|
BUỒN ƠI CHÀO MI
Anthony Darlic
Thứ Bảy
25/9/2004 – Francoise Quoirez – bút danh Sagan, vừa chuyển nghiệp. Ở đời 69
năm, viết 41 tác phẩm, hai lần lấy chồng hai lần li dị, có một người con trai
nối dõi. Còn gì nữa không?
Một thiếu nữ
con ông cháu cha ngỗ ngáo. Năm 12, bị tống khỏi trường của nữ tu Couvent des
Oiseaux vì tội ‘lười như hủi’. Năm 16 tuổi hỏng Tú Tài vì ham bụi đời lêu lổng…
Có Tú Tài lại hụt vào Đại Học. Còn gì nữa không?
Mới 18 tuổi,
Francoise Quoirez lừng lững bước lên văn đàn Pháp và thế giới với một quyển sách
chưa đầy 200 trang mà cô đã đóng cửa sập cầu viết một mạch trong 7 tuần với tựa
sách BONJOUR TRISTESSE nhặt từ một câu thơ của Paul Eluard và bút danh SAGAN
mượn từ một nhân vật của Marcel Proust. Bonjour Tristesse ghi lại những
chuyện tình bay bướm phong nhã, vừa cuồng si, vừa ngây thơ chân thành
đến độ tàn nhẫn của một số thanh niên thiếu nữ thị thành chứ không phải thành
phần trẻ…thép đã tôi thế đấy. Đây là trái cấm, ai cũng ao ước mà ai cũng sợ,
cho nên Bobjour Tristesse trở thành chuyện thị phi chướng tai gai mắt đối với xã
hội nề nếp yên bề đương thời. Nhà xuất bản Julliard quyết định in nhưng ngại
không biết tác giả đã quá tuổi vị thành niên thật chưa? Còn gì nữa không?
Chơi bời bạt
mạng. Hai lần ra tòa hai lần phạt tù phạt vạ, nghiện rượu và ma túy, mê tốc độ
mấy lần tông xe suýt vong mạng, mê cờ bạc đến độ phải yêu cầu casino cho tên
mình vào sổ đen những kẻ đáng bị cấm cửa.
Thú thật,
tôi chỉ say sưa với năm quyển đầu của Sagan là Bonjour Tristesse 1954, Un
Certain Sourire 1956, Dans Un Mois, Dans Un An 1957, Aimez-vous Brahms 1959, Les
Merveilleux Nuages 1961 và vở kịch Château En Suède 1960. Lâu sau này là quyển
Un Peu de Soleil Dans l’Eau Froide 1969 tình cờ qua một bản dịch tiếng Anh thì
phải. Tôi cũng nhớ mang mán là có hai phim của Sagan. Un Certain Sourire và
Aimez-vous Brahms? Vai chính trong Un Certain Sourire là Christine Carère chỉ
biết cười trong khi chuyện không phải là chuyện cười, xem phim xong người ta chỉ
nhớ bản nhạc cùng tên do Johnny Mathis hát. Còn hình như Deborah Keer trong
Aimez-vous Brahms? thì quá nề nếp. Tôi không nhớ một ấn tượng mạnh nào hai phim
này để lại nơi tôi. Cả hai phim đều không đượm mùi thơm nồng của da thịt pha
lẫn mùi hương mimoza, của gió mặn bờ biển, của rượu, của thuốc lá và âm thanh
nhộn nhịp rập rình của những hộp đêm.
Nếu nói về
văn chương tình ái thị phi, nổi danh gần như đồng thời với Bonjour Tristesse là
Lolita của Vladimir Nabokov. Lolita chào đời năm 1955, nhỏ hơn Bonjour
Tristesse một tuổi. Chỉ khác một điều, Nabokov là một giáo sư đại học lớn hơn
Sagan đến 36 tuổi và khi Nabokov đem mối tình đam mê thê thiết của Humbert
Humbert trung niên với bé Lolita chưa đủ tuổi cài trâm phơi bày cho thiên hạ đọc
thì Nabokov đã 56 tuổi. Khác nhau nữa, Lolita ghi lại thảm kịch của một mối
tình, Bonjour Tristesse và Sagan là một bện buộc của sáng tạo và hiện hữu, một
hiện hữu ‘phi lý’ như bao nhiêu hiện hữu khác, theo ngôn từ thời thượng thuở ấy.
