn c̣n là một sự bí mật.
Cũng như thế, sự tương phản trong con người của ông! Bởi v́ không đáng ngạc
nhiên sao, khi thấy đàng sau một cuộc đời trong mắt người người ngoại cuộc
thật là chật hẹp g̣ bó lại có thể nảy nở một tinh thần tự do đến như thế?
Mai Lan
II.
PHẦN DẪN LUẬN và DIỄN TIẾN HỘI THẢO
Thái Kim Lan ghi
Tác phẩm Phê Phán Lư Tính Thuần Túy của triết gia
Đức Immanuel Kant do Bùi Văn Nam Sơn dịch, Văn Học xuất bản 2004 tại thành phố
HCM, đă được sự hỗ trợ của Viện Goethe tại Hà Nội và cơ quan
Goethe-Internationes tại Bonn về công tác dịch thuật trong chương tŕnh tuyển
tập văn học Đức-Việt do một nhóm giáo sư Đức và chúng tôi chủ biên.
Nói điều ấy để chỉ nêu lư do tại sao có hai buổi “hội
thảo chuyên đề” trong chương tŕnh sinh hoạt văn hóa tam cá nguyệt của viện
này tại Việt Nam và đă được thực hiện tại Huế và Hà Nội. Tại Huế trong hợp tác
với Học Viện Phật Học VN, tại Hà Nội do chính Viện Goethe tổ chức.
Ư định giới thiệu tác phẩm dịch Việt này thật ra đă có
từ ngay khi quyển sách được xuất bản Ông Giám đốc Viện Goethe đă đề nghị với
tôi từ tháng năm, nhưng lần lữa lịch tŕnh, cho nên măi đến tháng 9 năm nay
ngày giờ mới có thể xác định. Theo dự tính, Viện Goethe muốn giới thiệu tác
phẩm này cũng như triết học của Kant với tính cách nghiên cứu sâu hơn, cho nên
chúng tôi đồng ư chia làm hai phần:
- phần giới thiệu tác phẩm Việt dịch có dẫn luận triết
học của Kant vào tháng 9 năm nay với độc giả Việt Nam, không có tham gia của
chuyên gia Đức.
- phần nghiên cứu triết học Kant với chuyên đề Đạo Đức
học và những đề tài so sánh vào đầu năm 2005 sẽ có tham gia của các giáo sư
Đức và Việt Nam.
Đi Việt Nam lần này như thế với nhiệm vụ gấp đôi: một
nhiệm vụ thường xuyên: giảng dạy Triết học Tây phương tại Học Viện Phật Học
Huế như mọi năm khai giảng đầu tháng 9 và một nhiệm vụ đặc biệt: giới thiệu
tác phẩm đồ sộ dịch thuật của Bùi Văn Nam Sơn.
Đến Sài g̣n không ngờ lại thêm một nhiệm vụ nữa: anh Bùi
Văn Nam Sơn (cũng như anh Lê Nguyên Đại của nhà sách Trẻ, người “liều lĩnh” -
như anh tự phê - đảm nhận in tác phẩm này) không thể ra Huế và Hà Nội để giới
thiệu công tŕnh của anh, mà gởi gắm cái quyển sách dày cộm nặng tŕnh trịch
ấy cho tôi với một lời chào nhắn xin lỗi mọi người và với một con mắt ái ngại
khi thấy cả bàn tay mỏng manh của tôi cũng chưa đủ để nắm trọn cuốn sách đem
đi.
Hành trang ra Huế và Hà Nội lần này hóa ra lỉnh kỉnh với
sách là sách, mà quyển mô quyển nấy nặng gần 2 kư. Chúng tôi phải đem sách ra
Huế và ra Hà Nội, nhất là ra Huế, nghe nói ngoài ấy chưa ai biết đến mặt mũi
quyển sách của ông Kant, ngoại trừ một số thức giả được dịch giả gửi tặng.
Chẳng biết ông Kant có thấu rơ nỗi đoạn trường lễ mễ sách vở này không? May
sao tôi có một người đồng hành tươi trẻ là Mai Lan, con gái của tôi cũng theo
về và sẽ đi thực tập tại viện Goethe ở Hà Nội trong dịp này. Chuyến đi do đấy
nặng mà nhẹ như mây bay thoáng qua khung cửa phi cơ từ Saigon đến Huế.
Hội thảo chuyên đề tại Huế ngày 18/09/2004.
