|
TAI BIẾN LIỆT MẶT SAU MỘT PHẪU THUẬT CÓ GÂY MÊ
Nguyễn Đ́nh Nguyên
Các bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật với một bệnh trạng hầu như không có liên
quan ǵ đến vùng hàm mặt, t́nh trạng trước khi phẫu thuật (tiền phẫu) hoàn toàn
đủ tiêu chuẩn để trải qua một cuộc phẫu thuật có gây mê toàn thân (general
anesthesia). Sau cuộc phẫu thuật từ khoảng 24 giờ cho đến 3 ngày, bệnh nhân có
biểu hiện liệt mặt, hay chính xác hơn là liệt dây thần kinh số 7 (LDTK7) từ biểu
hiện kín đáo là cứng lưỡi, nói khó cho tới rơ ràng hơn là miệng bị méo, mắt bị
kéo lệch. Như vậy giữa bệnh cảnh đang tồn tại là bệnh cũ với bệnh cảnh LDTK7 có
liên hệ ǵ với nhau hay không, hay là hai bệnh cảnh riêng biệt, bệnh sau chỉ là
một sự tiến triển t́nh cờ trên nền của một bệnh sẵn có?
Tai biến LDTK7 sau một phẫu thuật có gây mê là một bệnh cảnh hiếm, mà y văn lần đầu tiên nhắc đến có lẽ là vào những năm 1934, 1935
trong các báo cáo của Đức và Nga[i].
Tỷ lệ mới mắc thêm (incidence) của chấn thương thần kinh ngoại vi xảy ra do quá
tŕnh gây mê đă được công bố trong hai nghiên cứu điều tra hồi cứu lớn là khoảng
0.14 và 0.1%
[ii].
Đa phần các tai biến đó được tổng kết thường là do t́nh trạng kéo căng hoặc chèn
ép quá mạnh các dây thần kinh gây nên t́nh trạng thiếu máu thần kinh cục bộ, và
nếu dây thần kinh chỉ có bị kéo căng không thôi th́ có thể là do vỡ mao mạch bên
trong các dây thần kinh đó[iii].Chấn
thương các dây thần kinh thường gặp trong trường hợp dây thần kinh chạy dọc theo
một bề mặt nông và dài, nằm vắt qua một khớp xương hoặc là trên một bệnh cảnh có
sẵn như là bệnh tiểu đường, nghiện rượu, viêm đa khớp nốt hoặc bị herpes zoster.
Các bất thường về cấu trúc giải phẫu bẩm sinh và các nguyên nhân khác gây bệnh
lư thần kinh ngoại vi như thiếu hụt các vitamin, rối loạn chuyển hoá porphyrin,
bạch hầu cũng được cho là các yếu tố góp phần gây ra ra t́nh trạng liệt do chèn
ép[iv].
Một số bệnh án tổn thương LDTK7 được báo cáo trong y văn:
Dưới đây chúng tôi xin lược trích một vài báo cáo về các trường hợp tai biến
LDTK7 được công bố trên y văn.
1. Hai báo cáo của Fuller và đồng nghiệp đăng trên tập san JAMA năm 1956[v]:
(a) Một phụ nữ 54 tuổi được phẫu thuật cắt bỏ túi mật. Bệnh nhân có tầm vóc béo
ph́ ở mức vừa, cổ ngắn. Trong quá tŕnh gây mê sử dụng hỗn hợp oxít
nitơ-oxy-ether, đường hô hấp trên bị tắt nghẽn mà có lẽ là do lưỡi tụt ngược
xuống ép vào thành họng sau, khi dùng canun cao su đường miệng đặt th́ t́nh
trạng tắt nghẽn đường thở chỉ cải thiện được một phần, do đó phải nâng xương hàm
dưới lên cho nhô tới trước bằng thao tác ấn mạnh ngón tay vào phía sau của góc
xương hàm dưới hai bên, t́nh trạng tắt nghẽn đường thở cải thiện hoàn toàn sau
đó. Sau khi gây mê 30 phút, bệnh nhân được đặt nội khí quản. Khi bệnh nhân giải
thuốc mê, bà cho biết thấy góc miệng bên trái bị yếu, cả môi trên và dưới và má
bên trái mềm hơn. Bệnh nhân ăn uống bị rơi văi và có hiện tượng mặt lệch khá rơ.