Lolita nổi tiếng không cần Nabokov, nhưng Bonjour Tristesse không thể vang danh
nếu không có Francoise Sagan. Sagan là cái nền cho tác phẩm nổi trội, là hiện
thân sống động cho những điều được nói trong sách.
Tiếng Pháp
có một chữ có thể hợp với Sagan. Mignonne, và giống đực mignon, nhưng chẳng mấy
khi được dùng theo giống đực. Đây là một tiếng đặc thù của Pháp, tiếng Anh phải
dùng đến bảy tám chữ khác nhau để chỉ cùng một ý tưởng. Pretty, delicate, sweet,
dainty, tiny, darling, favorite, pet… Nhưng cây đại thọ trên văn đàn Pháp thời
bấy giờ là Francois Mariac gọi Sagan là con tiểu quái mê hồn – charmant petit
monstre. Petit monstre? Đã quái vật sao lại còn quái vật nhỏ với lớn như thế?
Nhỏ vì tuổi tác hay phải chăng vì nổi danh thời đó thường toàn là những người
nhỏ bé? Piaf, de Beauvoir, Gréco, Bardot, Signoret, Vartan và Sagan. Năm 1954,
nhìn Sagan, mấy ai tưởng tượng nổi cô bé không son phấn với đôi mắt vừa nhút
nhát vừa xoi mói, ẩn hiện dưới mái tóc lòa xòa trễ nải, sống mũi hơi thô, môi
thường vắt vẽo điếu thuốc bất cần đời đó là một vì sao sáng vừa hiện lên trên
thủ đô ánh sáng và cũng là thủ đô văn học của thế giới? Cho đến nay, Bonjour
Tristesse đã được dịch ra 22 thứ tiếng và in 4 triệu rưỡi cuốn, riêng ở Mỹ đã
hơn một triệu cuốn.
Lớp thành
niên thời đó khoái Sagan như một trái cấm, lớp thanh niên thiếu nữ khoái Sagan
như khoái một bạn đồng hành tinh quái và bề thế. Đồng lứa với Sagan là lớp
người lớn lên sau thế chiến thứ hai. Sống còn và sống vội như muốn gỡ gạc những
gì đã bỏ mất trong máu xương lửa đạn trò chơi của người lớn. Bom đạn không chỉ
làm tàn đời những người dân vô tội và những chiến binh có trách nhiệm một cách
vô can mà còn giết luôn cả những thần tượng. Lời nguyền của Nietzsche đã thành
tựu. Bom đạn là tiếng chuông báo tử cho các thần tượng. Hitler, Mussolini,
Hirohito, và đứng đầu tất cả là thần tượng của các thần tượng, là Đấng Tối Cao
chí tôn chí thánh.
Trước những
hoang tàn đổ nát của chiến tranh, những người đồng lứa với Sagan đã mất lòng tin
vào người lớn và muốn làm chủ đời mình hơn. Bằng cái gọi là Triết Lý Hiện
Sinh, bằng thái độ chịu chơi, có ăn có chịu chứ không lạnh cẳng nuốt nước bọt
đứng nhìn. Họ muốn sáng tạo như sống và muốn sống như sáng tạo. Không còn thần
tượng làm thước đo nữa thì họ tự đi tìm thước đo cho chính mình. Thước đo của
họ là liều. Hơn nhau ở chữ liều mà thôi. La seule chose qui compte c’est le
risque. G. Bernanos hay ai nói câu đó? Đó là thời điểm xuất hiện của Sagan.
Thời điểm của văn chương dấn thân, của cuộc dấn thân bằng văn chương, nghệ
thuật và triết lý.
