|
NGÔ Đ̀NH DIỆM LÀ AI?
Suốt nửa thế kỷ đầy xương máu, nhục nhằn, phẫn hận vừa
qua, đă có những nỗ lực «phong thánh» cố Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm trong khối văn
chương b́nh dân và tuyên truyền của miền Nam. Khối văn chương «cung văn » này,
hẳn nhiên, hầu như hoàn toàn trái ngược với sự thực sử học. Thực sự Ngô Đ́nh
Diệm là ai? Chính Đạo đă trả lời câu hỏi ấy.
Chuyển Luân
Sơ lược tiểu sử
JEAN BAPTISTE NGÔ Đ̀NH DIỆM (1897-1963):
THỜI KỲ CHƯA NẮM QUYỀN, 1897-1954
Bài này là chương mở đầu Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng
của Chính Đạo (Houston, TX: Văn Hóa, 2004), đă được bổ khuyết vài lỗi lầm khi
sắp chữ và kỹ thuật. Những thắc mắc về hai tiếng ‘thánh chiến’ nếu có, sẽ được
giải đáp khá rơ ràng qua những chi tiết trong bài.
Quí vị yêu sách, xin liên lạc: Hoàng Đỗ Vũ, Po Box 721049,
Houston, Tx 77272-1049.
Ngày 25/4/1961, Tướng Edward G. Lansdale -người được coi
như hiểu biết rất rơ Việt Nam Cộng Ḥa [VNCH]-viết báo cáo lên Thứ trưởng Quốc
pḥng Roswell L. Gilpatric, Chủ tịch Ủy Ban Đặc Nhiệm Việt Nam (Presidential
Task Force on Vietnam), về ‘No Din Zee'em’ (Ngô Đ́nh Diệm) như sau: ‘Ông ta lùn,
mập tṛn. . . Nhiều người không chú ư đến cặp mắt đen hay liếc trộm [snapping]
của ông ta mà chỉ chú ư đến cặp gị vừa đủ chạm mặt đất khi ngồi. Tuy nhiên, ông
ta không cảm thấy ngượng ngùng về chuyện lùn, và có vẻ rất tự nhiên chung quanh
những người Mỹ cao lớn. . .Ông ta tỏ vẻ ăn uống ngon lành (và thường có sở thích
ăn ngon). Nụ cười của ông ta có vẻ e dè và bất thường. . . Diệm sinh ngày
3/1/1901. . . Năm 25 tuổi [1926], Diệm đă được cử làm quan đầu tỉnh. Nhưng sau
‘sáu tháng làm Thượng thư’ Diệm từ chức, trở thành ‘người hùng thực sự của người
Việt.’ Từ đó, anh em Diệm ‘âm thầm chống cả Pháp lẫn Cộng Sản.’ Diệm là một
người độc thân 60 tuổi, ‘đă cắt bỏ mối t́nh với người yêu đầu đời để dâng hiến
cho tổ quốc.’(1)
Thực ra, Lansdale dường không muốn viết rơ, hoặc không
biết nhiều về Diệm. Hầu hết chi tiết về hộ tịch Diệm cũng như thành tích chống
Pháp của Diệm và gia đ́nh Ngô Đ́nh Khả, đều thiếu chính xác. Các học giả thế
giới cũng chẳng bận tâm đến việc tu chỉnh lại tiểu sử người cầm đầu phe thua
cuộc.(2) Đáng buồn hơn nữa, lịch sử Việt Nam, dưới mắt nhiều học giả thế giới,
chỉ là một thứ câu chuyện thêm thắt vào [anecdotes] chính sách và sự can thiệp
của các cường quốc như Mỹ, Nga, Trung Hoa, Pháp, Bri-tên, Nhật, v.v... Người
Việt cũng có lư do riêng để không muốn thấy có một tiểu sử chính xác về Diệm, từ
chính trị, tôn giáo, tới ư thức hệ. Nên chẳng ngạc nhiên khi khối văn chương
hiện hữu về họ Ngô hay Đệ nhất VNCH tràn ngập những lời ‘cung văn’ hoặc ‘đào
mộ’, bất chấp sự thực.
Bài viết này nhằm điền vào khoảng trống nói trên. Tư liệu
chúng tôi sử dụng cơ bản là tập tiểu sử chính phủ Diệm do cơ quan an ninh Pháp
thành lập vào tháng 7/1954, hiện vẫn c̣n chưa giải mật. Ngoài ra, c̣n nhiều tư
liệu văn khố Pháp, Mỹ, Nga, Trung Hoa, cùng các tài liệu nguyên bản khác.
I. SƠ LƯỢC GIA THẾ:
Ngô Đ́nh Diệm, ngoài tên ‘thánh’ Jean Baptiste [Gioan
Bao-xi-ta], c̣n có bí danh Nguyễn Bá Chinh. Theo tài liệu văn khố Pháp, Diệm
sinh ngày 27/7/1897 tại Đại Phong [Phuong] hay Đại Phong Lộc, huyện Lệ Thủy,
tỉnh Quảng B́nh.(3) Cha là Ngô Đ́nh Khả (1856-1914), một tín đồ Ki-tô tân ṭng,
xuất thân thông ngôn cho Pháp, sau đổi qua ngạch quan lại Việt, lên tới Đề đốc
Kinh thành (1905-1907). ‘Mẹ’ là Phạm Thị Thân.
Anh em Diệm khá đông, gồm sáu trai, hai gái. Ngô đ́nh
Khôi, con vợ lớn, là anh cả. Diệm, theo lời đồn, đứng hàng em của Khôi, Ngô đ́nh
Thục, và anh Ngô Thị Hiệp (bà Cả Lễ; chồng là Nguyễn Văn Ấm, sinh ra Hồng y
Nguyễn Văn Thuận), dù tuổi ‘chính thức’ Diệm lớn hơn Thục hơn hai tháng. Dưới
Diệm có Ngô đ́nh Nhu, Ngô đ́nh Cẩn, Ngô đ́nh Luyện, cùng một người em gái khác.
V́ Khả chết khi Diệm c̣n nhỏ (17 tuổi khai sinh), Khôi quyền huynh thế phụ. Khôi
chết, Thục có ảnh hưởng nhất trên Diệm, với cương vị một Giám mục.
Cha đỡ đầu của Diệm là Nguyễn Hữu Bài (1863-1935), nhạc
phụ Khôi, một thủ hạ cũ của Khả, cũng một Thượng thư uy quyền và đầy mưu mô tại
Huế từ 1907 tới 1933. Theo tài liệu Pháp, Bài đă nuôi dưỡng Diệm từ nhỏ. Bài
cũng có ư định chọn Diệm làm con rể, nhưng v́ lư do nào đó không thành. Con gái
Bài sau đi tu ḍng kín Carmel.(4)
Sau ngày lên cầm quyền ở miền Nam, Diệm bỗng đổi ngày sinh
thành 3/1/1901. Chẳng hiểu tại sao có việc ‘thay đổi’ hộ tịch trên. Việc thay
tên, đổi họ và ngày sinh tháng đẻ là việc thường xảy ra ở Việt Nam. Trước hết,
vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, việc khai hộ tịch không được kiểm soát chặt
chẽ. Các viên chức xă ấp tại thôn quê không đặt nặng sự chính xác về ngày sinh
của trẻ em. Cha mẹ nhiều khi khai rút tuổi con cái để nhắm mục đích nào đó, như
đi học hay khai sưu thuế. Hơn nữa, việc đổi từ ngày nhật (dương) lịch qua nguyệt
(âm) lịch rất phức tạp, đôi khi cha mẹ dùng ngày tháng sinh nguyệt lịch làm ngày
tháng nhật lịch, rồi dùng năm nhật lịch tương đương trong khai sinh. Thông
thường, cha mẹ hay khai rút tuổi các con. Nhưng rất hiếm trường hợp cha mẹ khai
con ḿnh tăng thêm ba bốn tuổi, ngoại trừ có biệt lệ nào đó. Phải chăng Diệm rơi
vào trường hợp đặc biệt này, v́ nếu sinh năm 1901, Diệm không thể nào được tập
ấm chức Cửu phẩm và làm việc tại Tân Thư Viện Huế năm 1917, khi mới 16 tuổi.(5)
Theo Luyện, em út trong gia đ́nh họ Ngô, Diệm đă khai tăng
bốn tuổi (tức từ 16 lên 20 tuổi) để có thể vào trường Hậu Bổ. Điều này khó tin,
v́ măi tới năm 1918-1919, Diệm mới học trường Hậu bổ.(6) Luyện cũng là nhân
chứng không đáng tin cậy. Thí dụ như khi được hỏi về vai tṛ chính trị của
Luyện, Luyện nói được lệnh ‘đứng ngoài chính trị.’ Thực tế, từ thập niên 1940,
Luyện đă hoạt động với các tổ chức thân Nhật, và trở thành đặc sứ của Diệm với
Bảo Đại, trước khi nắm chức Đại sứ tại London. Luyện cũng tung ra những tin đồn
về giao t́nh giữa Luyện và Bảo Đại, mà theo Bảo Đại không hề có.(7) Và, như đă
lược nhắc, Diệm được tập ấm chức Cửu phẩm, làm việc tại Tân Thư Viện Huế từ năm
1917, trước khi vào trường Hậu Bổ.
Một kư giả ngoại quốc, Robert Sharplen, th́ ghi rằng theo
Diệm, khoảng năm 1915-1916, Diệm đă man khai hộ tịch để dự thi bằng tương đương
tốt nghiệp trung học.(8) Chi tiết này hoàn toàn sai sự thực. Măi tới giữa thập
niên 1920, mới có những cuộc thi bằng Tú Tài I và II chương tŕnh Pháp-Nam. Bằng
cấp mà Diệm thi tương đương chỉ là bằng Trung học phổ thông đệ nhất cấp
(Diplôme). Tài liệu thành văn cũng chứng minh rằng Diệm đă vào quan trường từ
năm 1916 hoặc 1917, với chức Cửu phẩm tập ấm tại Tân Thư viện, mà không phải sau
khi đă tốt nghiệp trường Luật Hà Nội năm 1921 như Diệm khoa trương hay Sharplen
đă ghi sai. Thực tế, Diệm vào trường Hậu bổ từ niên khóa 1918-1919, và chỉ học
tại Hà Nội một niên khóa 1920-1921.