Trong dịp khai giảng niên học mới của Học Viện Phật Học,
buổi hội thảo về tác phẩm dịch Việt Phê Phán Lư Tính Thuần Túy h́nh như
là một dấu ấn hoa mai ghi lại một sinh hoạt trí thức rộng (giao lưu) và sâu
(chuyên đề) trong chương tŕnh giảng huấn của học viện (như lời của Ban giảng
huấn Học Viện) và cho những người đến tham dự (mà tôi đă nghe b́nh luận sau
buổi họp), cho nên được tổ chức rất trang trọng và mặn nồng.
Chúng tôi, Thầy Hải Ấn, phó Viện trưởng và tôi, đón ông
Augustin Giám Đốc viện Goethe đi cùng với Mai Lan (đă ra Hà Nội thực tập) và
cô Marem Witte (thực tập sinh tại viện Goethe như Mai Lan) lúc 8 giờ sáng ngày
18/09/2004 tại nhà ga Huế.
Ông Augustin chỉ có thể ở Huế trong ṿng 10 tiếng đồng
hồ và phải trở lại ngay ngày hôm ấy, do công việc tràn ngập chuẩn bị ngày khai
trương Viện Goethe về địa chỉ mới và đón Thủ tướng Đức Schröder sang tham dự
Hội nghị ASEAN liên kết với Âu châu tại Hà Nội vào đầu tháng mười.
Trông bận bịu đến ngạt thở là mấy khuôn mặt của “phái
đoàn Hà Nội” xuất hiện ở nhà ga Huế. Thế nhưng trong không khí êm lắng của
chùa Từ Đàm vào buổi xế mai, buổi điểm tâm chay tịnh hiền lành nhưng không kém
thịnh soạn trong con mắt của người Đức đă làm nở những nụ cười thỏa dạ. Sau
buổi điểm tâm, th́ giờ chỉ c̣n đủ kịp để người Giám đốc qua quán cúp tóc
“local” của anh Bé bên cạnh nhà “làm tốt” (tiếng Huế để chỉ sửa soạn tươm tất)
(gồm có cắt tóc gội đầu và váy tai!!!) và những người khác rũ áo bụi đường và
thay áo.
12 giờ rưỡi dùng cơm trưa ở chùa Từ Đàm với Viện trưởng
Viện Phật học và ban Giám học và duyệt lại chương tŕnh hội thảo lúc 15 giờ
tại Học Viện Hồng Đức.
15 giờ bắt đầu cuộc hội thảo.
Chương tŕnh: Lời chào mừng của Thầy Viện trưởng Thích
Chơn Thiện. Giám đốc Viện Goethe đáp từ và giới thiệu sơ lược sự xuất hiện của
tác phẩm Phê Phán Lư Tính Thuần Túy do Bùi Văn Nam Sơn dịch, tiếp theo
Thái Mai Lan giới thiệu tiểu sử của Kant bằng tiếng Đức, Thái Kim Lan dịch tại
chỗ, cuối cùng phần dẫn luận triết học của Kant trong cuốn Phê Phán Lư Tính
Thuần Túy do Thái Kim Lan đảm nhận.
Hôm ấy người đến tham dự đông đảo. Khoảng 200 ghế của
Giảng Đường Hồng Đức hầu hết đều được chiếm, một số người không vào được đă
tham dự qua phóng thanh trong hành lang tầng dưới. Ngoài quí thầy trong ban tổ
chức và tăng ni sinh của Viện, thấy có mặt khoảng 80 học giả, trí thức Huế như
dịch giả và giáo sư Bửu Ư, nhà nghiên cứu Huế học Phan Thuận An, các giáo sư
Tôn thất Qụy, Nguyễn Tư Trinh, Cao Huy Hoá (đại học dân lập Phú Xuân), Lê Văn
Lợi, Tống Viết Mẫn (vừa là nhà thơ), Mai Châu (hoạ sĩ), Nguyễn Văn Dũng (nhà
văn), bác sĩ Phạm Xuân Quế, dược sĩ Đỗ thị Thuận, bác sĩ Dương Đ́nh Châu, từ
Mỹ có chị dược sĩ Bội Tiên (vợ bác sĩ Tôn Thất Chiểu) và đại diện của chùa
Liễu Quán (Cali), một số đông đảo cựu giáo sư Quốc học Đồng Khánh v.v…
Ông Augustin đáp lời chào mừng của Thầy Viện trưởng với
lời nhận xét xúc động là từ trước ông chưa bao giờ đứng trước một cử tọa đông
đảo như thế. Ông vui mừng giới thiệu một tác phẩm triết học quan trọng nhất
của truyền thống tư tưởng nước Đức đă được chuyển sang tiếng Việt. Ông trân
trọng cám ơn ông Bùi Văn Nam Sơn đă dày công chuyển dịch một tác phẩm mà đối
với chính người Đức cũng không phải là dễ dàng để đọc và hiểu. Ông không ngại
ngùng thú nhận rằng chính ông cũng chưa đọc hết tác phẩm ấy nhưng tầm quan
trọng của nó trong lịch sử triết học Đức thật là lớn lao và tính thời sự của
nó ngày hôm nay không thể bỏ qua, nhất là tinh thần phê phán, quan điểm tri
thức luận và quan điểm đạo đức học của Kant. Ông mong muốn trong tương lai