Ba tháng sau bệnh hồi phục. (b) Một bệnh nhân nam 53 tuổi được tiến hành phẫu
thuật khâu thoát vị bẹn. Bệnh nhân này có tầm vóc dềnh dàng và cổ ngắn, dày. Gây
mê sử dụng hỗn hợp oxít nitơ-oxy-ether, và sau đó đường hô hấp bị tắt nghẽn ở
đoạn họng. Đặt canun qua đường miệng không cải thiện cho nên phải áp dụng thủ
thuật đẩy nhô cằm ra phía trước bằng thao tác ấn mạnh ngón tay vào phía sau của
góc xương hàm dưới hai bên, t́nh trạng tắt nghẽn đường thở cải thiện hoàn toàn
sau đó. Mười phút sau tiến hành đặt nội khí quản bằng dụng cụ soi thanh quản.
Qua ngày hôm sau, khi đang cạo râu th́ bệnh nhân nhận thấy khi há miệng th́ thấy
môi phải bị kéo về phía nhân trung. Khám lâm sàng tức thời th́ triệu chứng rất
kín đáo gần như không nhận thấy tổn thương, bệnh nhân nói năng và cả ăn uống
cũng b́nh thường. Tuy nhiên, khi thăm khám kỹ lưỡng th́ nhận thấy nửa môi dưới
bên phải bị yếu hẳn. Ba tuần sau bệnh nhân hồi phục hoàn toàn.
Nhận xét của các tác giả:
Các tác giả cho rằng hiện tượng tắc nghẽn đường thở ở đoạn họng là thường xuyên,
và thao tác ấn ngón tay vào phía sau góc xương hàm dưới để đẩy cằm ra phía trước
cũng là thao tác thông thường và chuyện tai biến liệt dây TK số 7 là chuyện rất
hiếm. Chính v́ thế mà nếu tai biến có xảy ra th́ đôi khi cả bệnh nhân và bác sĩ
cũng không nhận ra. Hơn nữa do có sự không đồng bộ về phân nhánh cũng như đường
đi của dây thần kinh này[vi],
cho nên tại sao tai biến này hiếm gặp.
Hai bệnh nhân mô tả trên đây có thời gian hồi phục tương đối ngắn. Một trong
những bệnh nhân của Zäbisch[vii]
báo cáo là phải mất 6 tháng th́ chức năng dây TK7 mới hồi phục hoàn toàn. Trường
hợp này cần chẩn đoán phân biệt với tổn thương mạch máu năo sau phẫu thuật.
2. Một trường hợp bị liệt một bên DTK7 do chèn ép vào trong góc hàm trong quá
tŕnh duy tŕ đường thở trong lúc gây mê phẫu thuật, gây tổn thương một nhánh
của DTK7--nhánh xương hàm dưới phần ŕa, được Nightingale và Longreen báo cáo
dưới nhan đề “Liệt dây thần kinh mặt do thầy thuốc gây ra” đăng trên tập san Gây
mê năm 1982[viii].
Bệnh cảnh: Một phụ nữ 30 tuổi khoẻ mạnh, nhập viện để làm xét nghiệm sinh
thiết cổ tử cung do xét nghiệm phiến đồ cho thấy có t́nh trạng loạn sản cổ tử
cung ở mức độ trung b́nh. Toàn trạng khoẻ, không có biểu hiện bệnh lư tiểu
đường, bệnh hệ tạo keo (collagen) hoặc nghiện rượu và bản thân cũng như gia đ́nh
không có ai có biểu hiện bệnh lư thần kinh ngoại vi hoặc thần kinh mặt.
Khi tiến hành thủ thuật, bệnh nhân được gây mê bằng thiopenthone 200mg và duy
tŕ với diazepam 10mg, pentazocine 60mg và sau đó có cho liều thiopenthone tăng
cường. Bệnh nhân được cho thở oxy 3lít/phút kết hợp với oxít nitơ (nitrous
oxide) 6lít/phút qua mặt nạ (mask) và hô hấp tự nhiên trong suốt quá tŕnh thủ
thuật. Do việc kiểm soát đường thở khá khó khăn do đó cần phải thông khí qua
đường miệng bằng cách đè chặt vào mặt và dưới xương hàm dưới chặt và động tác
này tác động đến phần thân và các góc của xương hàm dưới ở cả hai bên. Quá tŕnh
gây mê kéo dài trong 40 phút.