Một động lực trong việc sửa đổi hộ tịch có lẽ là để hợp
thức hóa vai ‘em’ của Diệm với Giám Mục Ngô đ́nh Thục -Thục sinh ngày 6/10/1897
tại Phước Quả, Thừa Thiên, thua Diệm hơn hai tháng. Nhưng cũng có thể, và điều
này cần được tra cứu thêm, Diệm không man khai hộ tịch, mà rất đơn giản là không
cùng mẹ (Phạm Thị Thân) với anh chị em khác. Có lẽ v́ muốn che đậy bí ẩn này,
tiểu sử Khôi và Thục trong tập Vua chúa và người quí phái Đông Dương [Souverains
et Notabilités] năm 1943 không ghi ngày sinh.(9)
Tài liệu văn khố Pháp cũng ghi Diệm sinh tại Đại Phong
Lộc, Lệ Thủy, Quảng B́nh, mà không phải Phước Quả, Thừa Thiên, giống như Thục,
Nhu, Cẩn, Luyện, v.. v... Địa danh ‘Đại Phong Lộc’ từng được khai là nơi sinh
của Khôi, anh cả trong gia đ́nh, con Khả và người vợ lớn đă chết sớm, trước khi
Khả lấy bà kế thất tên Thân.(10)
Rất ít chi tiết về học vấn Diệm được công bố. Có tin Diệm
học trường Pellerin ở Huế, và tốt nghiệp Diplôme [Trung học đệ nhất cấp]. Diệm
biết cả chữ Nho [Hán Việt]. Lại có tin Diệm học ở chủng viện, nhưng bỏ tu nửa
chừng.(11) Bởi thế, nhiều tài liệu cho rằng Diệm thuộc loại ‘religious fanatic’
[cuồng đạo]. (Hy vọng các nhà nghiên cứu trong nước t́m thêm được những chi tiết
này).
II. ‘BÁT CƠM’ BẢO HỘ PHÁP:
Trong nỗ lực biến hóa Ngô Đ́nh Diệm thành một ‘lănh tụ anh
minh’ đủ sức đương đầu với Hồ Chí Minh -kiểu ‘ăn Ngô th́ no, ăn Hồ th́ đói’- cơ
quan tuyên truyền Mỹ và Nam Việt Nam tô chuốt cho Diệm những bảng hiệu như ‘yêu
nước, chống Pháp’, v.. v... ‘Yêu nước’ là một nhận xét khó lượng định, v́ chỉ có
mỗi cá nhân mới tự biết rơ ḿnh yêu nước hay không. Có nhiều cách biểu lộ ḷng
yêu nước, nên khó thể sử dụng một hệ thống lượng giá cố định nào đó. Tấm huy
chương nào cũng có mặt trái của nó. ‘Chống Pháp’ th́ dễ lượng định hơn. Tinh
thần chống Pháp của Diệm, hay họ Ngô, chỉ là những triển biến vào khoảng cuối
đời, và động lực không hẳn do ḷng yêu nước thuần túy, mà nặng về tôn giáo cùng
quyền lợi bản thân và ḍng họ. Thực ra, Diệm xuất thân từ một gia đ́nh trung
gian bản xứ Ki-tô, phục vụ Bảo hộ Pháp rất tận tụy. Khả, cha Diệm, từng lên tới
chức chánh thông ngôn ṭa Khâm sứ Huế dưới thời Pierre Rheinart des Essarts, rồi
chuyển sang làm thương biện Viện Cơ Mật. Ngày 10/4/1892 Khả dịch công văn của
triều Huế xin Toàn quyền Jean de Lanessan đừng gửi ra Huế những người như Petrus
[Key], Nguyễn Trọng Tạo, Lê Duy Hinh, hay Diệp Văn Cương, v.. v... Khả cũng tham
dự chiến dịch đánh phá phong trào kháng Pháp tại Hà Tĩnh-Quảng B́nh của Ngự sử
Phan Đ́nh Phùng (1847-1895) trong hai năm 1895-1896, và được đặc cách lên Thái
thường tự khanh (Chánh tam phẩm) năm 1896, sau khi hài cốt Ngự sử Phùng bị đốt
thành tro, ném xuống sông Lam ‘theo [lối trừng phạt] truyền thống.’(12)
Sau một thời gian làm Phó Giám đốc trường Quốc Học Huế,
đặc trách vấn đề nhà cửa, lương bổng và hành chính, Khả được giao chức Đề đốc
kinh thành, lo việc bảo vệ và kiểm soát Thành Thái (1889-1907), cầm đầu một toán
thân binh cạo răng trắng, hớt tóc ngắn, mang súng trường, nhưng nhiệm vụ chính
yếu -nếu tin được báo cáo của Hiến binh Pháp- chỉ để giúp vua lùng sục và bắt
cóc gái đẹp quanh kinh thành. Sau khi về hưu, Khả được hàm Thượng thư.(13)
Khôi, anh cả họ Ngô, bắt đầu ‘tham chánh’ năm 1910, sau
khi tốt nghiệp trường Hậu bổ. Khoảng 6 năm đầu, Khôi làm tại văn pḥng Bộ Công
do cha vợ làm Thượng thư. Sau ngày tiếp tay cho Khải Định (1916-1925) lên ngôi,
Bài được thăng lên Thượng thư Bộ Lại, và Khôi bắt đầu đi ngồi huyện, phủ, rồi
lên tới Tuần vũ, Tổng đốc.
Diệm th́ năm 1917 được tập ấm chức Cửu phẩm, làm việc tại
Tân thư viện Huế (tức Musée Khải Định sau này), nơi đặt trụ sở Hội Bạn của Cố đô
Huế, và có bài đăng báo Bulletin des Amis de Vieux Hué [Đô thành hiếu cổ]. Năm
1918-1919, Diệm bắt đầu vào trường Hậu bổ Huế. Người đỡ đầu có lẽ là Nguyễn Đ́nh
Ḥe, một phụ tá cũ của Khả trong chiến dịch truy giết Ngự sử Phùng, lúc đó làm
Giám đốc trường Hậu Bổ (năm 1921 giữ chức Tổng thư kư Viện Cơ Mật). Thời gian
này, triều đ́nh Huế đă bỏ lối thi Hương và thi Hội cũ, và trường Hậu bổ mở thêm
một phân khoa ‘pháp chính’ [hành chính và luật] của trường Đại học Hà Nội. Học
viên học tại Huế hai năm đầu, và năm thứ ba phải ra Hà Nội. Có lẽ Diệm được
chuyển qua chương tŕnh này.
Tốt nghiệp năm 1922, nhờ Thượng thư Bài, Diệm được bổ nhậm
ngay. Năm 1929 [1926?], Diệm lên tới chức Tuần Vũ B́nh Thuận (Phan Thiết). Được
cấp trên đặc biệt chú ư v́ thanh liêm và tinh thần diệt Cộng cao. Một số nhân
chứng ghi nhận rằng Diệm, khi làm tri phủ Hoà Đa (B́nh Thuận), đă dùng đèn cầy
[nến] đốt hậu môn tù nhân CS để lấy khẩu cung.(14) V́ thế, theo Giám Mục Ngô
đ́nh Thục, Cộng Sản đă thuê một sát thủ ra tận Phan Rang mưu sát Diệm, nhưng
Diệm chỉ bị thương.(15)
Tóm lại, từ Khả xuống Khôi, rồi Diệm, tinh thần phục vụ và
ḷng trung thành với Pháp khá vững chắc. Khôi từng nhờ Nhu nói với Tổng Giám Đốc
Cảnh Sát Paul Arnoux ngày 18/8/1944 tại Huế rằng Khôi ‘xin thề trên thập tự giá’
là lúc nào cũng coi Bảo hộ Pháp như ‘bát cơm’ [bol de riz] của họ Ngô. Khôi cũng
thường nói với Diệm rằng sở dĩ người Pháp [Khâm sứ Emille Grandjean] không ưa v́
‘[họ Ngô] quá toàn vẹn,’ và ‘Phạm Quỳnh th́ khôn khéo, nên được cả Pháp lẫn Nhật
quảng cáo tài năng.’(16) Giám mục Ngô đ́nh Thục, trong thư ngày 21/8/1944 gửi
Toàn quyền Jean Decoux, tóm lược rơ ràng nhất công lao và ḷng trung thành với
Bảo hộ Pháp của họ Ngô cũng như cá nhân Diệm.
Dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp ‘yêu nước, chống Pháp’
của Diệm, là cuộc "đảo chính cung đ́nh" ngày 2/5/1933. Ngày này, Toàn quyền
Pierre Pasquier (12/1928-1/1934) và Quyền Khâm sứ Léon Thibaudeau
(2/1933-7/1934) đột ngột bắt Bài và toàn bộ nội các về hưu. Việc này, theo báo
Tiếng Dân, chấn động dư luận Huế. Bẽ bàng nhất cho Bài là ngay chính Bài cùng
các Thượng thư không hề được báo trước. Và, khi Thibaudeau tuyên bố danh sách
nội các mới, có Trần Thanh Đạt thông dịch qua tiếng Việt, một số người vẫn chưa
kịp về đến kinh đô.
Nguyên Pasquier, với sự thỏa thuận của Albert Sarraut,
quyết thực hiện một cuộc ‘đại cải cách’ ở An Nam, đánh bóng uy tín vua Nguyễn để
làm giảm bớt và điều-kiện-hóa các phong trào quốc gia mới-như cuộc khởi nghĩa
của Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1930, và nhất là sự du nhập và phát triển của
phong trào Cộng Sản từ giữa thập niên 1920, bùng nổ thành những cuộc bạo động,
khủng bố tại các đồn điền miền Nam, cùng phong trào Sô Viết Nghệ Tĩnh trong hai
năm 1930-1931. Pasquier và Thibaudeau đoạn tuyệt với nhóm hợp tác cựu trào
(Nguyễn Hữu Bài, Ki-tô giáo). Nhóm này chủ trương đồng hóa và thống trị theo kế
sách của Giám mục Paul Puginier và Louis Caspar-nhằm Ki-tô hóa các vua quan rồi
khiến toàn thể dân Việt sẽ phải theo đạo, và vĩnh viễn trở thành ‘bạn của nước
Pháp’. Từ thập niên 1890, nhóm hợp tác cựu trào trở thành một thứ kiêu binh của
cái mà Phạm Quỳnh (1892-1945) cũng như Bảo Đại gọi là ‘một văn pḥng phụ thuộc
nho nhỏ của Ṭa Khâm,’ tức triều đ́nh Huế, lúc nào cũng mang công lao của khối
giáo dân bản xứ trong việc thiết lập chế độ Bảo hộ ra áp lực Pháp. Ngựa mới của
Pasquier là phe tân trào (tiêu biểu bằng Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Thái
Bạt, Lê Dư, v.. v...). Phe này chủ trương hợp tác tinh thành, hay Pháp-Việt đề
huề. Quan chức Pháp đă chọn phe tân trào, v́ chủ trương hợp tác có nhiều triển
vọng thành công trước sự lớn mạnh của các phong trào quốc gia mới. Trong khi đó,
nhóm Quỳnh chấp nhận ‘tôn quân cũng là yêu nước,’ tạm ngưng lại đ̣i hỏi thể chế
cộng ḥa. Để làm giảm sự bi phẫn của nhóm cựu trào, Pasquier và Thibaudeau đặc
cách Diệm-con nuôi của Bài [son fils putatif], cũng một trong hai Tuần vũ thanh
liêm, chống Cộng nhiệt t́nh nhất-lên làm Thượng thư Bộ Lại.(17)
Một số mật báo viên ghi, và ngay chính Diệm man khai (ngày
24/12/1947 với Tổng lănh sự Mỹ tại Hong Kong là George D. Hopper) rằng ‘Giệm’
được làm ‘quan đầu triều Bảo Đại.’(18) Thực ra, từ tháng 5/1933, Bộ Lại mất đi
ảnh hưởng của những năm Bài được kiêm nhiệm chức Tổng lư [Chủ tịch Viện Cơ Mật],
và chỉ ngang với các Bộ khác. Người có uy thế nhất là Phạm Quỳnh, Thượng thư
Giáo dục kiêm Ngự tiền Tổng lư của Bảo Đại. Quỳnh không những chỉ chuyển lệnh
của Toàn quyền và Khâm sứù Pháp cho Bảo Đại, mà c̣n đồng thời dịch, và thiết kế
việc thực thi các lệnh trên, cùng báo cáo kết quả lên Khâm sứ.