những buổi hội thảo giao lưu sẽ được tổ chức tiếp theo và cho biết khoảng
tháng Giêng năm 2005 sẽ có một hội thảo chuyên đề về Đạo Đức học của Kant với
sự hiện diện của các giáo sư chuyên môn Đức-Việt, tại Huế Hà Nội và thành phố
HCM. Tại Huế ông mong sẽ được gặp lại cử tọa trong khung cảnh của Học Viện Huế
như ngày hôm nay và kết thúc với lời cám ơn sự hiếu khách của Học Viện PH và
sự đóng góp của Thái Kim Lan.
Thái Mai Lan, sinh viên Triết học tại Đại học văn khoa
Munich, đă tŕnh bày khoảng 20 phút tiểu sử của Immanuel Kant bằng tiếng Đức
được tuần tự dịch Việt. Bài viết đă được soạn tại Hà Nội, bộc phát theo lời
yêu cầu của ông Augustin. Ngoài những dữ kiện lịch sử, bài viết c̣n nêu rơ
những đặc điểm tư duy của chính CON NGƯỜI I.Kant: phương pháp giáo khoa
(didaktisch) của ông nhằm giúp sinh viên của ông phát triển khả năng tư duy,
có nghĩa là khả năng lư luận và phán đoán khách quan độc lập, bỏ thói quen
“học gạo, học tủ” hay dựa vào kinh điển. Tinh thần phê b́nh của ông nhằm để
khai phá chân lư và bảo vệ chân lư từ sự tự chủ của con người, có nghĩa là dựa
vào sức mạnh của Lư trí và không để một tha lực uy quyền hay một danh nhân nào
khuynh loát dù đó là Newton hay Leibniz.
Phần “dẫn luận” của Thái Kim Lan đă được HVPH in ra,
đóng thành tập nhỏ để phát cho các người tham dự dễ theo dơi. Những điểm chính
của dẫn luận đă đuợc đề ra sơ lược. Trong giới hạn thời gian của buổi hội
thảo, tác giả dẫn luận gây sự chú ư đến tác phẩm bằng cách giải thích chính
tựa đề của tác phẩm. Từ giải thích tựa đề Phê Phán Lư Tính Thuần Túy ta
có thể t́m thấy được chủ ư tư tưởng trong công tŕnh triết học của Kant mà Mai
Lan cũng đă nêu dẫn trong bài về tiểu sử: một cuộc phê phán như là tiến tŕnh
phân biệt, biện biệt của lư trí thuần túy có đối tượng là chính “lư tính thuần
túy” bằng phương pháp khảo sát và luận giải siêu nghiệm (transzendentale
Eroerterung). Phương pháp khảo sát siêu nghiệm truy tầm khả năng nhận thức của
Lư tính trong điều kiện khả thể của nó: trả lời về “những điều kiện khả thể
của phán đoán tổng hợp tiên thiên” (Bedingungen der Möglichkeit der
synthetischen Urteile a priori) mở ra khả thể chẩn định giá trị khách quan
thực tại của các phạm trù tiên thiên đồng thời nêu lên được giới hạn của khả
năng nhận thức trên lănh vực siêu h́nh. Khảo sát siêu nghiệm đi từ một câu hỏi
của lư tính về điều kiện tính của khả năng nhận thức cho thấy lư tính có thể
tự tin vào khả năng truy nguyên chân lư mà không cần viện dẫn đến một cơ sở
ngoại tại siêu việt (Fundament). Với sức mạnh của khả năng phê phán siêu
nghiệm Kant đă trả lại chủ thể vai tṛ chủ đạo của nó trong nhận thức sự vật,
không phải đối tượng nhận thức mà chính chủ thể là người viết qui luật cho đối
tượng. Với tư cách là chủ thể, lư tính con người bao hàm toàn thể khả năng trả
lời những câu hỏi mà con người đặt ra cho chính ḿnh: “Tôi có thể biết ǵ? Tôi
nên làm ǵ ? Tôi được phép hi vọng điều ǵ” và “con người là ǵ?”. Minh triết
về những câu hỏi ấy sẽ đưa con người từ là một cá nhân riêng lẻ đầy mâu thuẫn
trở thành một công dân tự do trong toàn hoàn vũ (freier Weltburger) mà lư tính
là nển tảng đại đồng của nhân loại. Diễn giả từ đó nêu lên những điểm tương
đồng giữa tư tưởng của Kant trong Phê Phán Lư Tính Thuần Túy và triết
lư Phật học, trong đó khả năng giải phóng luân hồi nằm trong tri thức chân
thật của con người và ư niệm Phật tính đă có sẵn trong mỗi người tương đương
với khả năng nhận thức bản lai chủ thể là những điểm tương đồng nỗi bật. Những
điểm này sẽ được đào sâu trong các buổi giảng về triết học của Kant tại học
viện.