Ngày hôm sau khi phẫu thuật, bệnh nhân phàn nàn là khó nói và bị rơi thức ăn,
không có khả năng cử động được phần môi dưới bên trái. Khi thăm khám th́ môi
dưới cử động không cân xứng và không thể làm được động tác huưt sáo. Cảm giác
xúc giác của hai phần ba lưỡi trước không bị ảnh hưởng, cũng như phần chức năng
vận động c̣n lại do dây TK7 điều khiển không bị tổn thương.
Các triệu chứng LDTK7 kể trên thuyên giảm từ từ trong ṿng ba tháng, sau đó th́
bệnh nhân trở lại trạng thái b́nh thường. Trường hợp này không có giải quyết ǵ
liên quan đến pháp lư.
Phần bàn luận, các tác giả nhận xét:
Đă có báo cáo là nhánh má của dây thần kinh mặt khá nhạy cảm với tổn thương do
đè ép như mặt nạ (mask) đeo chặt, đặc biệt khi dây thần kinh có một nhánh nối
nông không như b́nh thường với tuyến mang tai và v́ thế nó có thể bị chèn ép vào
thân của xương hàm dưới[ix].
Trường hợp bệnh nhân này biểu thị t́nh trạng liệt nhánh ŕa hàm dưới của dây
thần kinh mặt, gây t́nh trạng liệt các cơ cằm, cơ dưới góc miệng và cơ môi trong
dưới và tổn thương một phần cơ ṿng miệng.
Trong 100 lần phẫu tích nhánh ŕa hàm dưới của dây thần kinh mặt, Dingman và
Grabb[x]
nhận thấy rằng 19 trường hợp (19%) nó nằm ở vị trí 1cm phía dưới bờ dưới của
xương hàm dưới. Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp phẫu tích th́ sau khi đi
ngang qua động mạch mặt, nhánh thần kinh này lại nằm lên trên bờ dưới của xương
hàm dưới. Và v́ thế khi có sức ép thẳng lên ở vị trí góc hàm th́ có thể gây
chèn ép mạnh vào dây thần kinh.
Trên đây là trích ba bệnh án từ hai trong số các báo cáo về các trường hợp tai
biến liệt dây thần kinh số 7 sau khi phẫu thuật có gây mê trên người lớn. Ở trẻ
em, trường hợp lần đầu tiên được báo cáo trên y văn thế giới là vừa mới tháng 7
vừa qua do Duggan và cộng sự đăng trên tập san Gây mê Nhi khoa tháng 7 năm 2004[xi].
Tuy nhiên bệnh cảnh này khá đặc biệt là xảy ra trên một bệnh nhi và bệnh nhân
này bị hội chứng Treacher Collin.Vắn tắt, hội chứng Treacher Collin là một rối
loạn về di truyền trên nhiễm sắc thể thường gen mang tính trội, gây rối loạn
phát triển nền sọ mặt. Biểu hiện lâm sàng là giảm sản phần giữa mặt, hàm nhỏ,
tai nhỏ, mất đường thính giác dẫn truyền và hở hàm ếch. Bệnh nhân cụ thể này là
một bệnh nhi nữ 18 tháng tuổi, nặng 9.6kg, mắc hội chứng Treacher Collin có các
triệu chứng điển h́nh như đă mô tả và kèm thêm lưỡi to. Bệnh nhân được chuẩn bị
mổ giải quyết hỗ trợ thính giác dẫn truyền (chức năng nghe nhờ dẫn truyền qua
xương). V́ đặc điểm của bệnh nhân này như vậy nên đă gặp phải một khó khăn rất
lớn trong việc tiến hành đặt nội khí quản, duy tŕ chức năng hô hấp trong gây
mê. Kíp gây mê và hồi sức đă phải bằng mọi cách để duy tŕ được mọi chức năng
sống cho bệnh nhân. Nhưng sau đó bệnh nhi đă bị liệt dây TK7, và trường hợp này
cũng được cho là tai biến do gây mê hồi sức. Tuy nhiên, t́nh trạng LDTK7 đă khỏi
hoàn toàn sau hai tháng.
Một vài nhận xét:
|
 |
|
Đường đi và phân bố của dây thần kinh số 7
hay dây thần kinh mặt. I. Điểm xuất phát của TK mặt ở trong cầu năo. II.
Điểm thoát của dây TK mặt ra khỏi hộp sọ qua lỗ rách trâm chũm. 1, nhánh
thái dương. 2, nhánh g̣ má. 3, nhánh mặt. 4, nhánh hàm dưới. 5, nhánh cổ.