Thibaudeau c̣n cử Diệm làm Tổng Thư kư Ủy ban Cải Cách, và
yêu cầu Diệm làm tờ tŕnh về kế hoạch canh tân Bộ Lại. Diệm, có lẽ do ảnh hưởng
của Bài, đưa ra 2 điều kiện: Phải thống nhất Bắc và Trung Kỳ; tái bổ nhiệm một
Tổng Trú sứ (Résident Général) cho Trung và Bắc Kỳ như đă qui định trong Hoà ước
6/6/1884; và, cho Viện Dân biểu quyền thảo luận.(19) Đề nghị này giống hệt kế
hoạch của Bài: Muốn cải cách, việc đầu tiên phải hủy bỏ chức Thống sứ Hà Nội và
Khâm sứ Huế (tức tái sát nhập Bắc Kỳ vào An Nam), sau đó cho An Nam ngân sách
riêng. Nói cách khác, phải trở lại với Hiệp ước 6/6/1884-đ̣i hỏi mà Bài đă gieo
xuống đầu óc thơ dại của Duy Tân từ năm 1915-1916, đưa đến việc vua bị truất phế
rồi đầy qua Réunion cùng cựu hoàng Thành Thái (Bửu Lân) vào cuối năm 1916.
Pasquier, dĩ nhiên, không chấp thuận. Ngày 9/7/1933, Diệm ra Quảng Trị ở với cha
nuôi ít ngày. Trở lại Huế, ngày 12/7, Diệm nạp cho Thibaudeau một bản sao đơn từ
chức đă tŕnh lên Bảo Đại. Lư do Diệm nêu ra là cơ cấu tổ chức hiện tại không
phù hợp với Hiệp ước 6/6/1884-Hiệp ước này qui định Pháp chỉ giữ một chế độ bảo
hộ kiểm soát (protectorat de contrôle) mà không phải bảo hộ trực tiếp
(protectorat direct).(20)
Thibaudeau gọi Bảo Đại từ Đà Lạt về Huế giải quyết. Bảo
Đại bảo thẳng Diệm rằng không thể viện dẫn lư do chính trị để từ chức, v́ đó là
hành động phản nghịch. Diệm đành viết lại đơn từ chức khác ngày 18/7, nêu lư do
muốn dành th́ giờ cho việc tu hành. Lần này, Diệm được toại ư. Ngày 22/7,
Thibaudeau đổi Thái Văn Toản qua thay Diệm nắm bộ Lại, và đưa Tôn Thất Quảng,
Tổng đốc Thanh Hóa, mới lập công lớn trong việc đàn áp đẫm máu tại các tỉnh Bắc
An Nam, lên nắm Bộ Công và Nghi Lễ thay Toản.(21)
Ngay sau ngày Bài bị cách chức, vài tờ báo Nam Kỳ công
khai đả kích Pasquier. Theo một mật báo viên (Luật sư Lê Văn Kim), những bài đả
kích trên từ Huế chuyển vào Sài G̣n. Tháng 12/1933, Diệm c̣n vào Sài G̣n gặp
Nguyễn Phan Long, Lê Văn Kim, Jacques Lê Văn Đức v..v... bàn thảo kế hoạch trả
thù Pasquier và Thibaudeau. Tiếp đó, tờ La Tribune indochinoise [Diễn đàn Đông
Dương] và tờ La Lanterne ở Paris mở chiến dịch đ̣i thay Pasquier bằng cựu Toàn
quyền Alexandre Varenne (7/1925-11/1927) và đưa cựu Khâm sứ Yves Châtel
(6/1931-2/1933) trở lại Huế.
Biết được tin này, Pasquier truất hết chức tước của Bài,
Diệm và Pierre Nguyễn Đệ, Bí thư riêng của Bảo Đại, thuộc một gia đ́nh trung
gian bản xứ Ki-tô nổi danh khác ở miền Bắc (Án sát Nguyễn Liên). Diệm c̣n bị
trục xuất khỏi Huế, chỉ định cư trú tại Quảng B́nh.(22)
May mắn cho Diệm, ngày 15/1/1934, Pasquier chết v́ tai nạn
máy bay trên không phận Paris. Năm sau, Bài chết tại Quảng Trị. Toàn quyền René
Robin (7/1934-1/1937) và Khâm sứ Maurice Graffeuil (7/1934-5/1936,
4/1937-8/1941) phục hồi tước vị hàm [honoraire] cho Bài, Diệm và Đệ. Diệm được
về Huế dạy trường Providence [Thiên hựu] do Linh mục Ngô đ́nh Thục, �anh trai�
Diệm, làm Giám học.(23)
III. HỢP TÁC VỚI NHẬT:
Thế chiến thứ hai (1939-1945) và việc Nhật xâm chiếm Đông
Dương từ hai năm 1940-1941 khiến Diệm và họ Ngô, do tham vọng và ư muốn phục thù
Pháp, đi t́m một bát cơm hay thiên mệnh ngoại cường khác. Họ Ngô bí mật yểm trợ
Hoàng thân Cường Để và từ năm 1942, công khai hợp tác với Hiến binh Nhật
(Kempeitai). Huân, con trai lớn của Khôi, làm thông ngôn cho Nhật. Trong khi đó,
Ngô đ́nh Nhu (1910-1963) che chở cho hai con Cường Để, Tráng Đinh và Tráng
Liệt, tại văn khố Ṭa Khâm sứ Huế. Những người thân Diệm cũng làm việc tại ṭa
Lănh sự Nhật từ năm 1942. Đầu năm 1943, Y sĩ Trương Kế An, thủ lănh Liên Đoàn Ái
Quốc Việt Nam, gặp Diệm ở Hà Nội. Pierre Đệ, anh rể hụt của Ngô đ́nh Nhu, cũng
có mặt.(24)
Trong khi đó, Khôi cho Diệm dùng Dinh thự Tổng đốc
Nam-Ngăi của ḿnh để tiếp xúc với những cá nhân thân Nhật. Khôi c̣n che chở cho
tín đồ Cao Đài (đang bị nghi ngờ thân Nhật, ủng hộ Cường Để) trong vùng cai trị.
Mật thám Pháp cũng t́m thấy trong nhà một người cháu họ của Khôi ở Quảng Nam,
Ngô Đ́nh Dậu (?), tài liệu liên quan đến Việt Nam Phục Quốc Hội của Cường Để. V́
việc này, Khâm sứ Grandjean (6/1941-8/1944) chẳng những không hồi âm thư chúc
mừng của Khôi, mà trong buổi gặp mặt trên đèo Hải Vân, c̣n bắt Khôi về hưu không
được hàm Thượng thư. Tháng 1/1944, Grandjean c̣n cho lệnh Bảo Đại bí mật trục
xuất Diệm khỏi Huế, chỉ định cư trú ở Quảng B́nh. Anh em Diệm trút mọi hờn oán
lên Quỳnh, đương kim Tổng lư [Tể tướng] triều đ́nh.(25)
Mùa Hè 1944, Mật thám Pháp khám phá ra tổ chức Đại Việt
Phục Hưng của Diệm, gồm khoảng 50 đảng viên tích cực, kể cả một số giáo sĩ; nằm
ngay trong đội lính khố xanh (Garde indochinoise), cảnh sát, công chức, v..v...
Một trong những lănh tụ là Trần Văn Lư, Tuần vũ Hà Tĩnh.(26) Pháp bèn cho lệnh
khám xét tư thất Diệm, nhưng Diệm đă sớm tẩu thoát.
Ngày 12/7, Trung úy Kuga Michio của Hiến binh Nhật bí mật
đưa Diệm vào Đàø Nẵng, rồi đáp phi cơ vào Sài G̣n. Trong thời gian ở miền Nam,
Diệm lui tới với Matsushita [Tùng Hạ] Mitsuhiro, Chủ công ty Dainan Koosi [Đại
Nam hay Dainan Konsi], trưởng lưới t́nh báo dân sự của Nhật, cũng người tự nhận
là bạn thân của Cường Để.(27)
Một tháng sau, ngày 12/8, Nguyễn Huy Tân, Cán sự Công
chính ở Quảng Ngăi, một cán bộ của Diệm, khai rằng Nhật đă chọn Diệm làm Thủ
tướng, trong một chế độ quân chủ lập hiến mà người làm vua không nhất thiết phải
là Cường Đểå. Hai ngày sau, 14/8, Paul Arnoux, Giám đốc Cảnh Sát, được lệnh bí
mật khai thác Ngô đ́nh Nhu và Khôi ngay tại Huế. Ngày 18/8, Arnoux báo cáo rằng
Ngô đ́nh Nhu nh́n nhận việc làm tội lỗi của Diệm, nhưng Khôi không dính líu, xin
‘thề trên thập tự giá’ là chỉ muốn duy tŕ "bát cơm" Pháp.(28)
Ngày 20/8, v́ t́nh h́nh Âu Châu đang rối loạn, phe ‘Pháp
tự do’ của Charles de Gaulle đang tiến vào Paris, Decoux đồng ư với đề nghị của
Arnoux là chỉ trừng trị những cán bộ hạng trung, tránh khiêu khích Nhật.