Thế hệ chúng
tôi là thế hệ có lửa và thèm lửa. Thế hệ Prometheus. Chúng tôi đem cái thèm đó
vào lớp học, trông chờ các Thầy chúng tôi cho chúng tôi một chút gì sinh động ấm
áp. Không nóng như Nietzsche, như Heidegger, Sartre, Schopenhauer, Marx,
Gusdorf hay ít ra thì ít ra cũng âm ấm như Jasper, Kierkegaard … Nhưng thường
thì chúng tôi chỉ gặp Kant, Bergson và Jean Wahl là những ‘antidote’. Riêng
Kant, trụ cột của môn Triết Tây thời chúng tôi, ở đâu cũng nghe Kant, cũng thấy
Kant, như một đấng toàn thiện toàn năng trong thế giới triết học. Nhưng trong
khi Âu châu rúng động vì cơn bão Cách Mạng 1789, Kant tồn tại như một cái bóng.
Kant là người Phổ, nhưng khi Phổ bị Nga xâm chiếm trong Cuộc Chiến Bảy Năm, Kant
hình như đã không nói một lời, không viết một câu, một chữ nào về chuyện ấy.
Kant hiện tiền như một thiền sư bình lặng, vô tranh, vô ngại. Chỉ khác nhau
một chuyện, thiền sư dùng ngôn từ để đạt ý rồi lặng yên từ bỏ ngôn từ, vong ngôn
lự tuyệt. Kant thì hình như không vậy, vì Kant mất quá nhiều thì giờ loay hoay
biện minh cho một cái trống rỗng là Thần học Thiên Chúa giáo đang chao đảo trong
cơn lốc Cách Mạng Pháp. Sau Kant là Leibniz, Hegel, Fichte. Chúng tôi gọi họ
là những viên thuốc ngủ kinh viện. Nghe giảng về họ đã buồn ngủ, đọc sách của
họ lại càng buồn ngủ hơn. Đành quay về với triết lý Hiện Sinh, cả trong triết
học, lẫn trong văn học nghệ thuật. Quen đọc tiếng Pháp hơn tiếng Anh nên chúng
tôi gặp Francoise Sagan. Bonjour Sagan. Merci Sagan.
Có người cho
rằng Sagan học hành không ra gì nên trở thành nhà văn, rằng hành động nổi loạn
của Sagan chỉ vì thấy bố mình khoái bà bồ hơn mẹ con mình? Đã lở thành công thì
cố thành công luôn? Cũng có thể, nhưng Sagan không chỉ là bấy nhiêu. Sagan là
một hiện tượng. Một thứ dấn thân bay bướm ngây thơ, một thứ phong trần mới nứt
mắt. Hay một thứ chịu chơi xí xọn như Sylvie Vartan qua câu hát: Ce soir, je
suis la plus belle pour aller danser! Nếu các bậc làm cha mẹ, các bậc thầy có
nhăn mặt lo âu: Danser avec qui? thì chắc sẽ nghe câu trả lời: Cái đó tính sau!
Bởi vì nhảy với ai, rồi gì nữa, rồi thế nào nữa, thì cũng không sao cả. Chấp
cuộc đời mà. Non! Rien de rien. Non, je ne regrète rien. Piaf hát như đinh
đóng cột thế đó. Chuyện của Sagan là những cuộc tình đại loại như thế.
Những tác
phẩm của Sagan hấp dẫn vì hình như đã tiềm ẩn một thái độ, một triết lý, một chủ
trương. Đó là triết lý dấn thân, luyến ái như một cách lấp đầy đời sống phi lý
vô nghĩa. Họ lấy triết lý để chống triết học, lấy phi lý để chống duy lý.
Không thể nào hiểu và thích tác phẩm của Sagan nếu không đặt những tác phẩm này
vào bối cảnh tư tưởng hậu chiến ở Âu châu, nhất là Pháp và Đức.
Descartes đã
đẩy người Tây phương tiến một bước khá xa, đã giải phóng họ khỏi thần quyền khi
ông xác quyết cốt lõi của hiện hữu là tư duy, là trí tuệ, là lý trí chứ không
phải lòng tin thụ động mù quáng. Linh hồn của thần học mất hết ý nghĩa. Con
người hiện hữu không phải vì có linh hồn, hay vì linh hồn còn trong thân xác.
Descartes quả quyết tôi hiện hữu vì tôi biết suy nghĩ hợp lý, vì tôi có tư duy.