Thay mặt Học Viện PH, thầy Giác Quang cám ơn ông
Augustin và tất cả mọi người đă đến tham dự. Đúc kết nội dung Thầy đưa ra hai
điểm tâm đắc rút từ hai bài thuyết tŕnh: ḷng yêu chân lư của Kant và sự vô
úy vượt trên mọi thế lực ngoại tại trong việc bảo vệ chân lư và tính nhân bản
trong triết thuyết của ông. Thầy nhận định: “Kẻ nào yêu chân lư kẻ đó gần với
Phật và học thuyết nào nhân danh con người và v́ sự lợi ích của chúng sinh,
học thuyết ấy không xa đạo Phật.” Hy vọng trong tương lai, gần nhất vào tháng
Giêng 2005, Học Viện sẽ có những buổi trao đổi học thuật lư thú như ngày hôm
nay.
Thầy kết luận. Tiếc thay buổi hội thảo phải chấm dứt lúc
18 giờ không có thảo luận v́ ông Augustin phải ra phi trường. Trên xe, ông
Giám đốc viện Goethe không quên bày tỏ ấn tượng tốt đẹp về sự tổ chức chu đáo
có nề nếp của Học Viện và sự quan tâm về triết học của người tham dự. Ông bảo,
ở Hà Nội có lẽ con số người tham dự sẽ khiêm tốn hơn, một phần v́ pḥng ốc
không đủ rộng.
H́nh như đă có một niềm “hỉ lạc tri thức” nào đó dấy lên
từ những khuôn mặt của người đến tham dự. Anh Phan Thuận An cho rằng lâu lắm
mới có một buổi hội thảo cởi mở với một đề tài triết học như thế tại Huế.
Nhiều người cho rằng, những điểm tương đồng với Phật giáo có thể là ngơ vào để
t́m hiểu thêm tư tưởng của Kant, mà một thời rất lâu tư tưởng này đă xuất hiện
như một bí ẩn do chướng ngại ngôn ngữ. Tác phẩm dịch Việt của Kant quả thật là
một tin vui. Anh Bửu Ư, ngoài cảm tưởng sảng khoái được sống lại không khí
“đại học” (chữ của anh Ư) trong một không gian ḥa nhă, trí tuệ và hoan hỉ tại
học viện (anh nói xúc cảm hơn là sự tóm tắt của tôi). Bửu Ư đặt vấn đề liên hệ
đến thuật ngữ dịch thuật, tôi cho là một câu hỏi quan trọng nhất trong buổi
giới thiệu sách dịch Việt của Bùi Văn Nam Sơn ngày hôm ấy. Thắc mắc này chính
tôi cũng đă đưa ra khi đọc bản dịch sơ khởi của Bùi Văn Nam Sơn và có lẽ là
thắc mắc chung của đa số trí thức miền Nam và một số anh chị em trí thức miền
Bắc thuộc thế hệ 50: Phê b́nh hay phê phán? Lư tính hay lư trí? để đơn cử một
ví dụ. Khổ thay ngay cả thuật ngữ “Vernunft” (lư trí, lư tính) mà Kant dùng
lại rất đa nghĩa: nếu nó chỉ khả năng hay chức vụ (Funktion) th́ nó nên hiểu
là Lư trí, nhưng trên b́nh diện thể tính (Ontologie) nó chỉ thể cách
(Ontologie) của lư: có nghĩa là Lư tính. Heidegger đă nghiên về lư giải sau.