Trong khi đó, ngày 21/8, Ngô đ́nh Thục -đă được thụ phong
chức Giám mục Vĩnh Long từ năm 1938- viết thư xin Decoux nghĩ đến công lao hăn
mă của cha ḿnh với chính phủ Pháp trong việc ‘đánh dẹp phản loạn’ (tức những
phong trào Văn Thân và Cần Vương kháng Pháp) khi xét xử Khôi và Diệm. Anh em họ
Ngô, Ngô đ́nh Thục nhấn mạnh, cũng đă nhiều lần dâng hiến thân tâm cho Bảo hộ
Pháp, bất kể mạng sống. Chẳng hiểu v́ công lao to lớn của Khả (đặc cách từ
Thương biện Cơ Mật viện lên Thái thường tự khanh, năm 1896), vị thế Giám Mục của
Ngô đ́nh Thục, thành tích phục vụ Bảo hộ của anh em Diệm-Khôi, hay v́ mối lo
ngại cho sự an nguy chính bản thâân Decoux, Pháp không tiếp tục truy cứu việc
này.(29)
Cuối năm 1944, đầu năm 1945, Diệm tá túc trong bệnh viện
Chợ Quán, được trưng dụng làm trụ sở quân sự của Nhật, sau này đổi tên thành
bệnh viện bài lao Hồng Bàng. Tại đây, Diệm cùng Y sĩ Nguyễn Xuân Chữ, Y sĩ Lê
Toàn, Kỹ sư Vũ Văn An, Kư giả Vũ Đ́nh Dy thành lập Ủy Ban Kiến Quốc, pḥ trợ
Cường Để.(30)
Cuối năm 1944, khi chuẩn bị kế hoạch Mago để lật đổ chế độ
thân Vichy Decoux, Hiến binh Nhật đă dự trù Diệm sẽ trở thành Thủ tướng. Tuy
nhiên, t́nh h́nh ngày một đổi thay mau chóng. Tướng Tsuchihashi Yuitsu, Tân Tư
lệnh Quân đoàn 38-lực lượng trách nhiệm pḥng thủ Đông Dương chống lại cuộc đổ
quân Đồng Minh-dồn mọi nỗ lực cho mục tiêu quân sự hơn chính trị. Bởi thế
Tsuchihashi giữ Bảo Đại làm vua một nước Việt Nam ‘độc lập trong Khối thịnh
vượng chung Đại Đông Á,’ chống việc đưa Cường Để về nước. Nhưng nước Việt Nam
này trên thực tế chỉ bao gồm 12 tỉnh miền Trung, v́ Nam Kỳ cũng như Bắc Kỳ được
trù liệu sẽ trở thành hai trung tâm tử thủ chống lại sự đổ bộ của quân Đồøng
Minh. Giám đốc Kempeitai yêu cầu phe Diệm-Chữ tham gia chính phủ độc lập tại
Huế, nhưng cả hai đều từ chối.(31)
Tháng 3/1945, sau cuộc Hành quân Meigo (9-10/3/1945) loại
bỏ Decoux, Bảo Đại hai lần nhờ Nhật mời Diệm làm Thủ tướng, nhưng không có hồi
âm. Măi sau này, Bảo Đại mới được Nhật thông báo rằng họ không muốn dùng
Diệm.(32) Thay vào đó, tháng 4/1945, Trần Trọng Kim (1883-1952) được đưa từ
Krung thêp về Huế làm Tổng lư nội các [Thủ tướng] ‘Đế quốc Việt Nam’
(4-8/1945).(33)
Thực ra, nhóm Diệm-Chữ đă bị phân tán ra khắp ba miền. Y
sĩ Chữ về lại Nam Định, rồi Hà Nội, và cuối cùng trở thành Chủ tịch Ủy Ban Lănh
Đạo Chính trị miền Bắc, thay Khâm sai Phan Kế Toại từ chức vào giữa tháng
8/1945. Diệm về lại Vĩnh Long, tá túc trong giáo phận của Giám mục Ngô đ́nh
Thục.(34)
IV. DIỆM & VIỆT MINH:
Mặc dù sau này Ngô Đ́nh Diệm thường tuyên bố tại Việt Nam
chỉ nổi danh thua Hồ Chí Minh [the best known figure after Ho Chi Minh], khoảng
thời gian từ tháng 8/1945 tới đầu năm 1947 là một giai đoạn bí mật nhất đời
Diệm.
Như chúng ta đă biết, ngày 19/8/1945, Việt Minh lên nắm
chính quyền ở Hà Nội.(35) Ngày 25/8, Bảo Đại ra thông cáo thoái vị. Khôi và con
trai trưởng là Huân bị Việt Minh bắt, rồi thủ tiêu ở vùng Phong Điền, Thừa
Thiên.(36) Riêng Diệm và Ngô đ́nh Thục đều có tin bị Việt Minh bắt. Ngô đ́nh
Thục, thực ra được tự do sống ở vùng Vĩnh Long, dưới sự che chở của Nguyễn Văn
Nguyễn. Tháng 10/1945, Ngô đ́nh Thục định ra Bắc, nhưng bị quân Bri-tên chặn bắt
ở Biên Ḥa, rồi đưa về lại giáo phận Vĩnh Long.
Phần Diệm, tông tích bất minh. Ngày 7/5/1953, trong buổi
ăn trưa và thảo luận [lunch talk] về t́nh h́nh Đông Dương tại Tối Cao Pháp Viện
Mỹ, Diệm tuyên bố từng bị Hồ "cô lập" trong một làng thiểu số năm 1946. Sau 6
tháng, Hồ yêu cầu Diệm tham gia chính phủ, nhưng Diệm trả lời rằng v́ biết Hồ là
CS, Diệm muốn được toàn quyền và thông báo mọi tin tức. Những người ủng hộ Diệm
đ̣i Diệm phải được giao Bộ Nội Vụ và nắm ngành Cảnh Sát. Hồ do dự ít tuần, rồi
cuối cùng từ chối.(37) Gần một thập niên sau, ngày 16/1/1962, Diệm c̣n lập lại
chi tiết bị bắt giữ ở vùng thượng du Bắc Việt với các viên chức Mỹ tại Sài
G̣n.(38)
Diệm c̣n tuyên bố với một kư giả Bri-tên rằng Diệm bị Việt
Minh bắt vào tháng 9/1945, khi từ Sài G̣n ra Huế ngăn Bảo Đại đừng theo Hồ. Sau
đó, bị giải lên thượng du gần biên giới Hoa-Việt, suưt chết v́ bệnh sốt rét. Sáu
tháng sau, HCM mang Diệm về Hà Nội, thuyết phục Diệm theo ḿnh. Diệm không đồng
ư, HCM bèn thả Diệm. Sau này, Hoàng Tùng cho rằng tha Diệm là một sai lầm.(39)
Việc Diệm bị Việt Minh bắt được nhiều nguồn tin khác xác
nhận. Hạ tuần tháng 11/1945, Giám mục Ngô đ́nh Thục khai với Pháp rằng Khôi và
Diệm đă bị Việt Minh bắt và có thể đă bị xử bắn.(40) Ngày 28/12/1945, Tổng Giám
mục Antonin Drapier cũng viết cho Trưởng đoàn Truyền giáo Hải ngoại Pháp ở Sài
G̣n, rằng Diệm đă bị Việt Minh bắt.(41)
Một nguồn tin khác nữa ghi vào khoảng tháng 6/1946, khi
Diệm đến ở nhà Linh mục Độä, chính xứ Tuy Hoà, cán bộ VM đă "khéo léo" mời được
Diệm lên miền Thượng (Mọi). Người gia nhân thoát chạy ra Phát Diệm, xin Giám mục
Lê Hữu Từ giúp, sợ bị giống như Khôi. Từ bèn cùng Linh mục Phạm Quang Hàm và Dân
biểu Ngô Tử Ha vào Bắc bộ phủ xin Hồ tha Diệm. Chính Hồ cũng không biết việc
này, và hứa sẽ can thiệp. Khoảng một tháng sau, Diệm về tới Hà Nội, Vơ Nguyên
Giáp cho gọi Ngô đ́nh Nhu tới lĩnh về.(42)
Những chi tiết quanh việc Diệm bị Việt Minh bắt có nhiều
nghi vấn:
1. Xét về ngày tháng Diệm bị bắt, có phần không ổn.
a. Karnow dẫn lời Diệm là Diệm bị bắt vào tháng 9/1945.
Sáu tháng sau, được tự do. Vậy, tức vào khoảng tháng 3 hoặc tháng 4/1946. Tiểu
sử Diệm, do Bộ Ngoại giao Mỹ soạn thảo ngày 18/4/1957 cũng ghi tương tự.
b. Ngày tháng mà Từ hoặc tác giả viết hồi kư cho Từ ghi là
Diệm bị bắt đúng vào giai đoạn HCM đang ở Pháp, và măi tới ngày 22/10/1946 Hồ
mới về tới Hà Nội. Vậy Từ can thiệp vào dịp nào? (Diệm cũng không hề nhắc đến
việc được Từ và Hạ can thiệp).
c. Ngay chính Diệm, ngày 7/5/1953, chỉ nói mơ hồ đă bị "cô
lập" tại một làng thiểu số trong 6 tháng vào năm 1946.
2. Không ai rơ Diệm được tha vào ngày tháng nào, và cũng
chẳng ai rơ hành tung Diệm từ lúc được tự do tới khi xuất hiện ở Hà Nội vào đầu
năm 1947 trong bộ đồ tu hành.
3. Theo thư gửi Decoux đề ngày 21/8/1944, Ngô đ́nh Thục
nói Cộng Sản từng sai một tên giết mướn người Hoa ra Phan Rang mưu sát Diệm,
nhưng Diệm chỉ bị thương. Nếu bắt được Diệm năm 1945 hoặc 1946, ngay tại miền
Trung, cách nào Cộng Sản tha Diệm?
4. Anh em Diệm rất thành thạo trong thủ thuật tự đánh bóng
tên tuổi họ Ngô (kiểu Diệm ‘làm Tể tướng cho Bảo Đại,’ Khả làm ‘thượng thư đầu
triều Thành Thái,’ hay ‘đầy vua không Khả’). Thành tích ‘bị giam lỏng’ tại miền
thượng du năm 1946, hay đ̣i Hồ Chí Minh cho nắm Bộ Nội vụ có thể chỉ để tăng vốn
thêm cho việc rao bán lập trường chống Cộng hầu xin viện trợ Mỹ của Diệm. Hy
vọng sẽ có dấu vết việc bị ‘cô lập’ này trong văn khố Đảng Cộng Sản Việt Nam hay
Pháp.
Cho tới khi có tài liệu rơ ràng, có thểơ tin Diệm đă trốn
trong nhà tu [Redemptoristes hay Ḍng Cứu thế] ở Huế như tài liệu văn khố Pháp
ghi nhận.
V. DIỆM & BẢO ĐẠI: ‘THÀNH PHẦN THỨ BA’
Đầu năm 1947, Diệm xuất hiện ở Hà Nội, ngụy trang như một
tu sĩ ḍng Cứu Thế. Được Pháp yêu cầu lập chính phủ chống Cộng, Diệm đưa ra một
kế hoạch không thể chấp nhận được, tức thống nhất ba miền, có quân đội riêng và
nhiều quyền tự trị hơn. Diệm c̣n gặp Tổng lănh sự Mỹ Charles Reed tại Hà Nội.