Lý trí trí tuệ là đôi hia bảy dặm giúp cho con người tự lực đi những bước dài,
trên cả hai xa lộ khoa học kỹ thuật và triết lý chính trị hay ý thức hệ. Có
người còn ấp ủ tham vọng cướp quyền Thượng Đế bằng khoa học và chấm dứt lịch sử
bằng ý thức hệ. Nhưng hậu quả tàn phá chết chóc khổ đau của chiến tranh làm cho
con người bừng tỉnh để thấy rằng văn minh Tây phương và công cụ sắc bén hiệu
dụng của nó là lý trí đã đi đến cùng đường. Trí tuệ khoa học và lý trí chính
trị đã nghiền nát chính tác nhân mang nặng lý trí trí tuệ đó là con người, là
hiện hữu. Nói gì thì nói, phải sống cái đã, phải hiện hữu cái đã. Không phải
tôi tư duy nên tôi hiện hữu mà vì tôi hiện hữu nên mới có tư duy. Lý trí đến
sau, trí tuệ đến sau, yếu tính đến sau.
Thái độ, chủ
trương sống mút chỉ, yêu chết bỏ, dấn thân cùng tận bắt nguồn từ ý nghĩ đó và ý
nghĩ đó thường được gọi là chủ nghĩa hiện sinh hay hiện sinh chủ nghĩa. Nhưng
nếu quả thật hiện sinh đã bị chủ nghĩa vùi dập - chủ nghĩa duy nghiệm khoa học
và duy lý chính trị hay ý thức hệ - thì làm sao có thể dùng chủ nghĩa để phục
hồi hiện sinh? Cho nên cái gọi là chủ nghĩa hiện sinh là một sự trùng phức, một
mâu thuẩn tự nội. May lắm thì có thể nói đến một triết lý, hiểu như một chủ
trương, một thái độ, một lựa chọn vinh danh sự sống, vinh danh con người sống
thực. Lựa chọn hay thái độ hay triết lý ấy hàm ẩn một lựa chọn tỉnh táo, chân
thành, trong sáng. Không đánh lừa ai và cũng không để bị ai mê hoặc.
Về phương
diện sáng tạo, triết lý hiện sinh là một cố gắng đem triết lý vào thơ, vào nhạc,
vào họa để nối lại nhịp cầu giữa tư duy và cảm xúc, giữa lý và tình, giữa tư
tưởng và hiện hữu. Triết lý hiện sinh là một cố gắng đem lại cho hiện hữu một ý
nghĩa, phà hơi ấm cuộc đời vào thế giới triết học khô khan lạnh lẽo phi nhân.
Mưa vẫn là mưa, nắng vẫn là nắng, người yêu vẫn là người yêu. Nhưng mưa, nắng,
người yêu của Trịnh công Sơn đã có thêm một vài sắc màu, một vài ý nghĩa chưa
từng có trong làng nhạc Việt. Văn chương của Sagan cũng thế. Nhạc đó, văn đó
là một thứ triết lý hiện hữu và trở thành món ăn, trở thành kích tố tương tự như
lòng mã thượng ham vui, như rượu, thuốc lá, tốc độ cho cả một hai thế hệ.
Sagan là
khuôn mặt hào hoa tiêu biểu trong phong trào quay mặt với thần tượng mà lớp trẻ
đã dấn thân suốt hai thập niên 50 và 60. Ở Pháp và Âu châu, cao điểm của phong
trào đó là cuộc nổi dậy của sinh viên mùa Hạ 1968 hất nhào thần tượng De Gaulle.
Phong trào này đã lan sang Czechoslovakia tạo thành ‘mùa Xuân Praha’. Nhưng
trước đó ở Mỹ đã có phong trào Make Love Not War của sinh viên học sinh khởi từ
năm 1964 nhắm vào thần tượng anh hùng Viễn Tây mà Lyndon Johnson là hiện thân.