(Source: http://www.bellspalsy.ws/nerve.htm) |
Tuy là tần suất hiếm, nhưng tai biến liệt dây thần kinh số 7 (biểu hiện là nói
khó, méo môi miệng, ăn uống chảy ra ngoài, mặt lệch tuỳ theo mức độ) không phải
không gặp. Rải rác trong mỗi thập niên đều có những báo cáo trên y văn về loại
tai biến này. Mặc dù bệnh nhân được mổ v́ một bệnh không có liên quan ǵ đến dây
thần kinh số 7 cả nhưng tất cả những bệnh nhân này đều phải trải qua quá tŕnh
gây mê toàn thân. V́ bị gây mê nên bệnh nhân không hoàn toàn thực hiện được chức
năng hô hấp của ḿnh b́nh thường, do đó cần phải hỗ trợ hô hấp bằng cách khai
thông tắc nghẽn đường thở, đặt ống thở phụ qua miệng hoặc đặt nội khí quản, tức
là đặt một ống thở trực tiếp vào đường thở để rút ngắn khoảng chết không khí
không cần thiết từ thanh quản đến khoang mũi miệng. Quá tŕnh thực hiện những
thao tác này có động tác nâng cằm đẩy ra trước nhằm làm cho đường thở từ khí quả
thông ra ngoài theo một đường thẳng th́ bệnh nhân sẽ dễ thở hơn. Chính v́ thế mà
có thể gây tổn thương dây thần kinh số 7, mà nguyên do đă được tŕnh bày ở trên.
Về đặc điểm
dây thần kinh số 7, hay c̣n gọi là dây thần kinh mặt, là một dây thần kinh hỗn
hợp vừa điều khiển vận động vừa là dây thần kinh cảm giác, từ trong sọ năo thoát
ra nền sọ đi cùng với dây thần kinh số 8 qua tai trong, sau đó TK7 chui qua một
ống xương hẹp gọi là ống Fallop, sau đó thoát ra ngoài nền sọ qua qua lỗ rách
trâm chũm. Như vậy tổn thương dây thần kinh số 7 phía trước ống Fallop được gọi
là tổn thương dây thần kinh 7 trung ương; và tổn thương từ đoạn ống Fallop trở
ra th́ gọi là tổn thương thần kinh 7 ngoại biên. Theo mô tả của Fuller[xii]
và đồng nghiệp, dây thần kinh 7 ngoại biên khi thoát ra khỏi lỗ trâm chũm th́
chạy rất nông cho đến nhánh xương hàm dưới, sau đó nó đi vào tuyến mang tai và
tại đó nó phân làm ba nhánh chính để phân bổ về các cơ mặt Đó là nhánh g̣ má
(bao gồm nhánh thái dương và g̣ má), nhánh miệng và nhánh hàm dưới (bao gồm
nhánh hàm dưới và nhánh cổ). Tuy nhiên các nhánh tận và nhánh phụ của dây TK7 có
thể lên đến 7000 nhánh nhỏ dẫn đến khắp mặt, cổ, các tuyến nước bọt và ống tai
ngoài. Các dây thần kinh này kiểm soát vận động của các cơ vùng cổ, trán và cơ
biểu lộ cảm xúc vùng mặt, cũng như kiểm soát cường độ phát âm. Dây TK7 cũng đóng
vai tṛ kiểm soát bài tiết nước mắt, nước bọt vùng trước miệng. Kiểm soát vị
giác của 2/3 lưỡi phía trước và cảm giác vùng ống tai ngoài. Tại chỗ phân chia,
nhánh thái dương và nhánh g̣ má chạy dốc lên, nhánh miệng và đặc biệt là các
nhánh xương hàm dưới chúi xuống dưới, chạy lên trên hoặc ra sau ngành xương hàm
dưới cho nên dễ bị tổn thương khi có sức ép đè vào vùng này. Thêm nữa, tổn
thương có thể xảy ra khi có tác động kéo xương hàm dưới ra phía trước làm cho
nhánh dây thần kinh mặt đoạn xương hàm dưới bị kéo dăn. Theo mô tả qua 20 lần
phẫu tích dây TK7 của Lisitsyn[xiii]
th́ có một số sự khác biệt trong cấu trúc giải phẫu phân bố các nhánh của dây
thần kinh này. Thứ nhất, chỗ phân nhánh có thể cao hay thấp tuỳ theo vị trí cao
hay thấp của tuyến mang tai. Thứ hai, dây thần kinh có thể nằm nông hơn so với
tuyến. Thứ ba, các nhánh xương hàm dưới đôi khi chạy ở vị trí thấp hơn b́nh
thường, khi nó nó ôm ṿng quanh mép chỗ góc của xương hàm. Do đó khi đè nén vào
vùng xương hàm dưới có thể gây tổn thương nhánh xương hàm dưới. Nhánh xương hàm
dưới có chức năng điều phối các cơ của môi dưới, cho nên các thương tổn có thể
hay gặp ở môi dưới hơn; cũng như các tổn thương nhẹ như nói khó, ăn uống khó.