Trong thời gian ở Hà Nội, ngụ tại tu viện ḍng Cứu Thế Canada ở Thái Hà ấp. Ngày
11/4/1947, Diệm trở lại Sài G̣n. Ngày 5/9/1947, lại trở ra Hà Nội.
A. ‘THÍ NGHIỆM’ BẢO ĐẠI:
Thời gian này, ‘thí nghiệm’ Bảo Đại bắt đầu thành h́nh.
Thí nghiệm này nhằm ngụy trang cuộc tái xâm lăng Việt Nam mà chính phủ Charles
de Gaulle đă phát động từ năm 1944-1945.(43)
Từ mùa Hè 1945, sau khi Nhật lật đổ chính phủ thân Vichy
của Decoux, de Gaulle đă nỗ lực t́m một ‘chí sĩ quốc gia Việt Nam chân chính’ để
cầm cờ dẫn Pháp trở lại Đông Dương. Ứng cử viên được nhiều người biết nhất là
Hoàng tử Vĩnh San (1900-1945), tức cựu hoàng Duy Tân (1907-1916), đă bị truất
phế và đầy qua Réunion năm 1916. Tai nạn phi cơ ngày 26/12/1945 khiến ‘lá bài bí
mật’ của phe de Gaulle ‘tan biến như một giấc mơ đẹp.’ Hai ngày sau, 28/12, Tổng
Giám mục Drapier, Khâm sứ Vatican, tŕnh lên Cao ủy/Linh mục Georges Thierry
d'Argenlieu (1945-1947) kế hoạch cho Bảo Đại lên ngôi như trước ngày 9/3; rồi
lập Hoàng tử Bảo Long làm vua, Hoàng hậu Nam Phương nhiếp chính, với Diệm làm
Thủ tướng.(44) Tuy nhiên, d'Argenlieu không đồng ư, và cũng không hài ḷng việc
Drapier xen lấn vào thế quyền.
Một số chính khách, lănh tụ giáo phái Việt cũng xúc tiến
thực hiện "giải pháp" Bảo Đại từ cuối năm 1945, đầu năm 1946. Người đầu tiên đưa
ra ư kiến này là tân Giám Mục Lê Hữu Từ. Nhân dịp Bảo Đại về Phát Diệm dự lễ tấn
phong của Từ, Từ hỏi Bảo Đại có mưu tính ǵ chăng; nhưng Bảo Đại không có phản
ứng tích cực. Cựu Thủ tướng Kim và đảng viên trẻ Đại Việt, kể cả Đỗ Đ́nh Đạo v..
v..., cũng t́m thấy ở Bảo Đại sự lănh đạo, hoặc ít nữa sự chính thống [legality
hay legitimacy] cần thiết, để chống Hồ.(45) Việt Nam Quốc Dân Đảng [VNQDĐ] và
Trung Hoa Quốc Dân Đảng [THQDĐ] cũng ít nhiều tiếp tay Bảo Đại rời Hà Nội vào
trung tuần tháng 3/1946.
Măi tới sau cái chết của Nguyễn Văn Thinh ngày 10/11/1946
và sự khủng hoảng của thí nghiệm ‘Cộng Hoà Nam Kỳ tự trị’ -nhất là sau cuộc tấn
công của Việt Minh tối 19/12/1946 trên khắp miền Bắc vĩ tuyến 16- vai tṛ Bảo
Đại mới sáng giá hơn. Nước Pháp lúc này đứng trước một ngă ba đường. Một, tiếp
tục thương thuyết với Việt Minh, hầu t́m một giải pháp chính trị. Nẻo đường
khác, là đoạn tuyệt với chính phủ "ương ngạnh" [intransigence] của Hồ, đi t́m
một "chí sĩ quốc gia" chấp nhận thoả hiệp với Pháp. Hầu hết các cấp lănh đạo
Pháp-từ Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại Marius Moutet cho tới đặc sứ Philippe
Leclerc de Hautecloque (1902-1947)-đều nghĩ rằng đă đến lúc đoạn tuyệt với Hồ.
Léon Pignon, Cố vấn Chính trị của d'Argenlieu, ủng hộ Bảo Đại nồng nhiệt nhấtø.
Do Pignon tiến cử, ngày 14/1/1947, d'Argenlieu báo cáo mật về kế hoạch tái sử
dụng Bảo Đại.(46) Moutet không chấp thuận.(47) Thủ tướng Léon Blum
(12/1946-1/1947) cũng không tán thành, nhưng chuyển kế hoạch này cho người kế vị
là Paul Ramadier (1947). Dẫu vậy, d'Argenlieu vẫn gửi nhân viên Mật thám
Cousseau qua Hong Kong để liên lạc với Bảo Đại vào khoảng đầu năm 1947.
Sự thành h́nh của chính phủ Ramadier ngày 21/1/1947, và
quyết định thay d'Argenlieu bằng Dân biểu Emile Bollaert ngày 5/3/1947 mang lại
một không khí mới. Viên chức Pháp nghĩ đến một chính phủ Liên bang Việt Nam, với
ba chính phủ địa phương tại ba kỳ, và một chính phủ trung ương tượng trưng sự
thống nhất lănh thổ. Vấn đề đặt ra là ai sẽ cầm đầu chính phủ trung ương đó. Hồ
Chí Minh và Bảo Đại trở thành hai tâm điểm của các cuộc thảo luận.
Một số chính khách Pháp nghĩ rằng phải nối lại thương
thuyết với Hồ. Theo họ, dù Hồ và các thuộc hạ thân tín là Cộng Sản, đa số cấp
lănh đạo Việt Minh chỉ là những người yêu nước. Hơn nữa, Hồ và các thuộc hạ có
khả năng nhất.(48) Một số khác chủ trương loại bỏ Hồ, thương thuyết với Bảo Đại.
Theo họ, Bảo Đại có một số người theo ở Trung Kỳ; và được sự ủng hộ hoặc chấp
thuận của nhiều nhân vật có uy tín tại Bắc cũng như Nam Kỳ.(49)
Ngày 1/4/1947 tân Cao Ủy Bollaert tới Sài G̣n với lệnh tái
thiết lập những guồng máy cũ, nhưng đừng để lộ ra là Pháp muốn tái lập nền quân
chủ.
Thời gian này, Bảo Đại sống ẩn dật tại Hong Kong. Rời Hà
Nội qua Nam Kinh ngày 16/3/1946 trong phái đoàn viếng thăm thân hữu Trung Hoa,
nhưng đến ngày trở về, Bảo Đại nhận được thư Hồ khuyên nên du lịch thêm một thời
gian. Cựu hoàng bèn sang Hong Kong, sống tại đây với một vũ nữ, dưới một tên giả
trong khách sạn Saint Francis Hotel. Mùa Thu 1946, Bảo Đại tuyên bố với một kư
giả Pháp, Jacques Sallebert, là với cựu hoàng, "chính trị đă chết." Bảo Đại cũng
bày tỏ ḷng kính phục Chủ tịch Hồ, và tiết lộ rằng sự thoái vị của ḿnh là chiều
theo ư dân.(50)
Nhưng nhiều cá nhân và lănh tụ các đảng phái chống Cộng
vẫn t́m đến, lôi kéo Bảo Đại khỏi cảnh huống "về hưu" non ở tuổi 33. Trong số
này có Nguyễn Tường Tam, Vũ Kim Thành, Trần Trọng Kim v.. v... Vào cuối năm
1946, đầu năm 1947, số người ủng hộ Bảo Đại được tăng cường thêm Hộ pháp của Cao
Đài. Mới hồi hương vào tháng 8/1946 sau gần 5 năm lưu đầy, Phạm Công Tắc chủ
trương hợp tác với Pháp để chống Cộng. Chính Tắc và Trần Quang Vinh, Tư lệnh lực
lượng vơ trang Cao Đài từ năm 1943, đă yểm trợ Y sĩ Lê Văn Hoạch lên cầm đầu
chính phủ Nam Kỳ tự trị sau cái chết của Y sĩ Thinh ngày 10/11/1946, hầu loại bỏ
Trần Văn Tỷ. Cuộc tổng tấn công ngày 19/12/1946 của Hồ giúp Tắc mạnh bạo hơn.
Ngày 1/1/1947, nhân dịp Bộ trưởng Moutet đang tham quan Đông Dương, Tắc yêu cầu
Moutet đưa Bảo Đại về nước; và hứa sẽ ủng hộ Bảo Đại.(51)
Nhưng các chính phủ tại Paris-với sự tham dự của Đảng Cộng
Sản Pháp-chưa muốn đoạn tuyệt với Hồ. V́ nhiều lư do, viên chức Pháp khẳng định
vẫn muốn thương thuyết, nhưng đặt thêm một điều kiện căn bản-đó là thảo luận
trên thế mạnh, không để bạo lực chi phối, và sau khi đă văn hồi trật tự. Ngày
20/12/1946, khi ra trước Quốc Hội điều trần, và tuyên bố sẽ qua Đông Dương tham
quan, Moutet đă nhấn mạnh:
Nước Pháp muốn hoà b́nh, tôn trọng những nguyên tắc đă
tuyên bố, nhưng không chịu khuất phục trước bạo lực. Chính sách của Pháp là bảo
vệ quyền lợi nước Pháp và làm cho những quyền lợi ấy được tôn trọng.(52)
Dù chỉ là một b́nh phong cho việc tái chiếm miền Bắc bằng
vơ lực, hay phát xuất từ ḷng chân thành, những điều kiện tiên quyết này mở ra
một câu hỏi then chốt-đó là thương thuyết với ai? Thêm vào đó, là giới hạn của
những nhượng bộ Pháp có thể chấp thuận. Mặc dù bản tuyên cáo ngày 24/3/1945 qui
định �năm xứ Đông Dương� của chính phủ de Gaulle đă bị các biến cố ở Việt Nam
biến thành dĩ văng, đa số giới lănh đạo Pháp vẫn nhấn mạnh ở điểm Đông Dương
phải là một thành phần của Khối Liên Hiệp Pháp [L'Union Francaise]; không thể
thống nhất ba miền Bắc, Trung, Nam v́ miền Nam là một thuộc địa, tức một phần
lănh thổ bất khả phân của Pháp như phần dẫn nhập của Hiến Pháp 1946 đă qui định;
và, chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa [VNDCCH] của Hồ chỉ là một trong những
phe phái mà người Pháp có thể thương thuyết.