Và trước đó nữa là phong trào của sinh viên học sinh Miền Nam Việt Nam xếp bút
nghiên xuống đường thách thức thần tượng năm 1963. Và trước đó nữa là phong
trào đòi tự do dân chủ đẩy Khrushchev đến chỗ phải hạ bệ thần tượng Stalin năm
1956. Phong trào này đã lây lan sang Hungary tạo thành phong trào ‘mùa Hạ’
Budapest. Đâu đâu chủ lực cũng vẫn là tầng lớp trẻ mã thượng ham vui đi tìm lại
chính mình bằng cách sống trọn vẹn trong bóng với điều mình yêu thích, với tình,
với bạn, với lý tưởng xã hội có mình có người, vì mình vì người.
Thuở sinh
thời, Sagan tự viết cho mình những lời trăn trối thế này: Năm 1954, tôi đến với
đời bằng một quyển truyện tình mỏng, Bonjour Tristess, để rồi trở thành một điều
thị phi cho cả thế giới. Khi biến mất, và cùng tan theo là một cuộc đời bện
buộc êm đềm với tác phẩm. Đó cũng là một điều thị phi nhưng cho chính tôi
thôi. Sagan không hề nghĩ cái chết của mình sẽ trở thành một biến cố. Nhưng
Sagan đã không ra đi trong yên lặng. Cả nước Pháp nghĩ đến Sagan. Tổng
Thống J. Chirac xúc động gọi Sagan là một nhân dáng cao cả trong sinh hoạt văn
học Pháp đã góp phần thăng tiến địa vị của phụ nữ trong xã hội. Thủ Tuớng J-P.
Raffarin bảo giờ thì con tiểu quái mê hồn đã trở về bay lượn trên những tầng mây
tuyệt vời để lại cho triệu triệu người nỗi u hoài khi đọc sách của nó. Thị
Trưởng Paris B. Delanoe nhìn Sagan như một tài năng lớn ra đi để lại cho đời
niềm nhớ về một sức mạnh, về phong thái và nét dịu dàng của ‘một nụ cười thôi’
khép nép e dè vì bản chất nhưng thị hiện rõ rệt trong tác phẩm tài hoa. Trong
mắt cựu Bộ Trưởng Văn hóa J. Lang, Sagan là một tài hoa nồng nàn và sắc bén
trong văn chương hiện đại, một người luôn luôn hết mình sống chết với những
người thân yêu trong khi đương kim Bộ Trưởng Văn Hóa và Thông Tin R. D. de
Vabres gọi Sagan là một nhân cách đầy sắc màu. E. C.-R. chủ tịch giải văn học
Goncourt cho rằng Sagan là kẻ đã sống một cuộc đời bạt mạng như nhiều nghệ sĩ
khác, như James Dean. B. P.-D. nhân viên Hàn Lâm Viện Pháp nhìn Sagan như là
hiện thân của duyên dáng, vui tươi, tài sống còn, quyến rũ, bất chấp cuộc đời có
nặng nề đến bao nhiêu đi nữa.
Sagan không
còn nữa, như một ráng chiều lịm tắt. Thị phi, tốt xấu, đúng sai gửi lại cho đời
tiếp tục nhớ, tiếp tục quên. Nhưng một điều chắc là Sagan đã dám sống và đã
sống như chính những nhân vật Sagan tạo ra để mua vui cho đời.
Tin Sagan
chết hiện ra như một cái chấm vào đoạn đời thanh xuân của một số người lớn lên
và trưởng thành trong hai thập niên 50, 60. Một chút u hoài, một chút buồn nhớ
mong manh như ‘tia mặt trời trong ly nước lạnh’. U hoài và chơi vơi, không phải
như một hoài niệm đẹp vừa trở lại mà như là một quá khứ đẹp vừa lìa xa. Nhịp
sống nào cũng đơn nhất và độc nhất cả, không làm gì có chuyện tắm hai lần trên
một dòng sông. Cái đẹp của hiện sinh là những khoảnh khắc hiện tại vĩnh cửu.
Sagan est morte, bonjour Sagan!
Huỳnh Bất
Hoặc.
Bonjour tristesse, adieu Sagan 
|
 
Françoise Sagan, qualifiée en 1954 de "charmant
petit monstre" par François Mauriac
|
Avec Sagan
disparait aussi une certaine idée de la liberté,
et la magie des années Saint-Tropez
La romancière rédigea elle-même (pour Jérôme Garcin) sa notice nécrologique :
"Fit son apparition en 1954 avec un mince roman, "Bonjour Tristesse", qui
fut un scandale mondial. Sa disparition, avec une vie et une oeuvre agréablement
bâclées, ne fut un scandale que
pour elle-même".