Nhưng chưa chắc những người thuộc trường phái Kant đồng ư…Cũng thế thuật ngữ
“Kritik” nếu hiểu theo thuật ngữ hy lạp là phân biệt biện biệt th́ “phê b́nh”
đúng hơn “phê phán”? Nhưng trong tác phẩm của Kant ông lại ưa thích lấy tỉ dụ
vai tṛ của quan toà, toà án trong cuộc phân xử tri thức siêu h́nh học của
“Vernunft” –Lư tính (xem Phê Phán Lư Tính Thuần Túy do Bùi Văn Nam
Sơn). Tiêu chuẩn khách quan nào ấn định sự chọn lựa hay đă có sẵn một qui định
thuật ngữ?
Điểm này và một số câu hỏi trong buổi hội thảo tại Hà
Nội sẽ trở nên một cụm đề tài lư thú và không kém phần quan trọng về vấn đề
thống nhất thuật ngữ dịch thuật trong tiếng Việt, nhất là thuật ngữ triết học.
Tôi rất mong sẽ có những buổi hội thảo trong và ngoài nước về những đề tài
này, khởi sự với tác phẩm Phê Phán Lư Tính Thuần Túy và với sự hiện
diện của dịch giả.
2.
Ngày 25. 09. 04 lúc 15 giờ, hội thảo chuyên đề tại Viện
Goethe Hà Nội.
Chương tŕnh và nội dung hội thảo không thay đổi, nhưng
người tham dự được ngồi trong một pḥng họp được trang bị hiện đại hơn ở Huế
với máy nghe chuyển ngữ cá nhân có chuyên viên phiên dịch là anh Hoài. Số
người tham dự gần đúng với số ghế trong pḥng, trên dưới 50 người.
Có các anh: Nguyễn Trọng Chuẩn, viện trưởng viện triết
học Hà Nội, Nguyễn Huệ Chi viện Hán học, Nguyên Ngọc, Vũ Kim Bảng viện ngôn
ngữ, Ngô Quang Phục (dịch giả Faust, Goethe), Hoàng Ngọc Hiến, Dương Tường
(dịch giả Blechtrommel của G. Gras), Hoàng Ngọc Bích, Hoàng Chương
(viện bảo tồn văn hóa), chị Lê thị Nga (Đại học sư phạm Đức ngữ), chị Phương
Quỳnh, chị Hoàng thị Châu (du học Đông Đức thập niên 50-60) và sinh viên các
trường đến tham dự.
Buổi hội thảo tại Hà Nội linh động v́ có thảo luận.
Mai Lan kết luận bài tiểu sử I. Kant với một câu hỏi về
ư nghĩa câu nói cuối cùng của Kant trước khi ĺa đời: “Tốt rồi!”, ông muốn nói
cái ǵ là tốt? Cuộc đời ông? sự nghiệp ông? triết học của ông? Hay giây phút
ĺa đời?
Tôi hướng câu hỏi của Mai Lan về các bậc thức giả để mở
đầu buổi hội thảo, bởi v́ đây là cơ hội để em được các bậc thức giả có kinh
nghiệm chỉ giáo và học hỏi thêm. Không khí hội thảo trở nên thân thiện và nhân
ái với nhận định sự vô úy đạt được của một nhà hiền triết b́nh thản trước cái
chết. Không sợ chết phải chăng là mục đích của sự cố gắng chế ngự cái chết cần
đạt được trong kiếp người? Mà triết học là con đường tri thức đem đến sự vô
úy?
Ông Augustin tham dự cuộc thảo luận tiếng Việt với máy
nghe phiên dịch và đă can thiệp vào các câu hỏi có tính lịch sử địa lư như
Königsberg bây giờ thuộc về nước Nga, triết học của Kant như vậy thuộc về nước
nào. Trước sau Kant vẫn là một triết gia Đức, phản ảnh và tác tạo trong truyền
thống tư tưởng người Đức, điều ấy được chấp nhận như một hiển nhiên lịch sử.