Ngày 23/12/1946, Dân biểu André Mutter của hạt
l'Aube-người từng yêu cầu bắt Hồ tại Paris sau khi hội nghị Fontainebleau đổ
vỡ-tuyên bố không thể đàm phán với chính phủ Hồ được nữa v́ đó là "bọn phản bội"
[traitres]. Mutter nhấn mạnh:
Chúng ta không thể coi Hồ Chí Minh như đại diện của một
tiểu bang tự do [Etat libre]; đó là một kẻ sát nhân [assassin].(53)
Sau khi tham quan Đông Dương về, tảng lờ nhữơng lời kêu
gọi tái thương thuyết của Hồ, ngày 18/3/1947, Moutet khẳng định không thể nói
chuyện với Hồ nữa, v́ Hồ không những chỉ coi việc kư Hiệp ước như một phương
tiện tranh đấu; mà c̣n chủ trương bạo động.(54)
Mặc dù vẫn c̣n những người như Pierre Cot chưa dứt
khoát-đề nghị đừng nên qui lỗi cho một phe nào-phe cực hữu ngày thêm mạnh. Ngày
13/4/1947, Paul Reynaud tuyên bố trước Quốc Hội Pháp:
Hồ Chí Minh là một tên tội phạm [un criminel] và không thể
thương thuyết với hắn; hoặc hắn đă bị điều khiển [manoeuvré] và tự chứng tỏ
thiếu khả năng để bắt chính quân đội của ḿnh tuân lệnh, vậy th́, đó là kẻ thiếu
khả năng và cũng chẳng nên thương thuyết với hắn nữa.(55)
Hôm sau, 14/4, Dân biểu Maurice Violette c̣n đi xa hơn,
khẳng định: "Tinh thần quốc gia ở Việt Nam là phương tiện; cứu cánh là thực dân
Liên Sô."(56)
Lời cáo buộc này khiến phe Cộng Sản Pháp, kể cả Marcel
Cachin, cực lực phản đối. Ramadier phải công nhận cho tới thời điểm đó, Liên Sô
hoàn toàn trung lập. Nhưng từ ngày này, dù công khai hay phía sau hậu trường,
các viên chức Pháp, v́ những lư do dễ hiểu, không ngừng tố cáo nguồn gốc Quốc Tế
Cộng Sản [QTCS] của Hồ.(57)
Phe cổ vơ cắt đứt thương thuyết với Hồ c̣n đưa ra thêm một
lư do khác là từ ngày 19/12/1946, chưa ai gặp được Hồ. Sự biến dạng này khiến
không thể không hoài nghi rằng Hồ đă chết; và, những phần tử quá khích như Vơ
Nguyên Giáp cùng Hạ Bá Cang (Quận thọt) đang chi phối Tổng bộ Việt Minh. Những
văn thư kư tên Hồ gửi cho Pháp trong những tháng cuối năm 1946, đầu năm 1947-kể
cả bản kiến nghị do Trần Ngọc Ranh trao cho Pháp tại Paris vào tháng 2/1947-bị
coi là đă giả mạo chữ kư Hồ.(58)
Song song với chiến dịch hạ uy tín Hồ là việc tách rời Hồ
khỏi khối đại đa số người Việt yêu nước. Ramadier, khi ra thuyết tŕnh trước
Quốc Hội vào tháng 2/1947, đă mở đầu cho khuynh hướng này. Tiếp đó, Moutet khẳng
định Hiệp ước sơ bộ 6/3/1946 đă được kư kết với một chính phủ liên hiệp Việt
Nam, mà không phải với cá nhân Hồ.
B. SỨ MỆNH CAO ỦY BOLLAERT:
Để đánh dấu sự thay đổi chính sách của ḿnh, Ramadier
quyết định thay Linh mục/Cao ủy d'Argenlieu v́ d'Argenlieu bị chỉ trích là c̣n
nặng đầu óc thực dân; và v́ d'Argenlieu có những khó khăn trong việc liên hệ với
những người mà ông ta phải làm việc chung. D'Argenlieu không chịu từ chức, muốn
níu giữ Đông Dương chờ ngày de Gaulle-mới đột ngột từ chức ngày 24/12/1945-trở
lại chính quyền. Ramadier chẳng c̣n cách nào khác hơn cách chức d'Argenlieu.
Bài diễn văn được coi như bản tuyên bố chiến tranh lạnh
của Tổng thống Harry Truman (1945-1953) ngày 12/3/1947 và kế hoạch viện trợ tái
thiết Tây Âu ít tháng sau của Ngoại trưởng George C. Marshall-được biết như ‘Kế
hoạch Marshall’- khiến chính phủ Ramadier nghiêng về phía loại bỏ Hồ, ‘một cán
bộ QTCS.’ Tuy nhiên, dự định của Paris nhằm biến hoá cuộc tái xâm lăng Việt Nam
thành một điểm nổ của cuộc chiến tranh lạnh Tư Bản-Cộng Sản (1947-1991)-hầu xin
được viện trợ Mỹ và thiết lập chính nghĩa mới -không đạt được tốc độ mong muốn.
Oat-shinh-tân, dù không muốn thấy �một chế độ tay sai của Mat-scơ-va thống trị
bán đảo Đông Dương,� và cũng không muốn bị mang tiếng ủng hộ Pháp tái thiết lập
chế độ thuộc địa kiểu tiền chiến tại thuộc địa này, chỉ khuyên Pháp nên t́m ra
một "chí sĩ quốc gia chân chính" lên cầm đầu cuộc chiến chống Cộng. Bởi thế,
suốt năm 1947, Bollaert gặp rất nhiều khó khăn trong việc t́m một giải pháp cho
Việt Nam.
Dẫu vậy, Bollaert đặt xuống những nền tảng cho việc thực
thi thí nghiệm Bảo Đại. Giai đoạn đầu là những bước ngoại giao để loại bỏ Hồ.
Nguyên từ cuối tháng 12/1946, đầu tháng 1/1947, Hồ nhiều
lần xin nối lại thương thuyết. Ngày 20/2/1947, ít tuần trước ngày Đại Hội Các
Quốc Gia Á Châu tại New Dehli, Đài Việt Minh công bố một lá thư của Hồ gửi
Ramadier và Moutet, kêu gọi thương thuyết. Việt Minh cũng nhờ đại diện Hồng Thập
Tự Quốc Tế chuyển cho Lănh sự Bri-tên một lá thư nghị hoà, nhưng viên chức Pháp
ở Paris đều nói không nhận được. Măi tới ngày 26/3, viên chức Ngoại giao Pháp
mới nói với Đại sứ Mỹ Caffery là nhận được thư này, nhưng không ai dám khẳng
quyết Hồ c̣n sống.(59)
Cũng ngày này, tân Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám
khẳng định muốn ‘độc lập trong Liên Hiệp Pháp.’ Ngày 18/4/1947, Giám nhờ Hội
Hồng Thập Tự Quốc Tế chuyển cho Miguel de Pereyra, tân Ủy viên Cộng Hoà Bắc
Việt, một công hàm yêu cầu ngưng bắn tức khắc và nối lại thương thuyết.(60) Hôm
sau, 19/4, Giám lại tuyên bố sẵn sàng điều đ́nh, nhưng v́ Pháp đ̣i Việt Minh
phải nộp 50% khí giới, phóng thích tù binh Pháp, VM không chịu, v́ như thế là
đầu hàng.
Việt Minh c̣n cử Thứ trưởng Ngoại Giao Phạm Ngọc Thạch tới
Bangkok và các nước Đông Nam Á để vận động. Thạch hai lần bí mật tiếp xúc Tùy
viên Quân sự Toà Đại sứ Mỹ ở Bangkok, Trung tá William Law, trao cho Mỹ một số
văn kiện, nhưng không đạt kết quả nào.(61)
Tháng 5/1947, Bollaert cử Paul Mus, cố vấn kinh tế, t́m
cách liên lạc với Giám. Ngày 9/5, Mus gặp Giám ở Cầu Đuống, rồi được dẫn đi gặp
Hồ ngay tại tỉnh lỵ Thái Nguyên. Tuy nhiên, khi nghe Mus đọc thuộc ḷng các điều
kiện của Bollaert-tức Việt Minh phải buông súng đầu hàng-Hồ chẳng có lựa chọn
nào khác hơn từ chối.(62)
Bollaert cũng xúc tiến mạnh hơn việc thành lập các cơ cấu
hành chính lâm thời tại các vùng chiếm đóng. Khởi đi từ Ủy Ban Chấp Chánh Lâm
Thời [Comité administratif provisoire] ở Huế (12/4/1947) và Hội đồng An Dân Bắc
Việt [Comité provisoire de gestion administrative et d'action sociale] ở Hà Nội
(19/5/1947), các ủy ban hay hội đồng hàng tỉnh, hàng quận tiếp tục được thiết
lập.
Trong hai tháng cuối Xuân, đầu Hạ 1947, Hồ lại mở chiến
dịch kêu gọi thương thuyết. Ngày 19/6, Hồ tuyên bố muốn được độc lập trong Liên
Hiệp Pháp. Một tháng sau, ngày 19/7, Hồ cải tổ chính phủ. Hai nhân vật "ôn
hoà"-Hoàng Minh Giám và Tạ Quang Bửu, rất thân thiết với Vơ Nguyên Giáp-lên nắm
Bộ Ngoại Giao và Quốc Pḥng. Chu Bá Phượng, một lănh tụ VNQDĐ vẫn được "nắm"
chức Cứu tế, Xă hội (dù trên thực tế đang bị giam lỏng). Nguyễn Văn Tố, Đặng Văn
Hướng, Bồ Xuân Luật là ba Bộ trưởng không bộ nào. Vũ Đ́nh Tụng, Bộ trưởng Cựu
Chiến binh, và Ngô Tử Hạ, Thứ trưởng Cựu Chiến binh, đại biểu Giáo dân Ki-tô.