La romancière Françoise Sagan est morte vendredi (22/9/04) à l'hôpital de
Honfleur d'une embolie pulmonaire
L'auteur de
"Bonjour tristesse", "Aimez-vous Brahms", "La chamade", était malade depuis
quelques années.
Fille d'un industriel, Françoise Quoirez est née le
21 juin 1935 à Cajarc ( Lot) et a connu un
immense succès à 18 ans avec son premier livre "Bonjour tristesse" (1954).
C'est une certaine idée de la
liberté d'esprit mais aussi de la France
des années 60 qui a disparu avec l'écrivain à la mèche
blonde en bataille, à la cigarette au bout des lèvres et à la diction rapide et
saccadée.
Fille de bonne famille, elle est renvoyée du couvent
des Oiseaux en 1947 pour son "dégoût de l'effort". Elle rate le bac en 1951,
après une année surtout consacrée à écouter du jazz à Saint Germain des Prés où,
plus tard, elle se liera à Juliette Gréco, Jean-Paul Sartre et tant d'autres.
En juin 1953, elle écrit en sept semaines "Bonjour
Tristesse", signé du pseudo de Sagan
trouvé dans l'oeuvre de Proust, qui se vend à plusieurs millions
d'exemplaires dont un million aux Etats-Unis, et lui ouvre les portes d'une
célébrité jamais démentie.
A travers ses livres, dans lesquels elle peint la
vie sentimentale d'une bourgeoisie oisive, elle a su trouver la fameuse "petite
musique", celle que tout écrivain cherche, faite de coups de griffes et de
sensualité, de tendresse et d'élégance.
Françoise Sagan, qui était une femme de gauche,
a aussi goûté avec bonheur à l'exercice du théâtre, "Château
en Suède" représentant dans sa carrière théâtrale l'équivalent de
"Bonjour tristesse" dans ses fictions.
Françoise Sagan n'a pas seulement animé les rubriques livres des journaux. Sa
vie remplissait ce qu'on n'appelait pas encore les pages "people". Elle
aimait la vitesse (elle faillit se tuer en 1957), le
jeu et les excès, une certaine vie mondaine.
Toute sa vie, elle roule - très vite - en voiture de sport (Jaguar, Mercedes,
Aston Martin, Maserati etc) et regrette, la cinquantaine passée, qu'on s'adresse
à elle "comme un vieil oncle fait la leçon à sa jeune nièce".
Françoise Sagan était aussi une adepte de la
roulette et des cartes. "C'est une passion qui peut mener loin, un
plaisir, un amusement fou. C'est physique, nerveux, tonifiant, extrêmement gai !
C'est la gratuité", disait-elle.
"J'aime gagner et je suis chanceuse. Le destin du
joueur masochiste n'est pas le mien", ajoutait-elle. Elle avait
pourtant demandé son interdiction des casinos pour vaincre son addiction.
Outre son penchant pour l'alcool, c'est
surtout dans des affaires liées à la drogue
qu'elle défraye la chronique.
En mars 1990, elle est
condamnée à six mois de prison avec sursis et une
amende de 360.000 francs, dans un procès dans lequel comparaissent
une quarantaine de prévenus.
En 1995, elle est à nouveau
condamnée à un an de prison avec sursis et 40.000
francs d'amende pour usage et cession de cocaïne, dans une affaire
touchant plusieurs personnalités du show-biz.
"Les lois sont faites pour s'adapter aux hommes et non le contraire. J'ai
toujours déconseillé la cocaïne à tout le monde", dit-elle pour sa défense.
En février 2002, c'est une affaire de
fraude fiscale en marge de l'affaire Elf qui lui vaut la même peine
d'emprisonnement.
Elle avait été mariée deux fois - et vite
divorcée - avec l'éditeur Guy Schoeller (l'éditeur de la collection "Bouquins")
et le "cover-boy" Bob Westhoff, dont elle avait eu
un fils, Denis.