Hai phát biểu nổi bật mà tôi có thể đem về làm quà cho
Bùi Văn Nam Sơn là phát biểu của anh Hoàng Ngọc Hiến và anh Nguyễn Trọng
Chuẩn. Anh Hoàng Ngọc Hiến cho rằng công tŕnh dịch thuật của Bùi Văn Nam Sơn
đáng được tán thán ca ngợi là một công tŕnh vĩ đại. Với Phê Phán Lư Tính
Thuần Túy Việt dịch, ta có thể tin tưởng vào ngôn ngữ tiếng Việt đa dạng
và phong phú. Bùi Văn Nam Sơn đáng được giải thưởng về dịch thuật. Không những
bản dịch của Bùi Văn Nam Sơn chính xác so với bản tiếng Nga, những chú giải
trong bản dịch chứng tỏ công tŕnh nghiên cứu tỉ mỉ và công phu của người
dịch. Anh Nguyễn Trọng Chuẩn cũng xác nhận tính trung thực của bản dịch khi
đối chiếu với bản dịch tiếng Nga, nhưng anh cho biết ở một vài chỗ trong sách
dịch, đoạn văn ở phần trên lại khác với cùng một đoạn văn được đưa ra trong
chú thích ở dưới. Đây là những nhắc nhở rất quí báu bổ ích, v́ kinh nghiệm cho
thấy những lỗi này thường phạm phải như bị “ma xó thu dấu” đến vô cực trong
lúc duyệt sửa bản thảo hơn 1200 trang. Anh Nguyễn Huệ Chi nhận xét với tiếng
cười hài ḥa rằng, „thật vui khi nghe ngay cả ông Giám đốc Viện Goethe thú
nhận cũng chưa đọc hết tác phẩm của Kant, ḿnh cũng chưa đọc nó và phần đông
người tham dự cũng chưa đọc, nhưng buổi nói chuyện gây hứng thú thúc dục t́m
kiếm tác phẩm ấy để đọc… một lần“. Anh Vũ Kim Bảng cũng nêu lên thắc mắc dịch
thuật tương tự như ư kiến của anh Bửu Ư. Một tham dự viên trẻ thắc mắc về lới
hành văn khổ độc của Kant so với Marx, một nữ sinh viên triết học, em Phương
Mai (con gái của anh Nguyễn Trọng Chuẩn) muốn t́m hiểu thêm về nhân chủng học
của Kant mà tôi hứa sẽ cung cấp tài liệu. Buổi hội thảo đă có thể c̣n tiếp tục
trong không khí cởi mở và hứng thú nếu ông Augustin không lên tiếng mời mọi
người ra sân dùng trà và thúc ăn nhẹ cũng như kết thúc buổi hội thảo với lời
cám ơn tham dự. Trước khi rời pḥng họp, chị Phương Quỳnh và chị Hoàng thị
Châu đă bày tỏ niềm vui được nghe về “Kant”, tuy c̣n trừu tượng xa lạ, nhưng
đă thấy “gần” trong ngôn ngữ Việt. Thật là một lời nhắn “đẹp” cho dịch giả Bùi
Văn Nam Sơn .
Với hai buổi hội thảo chuyên đề này, tôi nghĩ mục đích
khiêm tốn nhằm giới thiệu tác phẩm triết học của I. Kant do Bùi Văn Nam Sơn
dịch đă đạt được kết quả khởi đầu. Nói khởi đầu v́ tôi hi vọng trong tương lai
sẽ có những buổi hội thảo sâu rộng về tác phẩm này trên hai phương diện ngữ
học và triết học với sự quan tâm góp ư của các độc giả và thức giả Việt Nam
trong và ngoài nước. Theo tôi nghĩ đó cũng là sự mong ước của anh Bùi Văn Nam
Sơn.
Cuối cùng, bên cạnh niềm hỉ lạc tri thức mà tôi được
chia xẻ với mọi người trong những buổi hội thảo chuyên đề vừa qua, có một niềm
vui như con lạch nhỏ tươi mát chảy nhẹ qua tâm hồn mà tôi xin một lần riêng tư
để nhắc đến, đó là được ngồi với Mai Lan nơi bàn hội thảo cùng nh́n về một
hướng. Từ đó cảm nghe được sự gần gủi trong đôi mắt và sự chăm chú của những
người tham dự trẻ, mà mỗi tra vấn học hỏi của họ cho thấy sự quyết tâm t́m
hiểu, tính ham học, ham trau dồi tri thức của tuổi trẻ, đối với tôi như một ân
huệ ban thưởng gửi đến không cho riêng ḿnh mà cho dịch giả, cho những bậc
tiền bối và mọi bạn đọc xa gần chung cuộc.
München 1/11/2004.
Thái Kim Lan (ghi).