Tôn Đức Thắng mất chức Bộ trưởng Nội Vụ; Giáp lên chức Tổng Tư lệnh Quân
đội.(63)
Giới ngoại giao ghi nhận việc cải tổ chính phủ này như một
nỗ lực của Hồ để nối lại thương thuyết. Tuy nhiên, khi trở lại Paris ngày 29/7,
Mus tuyên bố khó thể có hoà b́nh v́ cả hai bên đều không tin nhau. Thực ra,
Bollaert vốn có ư định cắt đứt liên hệ với Hồ; và bí mật thương thuyết với Bảo
Đại cùng các phe phái chống Cộng. Mus là một trong những đặc sứ, nhưng quan
trọng nhất vẫn là Cousseau, nhân viên t́nh báo có nhiệm vụ kiểm soát và nuôi
dưỡng Bảo Đại trong cảnh lưu vong. Nhưng ông vua cuối nhà Nguyễn, người được Đại
diện Vatican ca ngợi như thân Pháp nhất tại Việt Nam, đă phần nào thay đổi.(64)
Bảo Đại, và nhất là những cộng sự viên buổi đầu như Kim,
Thành, Diệm, Sâm mới trải qua một cơn sốt váng vất độc lập, thống nhất-và, phần
nào v́ mặc cảm-đ̣i hỏi Pháp nhân nhượng nhiều hơn những ǵ đă nhân nhượng với
Hồ. Gặp Cousseau ở Hong Kong vào tháng 1/1947, chẳng hạn, Kim đưa ra 7 điều kiện
để hợp tác: 1/ thống nhất 3 kỳ; 2/ tự trị; 3/ định rơ vị trí của VN trong Liên
Hiệp Pháp; 4/ VN phải có quân đội; 5/ VN phải có cơ cấu tài chính; 6/ Pháp nên
định một hạn kỳ trao trả độc lập cho VN; 7/ VN có đại biểu ngoại giao với các
nước Á Đông và buôn bán với các nước khác.(65)
Tuy nhiên, người Pháp không chịu nhượng bộ ngay. Quá tự
tin ở sức mạnh quân sự-ít nữa đủ sức đánh tan quân đội chính qui Việt Minh-ai
nấy hy vọng chiến thắng không xa. T́nh h́nh quân sự những tháng đầu năm 1947
phần nào thắp sáng ngọn lửa lạc quan. Ngày 17/2/1947, bộ đội Việt Minh rút khỏi
Hà Nội. Gần một tháng sau, ngày 11/3, Pháp làm chủ t́nh h́nh Nam Định. Tại miền
Trung, Pháp tái chiếm Hội An [Faifo] ngày 15/3, Quảng Nam ngày 16/3; rồi đổ bộ
Đồng Hới ngày 27/3. Riêng Ḥa B́nh, ngày 15/4 Pháp làm chủ được t́nh thế. Bởi
thế, Bollaert và cố vấn t́m cách kéo dài thời gian, chờ đợi kết quả chiến dịch
mùa khô 1947-một chiến dịch mà Tướng lănh Pháp tin tưởng sẽ bẻ găy xương sống
quân đội Việt Minh. Để chuẩn bị cho chiến dịch này, ngày 16/5 Bollaert cử Tướng
Raoul Salan-một nhân vật quen thuộc với Đông Dương, từng tham gia cuộc thương
thuyết với Trung Hoa và Hồ năm 1946-làm Tư lệnh miền Bắc. Viện binh Pháp cũng
lục tục kéo tới, nhiều nhất là lính Lê-dương [Légions étrangères] gốc Đông Âu và
lính da đen Phi Châu.
Bollaert cũng cho cải tổ những chính phủ "Tề" tại miền Bắc
và miền Trung. Ngày 19/5/1947, Y sĩ Trương Đ́nh Tri-nguyên Bộ trưởng Y tế trong
chính phủ Liên Hiệp 2/3/1946 của Hồ-được cử làm Chủ tịch Hội Đồng An Dân Bắc
Việt. Tại miền Trung, Trần Văn Lư cầm đầu Ủy ban Chấp Chính Lâm Thời Trung Kỳ.
Nguyễn Khoa Toàn, Tỉnh trưởng Thừa Thiên từ năm 1946, nắm Hội đồng Thẩm nghị [Tư
vấn] Trung Kỳ. Tại miền Nam, mặc dù coi chính phủ Lê Văn Hoạch là gánh nặng của
ḿnh, Bollaert biến hoá dần sản phẩm của nhóm Gaullist này. Ngày 19/5, Bollaert
trả Dinh Thống Đốc cho Hoạch. Đồng thời, áp lực Hoạch cải tổ chính phủ và tách
biệt dần khỏi khuynh hướng tự trị.
Trong năm 1947 cũng có nhiều nỗ lực kết hợp các đảng phái
Việt Nam đang tập trung tại vùng "Tề." Ngày 17/2, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt
Toàn Quốc (Front d'Union Nationale du Viet-Nam, hay MTQGTNTQ) -hậu thân của Mặt
Trận Thống Nhứt Toàn Dân-chính thức thành lập, qui tụ các đảng viên Việt Nam
Cách Mệnh Đồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Nam Dân Chủ Xă Hội Đảng,
Việt Nam Quốc Gia Độc Lập Đảng, Việt Nam Quốc Gia Thanh Niên Đoàn, Cao Đài, Đoàn
Thể Dân chúng, và Liên Đoàn Công Giáo.(66) Ngày 29/3, MTQGTNTQ ra Tuyên Cáo tại
Hong Kong. Theo tuyên cáo này, mục tiêu của Mặt trận là thống nhất tất cả các tổ
chức cách mạng, đảng phái chính trị, đoàn thể tôn giáo và xă hội để đấu tranh
giành độc lập và thống nhất lănh thổ, củng cố chế độ cộng hoà, dân chủ, hợp tác
toàn diện với tất cả các quốc gia trên thế giới trên căn bản công bằng và tự do
để văn hồi trật tự thế giới. Về những biến cố ở Việt Nam, Mặt Trận khẳng định
cuộc kháng chiến hơn một năm qua không phải là công tŕnh của một đảng phái
chính trị nào, mà là của toàn dân Việt. Mặt Trận cũng khẳng định chính phủ Hồ
không c̣n được nhân dân tin tưởng và đă mất vị thế trong thế giới trong công
cuộc tranh đấu dành độc lập. Bởi vậy, Mặt Trận ủng hộ cựu hoàng Bảo Đại Nguyễn
Vĩnh Thụy để thành lập một chính phủ dân chủ thực sự.(67) Thế chống Cộng của các
phe nhóm được tăng hơn nữa sau khi Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ (1917-1947) của đạo Hoà
Hảo bị Việt Minh sát hại ngày 20/4/1947.
Tại miền Bắc, nhóm Đặng Vũ Lạc (1902-1948), Lê Thăng
(1901-1987?), Đỗ Văn Năng (1915-1950) bắt đầu qui tụ các đảng viên Đại Việt và
VNQDĐ, thành lập Đại Việt Quốc Dân Đảng hay Tân Đại Việt. Nhượng Tống Hoàng Phạm
Trân cùng Ngô Thúc Địch và một số người khác tái tổ chức VNQDĐ.
Tại miền Trung, VNQDĐ và Đại Việt tái xây dựng tại vùng
Tề. Tổ chức Đại Việt Phục Hưng của Diệm cũng hoạt động trở lại. Do Nguyễn Khoa
Toàn đề xướng, Trần Văn Lư và Trần Thanh Đạt lập nên Việt Nam Quốc Gia Liên Hiệp
làm cánh tay chính trị. Một nhân vật đang lên khác tại miền Trung là Phan Văn
Giáo (1901-1963?). Giáo, một Dược sĩ Ki-tô gốc Ninh Hoà (Khánh Ḥa) từng nổi
danh là cây vợt tennis tên tuổi, bị Việt Minh bắt giữ vào tháng 8/1945 v́ liên
hệ với VNQDĐ, và lên án 6 năm khổ sai, tịch biên gia sản vào tháng 2/1946. Thoát
ra Hà Nội tháng 11/1946, Giáo qua Hong Kong với Bảo Đại. Tháng 3/1947, được Bảo
Đại ủy về nước vận động thành lập chế độ quân chủ lập hiến.
Tại miền Nam, các phe nhóm tự trị thay đổi lập trường,
tuyên bố không chống đối việc thống nhất, miễn mỗi xứ vẫn có tự trị về kinh tế
và chính trị. Những nhóm chống Cộng khác tổ chức biểu t́nh khắp nơi. Ngày 12/8,
Huế biểu t́nh yêu cầu Bảo Đại về nước chấp chánh. Ngày 1/9 và rồi 14/9, biểu
t́nh được tổ chức ở Sài G̣n.
Các viên chức vùng Tề khắp ba miền cũng tới tấp đi lại
giữa Việt Nam và Hong Kong để "van xin" Bảo Đại đứng ra nhận trách nhiệm. Có
những nỗ lực liên hiệp giữa Lê Văn Hoạch và MTQGTNTQ của Nguyễn Văn Sâm, sau khi
Hộ Pháp Phạm công Tắc tuyên bố ủng hộ tổ chức này ngày 16/8. Điều kiện của Sâm
là ghế Bộ trưởng Nội Vụ hoặc Quốc Pḥng. Sau đó, MTQGTNTQ ủy Hoạch tiếp xúc Bảo
Đại để cầm đầu phong trào quốc gia và thống nhất đất nước. Ngày 5/9, Bảo Đại
tuyên bố muốn tiếp xúc với các lănh tụ VN để bàn luận thời sự. Cùng ngày, dù
không được mời, Sâm qua Hong Kong gặp Bảo Đại.
Ngày 9/9, Bảo Đại tiếp kiến 24 đại diện ba miền. Trong số
những đại diện này có Nguyễn Văn Tâm, Bộ trưởng Quốc Pḥng của chính phủ Hoạch.
Bảo Đại tuyên bố sẽ đứng ra hoà giải các phe phái sau khi đă thương lượng với
Pháp.(68)
Giới Ki-tô giáo cũng âm thầm yểm trợ thí nghiệm Bảo Đại.
Từ đầu năm 1947, Giám mục Từ đă cho một số các chính khách chống Cộng vào ẩn náu
tại Phát Diệm mà Hồ cho hưởng đặc ân tự trị. Vợ chồng Ngô đ́nh Nhu và Trần Văn
Chương cũng một thời tá túc tại đây, trước khi bí mật vào Nam, rồi cư ngụ ở Đà
Lạt. Các chi nhánh Đại Việt Duy Dân, VNQDĐ và Đại Việt cũng bắt đầu được tái
sinh. Trong khi đó, Từ mượn những chuyến thăm viếng giáo dân với danh nghĩa vận
động kháng chiến chống Pháp để tuyên truyền Ngô đ́nh Nhu cầu một cuộc thánh
chiến chống Cộng. Tại giáo phận Vĩnh Long, Giám mục Ngô đ́nh Thục cắt dần liên
hệ với Việt Minh. Nhưng nhiệt t́nh chống Cộng hơn cả là các giáo mục tại vùng
Bến Tre và Mỹ Tho. Họ công khai yểm trợ các đơn vị lưu động bảo vệ giáo xứ
[UMDC] của Trung úy Jean Léon Leroy, thủ diễn vai tṛ ‘chính trị viên’ cho các
binh sĩ thêu trước ngực h́nh thập tự giá. Tại các vùng Pháp mới tái lập kiểm
soát như Kẻ Sặt (Hải Dương), Quảng B́nh, Quảng Trị, Kontum, v.. v... nhiều đơn
vị tự vệ của giáo dân Ki-tô cũng được tổ chức để chống Cộng. Pháp c̣n sử dụng
các giáo sĩ Ki-tô để móc nối với những cộng đồng giáo dân tại các giáo phận Việt
Minh kiểm soát. Khâm sứ Drapier không những ban phép lành cho phong trào thánh
chiến này mà c̣n đẩy mạnh hơn vai tṛ Diệm và họ Ngô trong thí nghiệm Bảo
Đại.(69)
Mặc dù có kẻ thù chung là Cộng Sản, các tổ chức chính trị
và giáo phái không đạt được sự đoàn kết cần thiết. Màu sắc tôn giáo, địa phương
chi phối nặng nề, khiến phần đông hữu danh vô thực. Nguy hiểm nhất là tệ nạn sứ
quân.