En 1954,
Françoise Sagan s'appelle encore Françoise Quoirez. Elle a peine 18 ans qui
vient de rater un examen à l'Université de la Sorbonne.
Trois ans plus tôt, un projet de pièce comique écrite par l'adolescente a échoué
dans la corbeille à papier. Françoise s'isole dans sa chambre pendant sept
semaines, et tape avec deux doigts un roman de deux
cents pages.
Sur les conseils d'une amie, la romancière Colette Audry, elle propose le
manuscrit à un éditeur.
Quelques jours plus tard, vers midi, l'éditeur René Julliard l'appelle.
"Mademoiselle dort. Rappelez", lui répond-on. Ils se parleront vers 17H00
seulement. René Julliard s'inquiète de ce que la petite prodige est encore
mineure: "ma mère n'approuverait pas",
reconnaît-elle.
"Bonjour Tristesse" est l'histoire d'une jeune fille un rien délurée, dont les
amours scandalisent la bonne société parisienne. Un pseudonyme inspiré d'un
personnage de Proust, un titre tiré d'un vers de Paul Eluard et un délicieux
parfum de scandale lancent le livre.
Les critiques s'emballent. On évoque Colette ou Radiguet et son "Diable au
corps", tandis que la presse s'émeut de cette jeune
auteur qui "gagne des millions et a peur la nuit".
Ce qui apparaît comme une nouvelle "éducation
sentimentale" reçoit le prix de la Critique, décerné par un jury
composé de quelques grands noms de la littérature. La petite Sagan devient riche
et célèbre.
Cinq ans plus tard, "Bonjour Tristesse" s'est déjà
vendu à quatre millions et demi d'exemplaires dans le monde entier, et a été
traduit en 22 langues. Le livre se vend toujours.
Mai 68...en Maserati - "Mai 68 fut une
année plus amusante et peut-être plus libératrice que je ne le pensais", a écrit
Françoise Sagan , décédée vendredi à Honfleur à 69 ans, dans son livre de
souvenirs "Derrière l'épaule..." (éd Plon, 1998).
"Je reçus des bombes lacrymogènes chez Régine et je fis le taxi, des journées
entières, dans Paris, allant où désiraient aller les auto-stoppeurs les plus
divers. Certains d'entre eux, qui avaient bravement défié les forces de l'ordre,
cédaient à l'effroi une fois dans ma voiture", dit-elle.
"Je conduisais très librement et mes jouets favoris (ndlr: mes voitures) me
furent reprochés un soir à l'Odéon où une joyeuse et vociférante assemblée se
passait le micro de l'un à l'autre, applaudis ou hués, pour évoquer la liberté,
les régicides, le prix des pommes de terre et le cinéma muet", ajoutait-elle.
"Il s'en trouva un parmi eux qui s'écria: +Madame Sagan est venue en Ferrari,
bien sûr, apprécier la révolte des camarades étudiants!+ Des vociférations, dont
j'ignorais le sens, s'ensuivirent. On m'envoya le micro, auquel il fallut deux
bonnes minutes pour me rejoindre, ce qui me donnait le temps de chercher une
parade cinglante (que je ne trouvai pas). Je me bornai à me lever et à m'écrier
d'un air sévère: "c'est faux: c'est une Maserati!", raconte l'écrivain.
Bibliographie de Françoise Sagan
1-Bonjour tristesse", Julliard, 1954. (Nouvelle
édition 1993.)
2-"Un certain sourire", Julliard, 1956.
3-"New
York", textes de F. Sagan, Tel, 1956.
4-"Dans
un mois, dans un an", Julliard, 1957.
5-"Château
en Suède", (théâtre), Julliard, 1960.
6-"Aimez-vous
Brahms ?", Julliard, 1959.
7-"Les
merveilleux nuages", Julliard, 1961.
8-"Les
violons parfois" (théâtre), Julliard, 1962.
9-"La Robe
mauve de Valentine", (théâtre), Julliard, 1963.
10-"Landru"
(scénario), Julliard, 1963.
11-"Toxique", Julliard, 1964.
12-"Bonheur,
impair et passe" (théâtre), Julliard, 1964.