Dĩ nhiên, phe Việt Minh không chịu bó tay. Đài phát thanh
Việt Minh không ngừng đả kích những tên "Việt Gian" đang âm mưu lập nên một
�chính phủ bù nh́n tay sai� chống lại chính phủ hợp pháp VNDCCH. Tại miền Nam,
Nguyễn B́nh (Nguyễn Phương Thảo) phát động chiến dịch khủng bố và ám sát. Đă có
lúc, Việt Minh nghĩ đến việc gửi Phạm Khắc Hoè sang Hong Kong thuyết phục Bảo
Đại. Và, khi công bố chính phủ đổi mới vào tháng 7/1947, Hồ vẫn liệt kê Bảo Đại
như cố vấn tối cao.
Theo đúng kịch bản, ngày 10/9/1947, Bollaert đọc diễn văn
lần thứ hai tại Hà Đông. Trong diễn văn này, Bollaert đưa ra khẩu hiệu mới là
"Độc lập trong tương trợ [L'Indépendance dans l'interdépendance]." Mục đích
chính không phải là hứa hẹn sẽ trao độc lập cho Việt Nam mà chỉ thỏa măn đ̣i hỏi
của người Việt bằng cách tạo một tiền lệ nhắc đến hai chữ "độc lập"-từ năm 1945,
Pháp chưa hề nhắc đến hai chữ "quốc cấm" này, và chỉ có cặp Ramadier-Bollaert
mới không sợ hăi chúng. Việc này sẽ chứng tỏ tinh thần "cấp tiến" của Paris.(70)
Những đề nghị của Bollaert cũng được cân nhắc sao cho Hồ
không thể chấp nhận được; và như thế, tạo lư do chính đáng để phát động chiến
dịch mùa khô 1947 sắp tới nhằm cắt đứt trục tiếp vận của Việt Minh từ Hoa Nam,
tiêu diệt lực lượng vơ trang Việt Minh, và bắt sống Hồ cùng những cán bộ lănh
đạo.(71)
Diễn văn của Bollaert cũng mở cửa cho Bảo Đại. Mặc dù
chẳng trọng vọng ǵ cựu hoàng, Pháp miễn cưỡng chấp nhận cho Bảo Đại về nước cầm
đầu một chính phủ thống nhất chống Cộng. Bollaert hy vọng rằng việc đả bại Việt
Minh sẽ khiến Bảo Đại bớt cứng rắn trong những điều kiện hợp tác.(72)
Ngày 18/9-tức 4 ngày sau cuộc biểu t́nh rầm rộ ở Sài G̣n
mời Bảo Đại về nước-Bảo Đại ra tuyên cáo chấp nhận sự ủy thác của quốc dân và
sẵn sàng thương thuyết. Ngày 20/9, cựu hoàng nói sẵn sàng gặp đại diện Pháp ở
Hong Kong hay Đông Dương. Theo Giám đốc Mật Thám Đông Dương, Perrier, nói với
Lănh sự Mỹ tại Sài G̣n ngày 22/9, Bảo Đại đă đồng ư thương thuyết, nhưng tạm tŕ
hoăn để khỏi mang tiếng do Pháp dựng lên. Pháp chẳng kỳ vọng ǵ ở Bảo Đại, chỉ
mong Bảo Đại sẽ có một số người ủng hộ. Sợ rằng Bảo Đại khó lôi kéo số lớn người
quốc gia trong hàng ngũ Hồ. Vậy mà Bảo Đại đ̣i hỏi độc lập rộng răi hơn những ǵ
Bollaert đă hứa.(73)
Ngày 29/9/1947, Hoạch từ chức. Hai ngày sau, 1/10,
Xuân-mới từ Pháp về ngày 15/9-được Hội Đồng Tư Vấn Nam kỳ ủy thác lập chính phủ
lâm thời. Một tuần sau, Xuân công bố danh sách chính phủ Lâm thời Nam Phần.(74)
Đây là bước chủ yếu để trao quyền thống nhất lănh thổ cho
Bảo Đại.
C. CHIẾN DỊCH MÙA THU 1947 (LÉA-CEINTURE):
Ngày 7/10, Pháp mở chiến dịch "Léa" (10-11/1947) tấn công
Việt Bắc. Léa là tên một ngọn đèo cao 1,362 mét trên đường số 3, giữa Nguyên
B́nh (Cao Bằng) và Bắc Kạn. Lực lượng mũi nhọn là các toán biệt kích Dù được thả
xuống ngay tỉnh lỵ Bắc Kạn và thị trấn Chợ Mới, nhằm chộp bắt cơ quan đầu năo
của chính phủ Hồ. Tuy nhiên, Hồ đă sớm di tản đến một khu vực khác. Trường Chính
Đặng Xuân Khu đang chủ tọa một buổi họp tại Bắc Kạn kịp thời trốn xuống hầm trú
ẩn. Chỉ có Nguyễn Văn Tố, Bộ trưởng không bộ nào, bị bắt sống và t́nh nghi là
chính Hồ. Ngoài ra, c̣n có phụ tá của Lê Văn Hiến, Bộ trưởng Tài chính, cùng một
số nhân viên thứ hạng khác.
Ngày 7/10, Pháp cũng chiếm được Tong và Sơn La. Nhưng hai
mũi chủ lực Pháp gồm một cánh thiết giáp có Bộ binh tùng thiết di chuyển từ Lạng
Sơn lên Cao Bằng trên đường số 4, dưới quyền Trung tá Beaufré; và một đoàn giang
hạm, mang theo hai tiểu đoàn Bộ binh, do Communal chỉ huy, từ Hà Nội ngược sông
Hồng lên sông Lô, rồi sông Gầm. Hai cánh quân này sẽ như hai gọng ḱm vây chặt
an toàn khu Việt Minh, phá hủy đài phát thanh, các kho tàng, tiêu diệt chủ lực
Việt Minh, và yểm trợ việc thiết lập các tiền đồn dài theo biên giới để cắt đứt
đường tiếp vận của Việt Minh với Trung Hoa. Điểm hẹn là Đài Thị, đông bắc Chiêm
Hoá 12 cây số.
V́ mực nước sông Hồng lên cao, hai ngày sau, cánh quân hỗn
hợp thủy-bộ của Đại tá Commumal mới từ Hà Nội ngược sông Hồng lên sông Lô,
hướng về Tuyên Quang.
Trong khi đó Nhảy Dù tiếp tục truy kích hàng ngũ lănh đạo
kháng chiến Việt Minh. Ngày 9/10, Tướng Salan thả thêm 300 quân Nhảy Dù ở phía
Đông Nam Cao Bằng, tăng cường cho lực lượng cơ giới của Beaufré. Một chiếc
Junker 52 bị bắn hạ. Đại tá Lambert, Tham Mưu Phó của Salan, cùng 10 sĩ quan tùy
tùng bị tử nạn. Việt Minh tịch thu được toàn vẹn kế hoạch hành quân Lea, và 4
ngày sau chuyển về Bộ Tổng Tư lệnh của Vơ Nguyên Giáp.
Ngày 13/10, Nhảy Dù Pháp chiếm Bắc Kạn, Cao Bằng; 20/10,
chiếm Yên Báy; 21/10, chiếm Chapa; và 30/10, chiếm Lào Kay.
Ngày 20/11/1947, Salan mở thêm chiến dịch Ceinture [Ṿng
Đai hay Thắt Lưng]. Đây là giai đoạn II của chiến dịch Việt Bắc. Chiến dịch này
nhằm lùng bắt cho bằng được cơ quan đầu năo của Việt Minh (tại khu vực núi đá
Đ́nh Cả) và phá nát căn cứ địa trong khu vực tứ giác Tuyên Quang-Thái
Nguyên-Việt Tŕ-Phủ Lạng Thương. 9 tiểu đoàn từ Hải Dương tiến lên tảo thanh
phía Đông, Đông Bắc và chính Bắc Hà Nội. Đồng thời lập thế cản để đón đường các
đơn vị từ phía rút Bắc về.
Ngày 19/12/1947, Chiến dịch mùa Thu của Salan chấm dứt.
Mặc dù có những thắng lợi đáng kể, Salan không đạt được mục tiêu chiến lược.
60,000 quân Pháp cùng giang hạm, không quân và thiết giáp chỉ có thể tịch thu và
phá hủy một số kho tàng của Việt Minh cùng ba trạm phát tuyến. Mục tiêu chính,
tức toàn bộ chính phủ Hồ, đều chạy thoát. Đài phát thanh Việt Minh tiếp tục hoạt
động. Trong khi đó, những đợt phản công của Việt Minh gây tổn thất đáng kể cho
lực lượng Nhảy Dù Pháp.(75)
Đáng sợ hơn nữa, từ ngày 12/10, Hồ ra lệnh "tiêu thổ kháng
chiến." Làng mạc bị thiêu hủy. Đường xá, cầu cống bị phá hoại. Nền kinh tế quốc
gia ngày một phá sản. Qua đầu năm 1948, tuyến giao thông từ Lào Kay tới Cao Bằng
của Việt Minh trở lại t́nh trạng tự do như cũ.(76)
Tại miền Nam, việc điều quân Pháp ra Bắc tạo cơ hội cho
Việt Minh tăng gia hoạt động. Mặc dù Việt Minh không tạo được chiến thắng lớn
nào, những vụ phá hoại đồn bót, cầu cống, ám sát, thủ tiêu diễn ra khắp nơi. Hai
vụ ám sát gây tiếng vang nhất là cái chết ngày 10/10/1947 của Nguyễn Văn Sâm
(1898-1947) tại Sài G̣n và Trương Đ́nh Tri ở Hà Nội.(77)
D. THỎA ƯỚC HẠ LONG 6-7/12/1947:
Như mũi tên đă rời khỏi giây cung, thí nghiệm Bảo Đại tiếp
tục chu tŕnh tiến hoá của nó. Báo chí Paris bắt đầu nhập cuộc. Ngày 18/11/1947,
Le Monde đăng bài của André Blanchet, đề nghị trả độc lập cho một nước Việt Nam
độc lập dưới quyền lănh đạo của Bảo Đại. Các đoàn thể, tổ chức chống Cộng người
Việt tiếp tục chuẩn bị đón Bảo Đại về nước. Quan trọng hơn, Bollaert quyết định
gặp Bảo Đại để thương thuyết.
Ngày 6-7/12/1947, hai bên gặp nhau ở Hạ Long. Bollaert kư
với Bảo Đại một tạm ước [protocol] |