13-"La
Chamade", Julliard, 1965.
14-"Le
Cheval évanoui", suivi de "l’Echarde" (théâtre), Julliard, 1966.
"Le Garde du
coeur", Julliard, 1968.
"Un peu de soleil dans l’eau froide",
Flammarion, 1969.
"Un piano
dans l’herbe" (théâtre), Flammarion, 1970.
"Des bleus à
l’âme", Flammarion, 1972.
"Il est des
parfums" (en collaboration avec G. Hanoteau), Jean Dullis, 1973.
20-Un profil
perdu", Flammarion, 1974.
"Réponses
1954-1974", Jean-Jacques Pauvert, 1974.
"Des yeux de
soie" (nouvelles), Flammarion, 1975.
"Brigitte
Bardot" (avec le photographe G. Dussart), Flammarion, 1975.
"Le Lit
défait", Flammarion, 1977.
25-"Le Sang
des Borgia" (dialogues de F. Sagan, scénario de F. Sagan et J. Quoirez, récit
d’E. de Montpezat), Flammarion, 1978.
"Il fait
beau jour et nuit" (théâtre), Flammarion, 1978.
"Le Chien
couchant", Flammarion, 1980.
"Musiques de
scène" (nouvelles), Flammarion, 1981.
"La Femme
fardée", coédition Ramsay-Pauvert, 1983.
30-"Avec mon
meilleur souvenir", Gallimard, 1984.
"De guerre
lasse", Gallimard, 1985.
"Avec mon
meilleur souvenir" (lu par l’auteur, prologue de M. Chapsal, musique originale
de F. Botton), Des Femmes, "La Bibliothèque des voix", 1986.
"Un sang
d’aquarelle", Gallimard, 1987.
"Sarah
Bernhardt, le rire incassable" (biographie), Robert Laffont, 1987.
35-"La
Laisse", Julliard, 1989.
"Les
Faux-fuyants", Julliard, 1991.
"Répliques",
Quai Voltaire, 1992.
"èuvres",
Bouquins-Laffont, 1993.
"Et toute ma
sympathie", Julliard, 1993.
"Un chagrin
de passage", Plon/Julliard, 1994.
41-"Le Miroir égaré", Plon, 1996.
Nombreux hommages
Le président de la République
a appris "avec émotion" la disparition de Françoise Sagan , "figure éminente de
notre vie littéraire" qui "aura contribué à l'évolution
de la place des femmes dans notre pays", a-t-il déclaré Jacques Chirac
vendredi soir dans un communiqué.
Le maire de Paris a
quant à lui salué "l'immense talent" de la romancière:
"elle nous lègue à la fois le souvenir de la force, de ses goûts et la douceur
de ce <<certain sourire>> caché comme par timidité mais dévoilé dans ses écrits,
traces essentielles de son immense talent", a déclaré Bertrand Delanoë.
L'ancien ministre de la Culture, Jack
Lang, a rendu hommage à son "talent vif et ardent". "Nous
pleurons aujourd'hui l'écrivain qui a marqué de son
talent vif et ardent la littérature contemporaine et a longtemps incarné dans le
monde une France de la vie et du mouvement", a-t-il déclaré. "Je n'oublie
pas encore l'amie incomparable qui s'est toujours
battue bec et ongles pour ceux qu'elle aimait, a-t-il poursuivi.
Le ministre de la Culture et de la
Communication Renaud
Donnedieu de Vabres a rendu hommage à la romancière évoquant une
"personnalité flamboyante".
Jean-Pierre Raffarin
a salué "Le charmant petit monstre qui a rejoint les
merveilleux nuages. Et des millions de Français éprouvent ce soir la mélancolie
qu'elle leur a fait si souvent partager dans ses livres", a conclu le
Premier ministre.
La présidente du jury Goncourt,
Edmonde Charles-Roux, a estimé sur France 3 que la romancière
avait "vécu dangereusement comme beaucoup d'artistes,
comme James Dean".
L'académicien Bertrand Poirot-Delpech
a estimé que Françoise Sagan représentait "la grâce, la
gaieté, le talent de vivre, le charme" même si "la vie lui a été lourde".
|
|