Tuy nhiên các nơi khác cũng có thể gặp tuỳ theo nhánh nào của dây thần kinh 7 bị
ảnh hưởng.
Về mặt chẩn
đoán trên lâm sàng: Lư thuyết mà nói th́ trên một cơ thể, bao giờ cũng có một
khả năng là hai bệnh không có liên hệ ǵ với nhau về mặt chức năng, nhân quả,
cùng một cơ chế bệnh có thể xuất hiện cùng một thời điểm hoặc gối đầu hoặc kế
tục nhau. Những bệnh cảnh xuất hiện như thế này thường là một bài toán hóc búa
cho người thầy thuốc, thế nhưng may mắn là xác suất để có những bệnh cảnh phối
hợp như vậy trên thực tế là rất thấp. Cho nên đối với người làm công việc chẩn
đoán và chữa trị bệnh, khi gặp một bệnh cảnh mà có nhiều triệu chứng có thể của
cùng một cơ chế bệnh lư hoặc không th́ nguyên tắc đầu tiên là phải xem xét chúng
trong một quá tŕnh bệnh lư chung trước, ít nhất là cùng một cơ chế bệnh sinh
bệnh nguyên, không được th́ cũng trong một tiến tŕnh bệnh, không được nữa th́
là biến chứng, không được nữa th́ là có liên hệ ngang, liên hệ gián tiếp; và
cũng với nguyên tắc loại suy cho tới khi không ghép chúng với nhau được nữa th́
mới tạm chấp nhận là chúng đứng riêng lẻ với nhau để rồi cân nhắc, xem xét lại
sau đó.
Trong một
ngữ cảnh t́nh huống như vậy th́ xác suất cho một bệnh nhân được đi chỉ định phẫu
thuật v́ một bệnh lư nào đó trong cơ thể (thí dụ như phẫu thuật tạng bụng) sau
đó th́ bị LDTK7 (dù có mối liên kết với nhau trực tiếp hay gián tiếp đi nữa) là
rất hiếm, nhưng không phải không gặp. Và nếu LDTK7 xảy ra ngay sau khi phẫu
thuật có gây mê toàn thân, trên một cơ thể trước đó hoàn toàn khoẻ mạnh về mặt
chức năng thần kinh th́ căn nguyên nên nghĩ đến trước tiên là tai biến.
Trở lại một
trường hợp bệnh nhi ở Việt nam mà báo chí có đưa tin[xiv]
, bệnh nhân được tiến hành làm thủ thuật giải quyết chít hẹp bao quy đầu
(phimosis) có gây mê toàn thân. Sau ca mổ th́ cháu xuất hiện t́nh trạng nói khó,
lưỡi bị vẹo, và được giới chuyên môn xác định là có t́nh trạng liệt kín đáo dây
TK 7. Như thế chẩn đoán Tai biến liệt dây thần kinh số 7 do gây mê trên bệnh nhi
này là hoàn toàn có thể nghĩ đến dù khả năng hiếm. Để sang một bên vấn đề trách
nhiêm, về mặt chuyên môn thiết nghĩ một báo cáo chuyên môn (case report) để công
bố cho các đồng nghiệp trong nước cũng như trên thế giới chia sẻ kinh nghiệm là
một điều bổ ích.
NĐN 09/2004
Các tài
liệu có thể đọc thêm:
1. Garcia Callejo FJ, Velert Vila MM.Facial paralysis after non-otologic surgery under general anesthesia. Acta Otorrinolaringol Esp. 1998 Mar;49(2):173-5. [Article in Spanish]2. Delalande JP, Rea D. Facial paralysis after general anesthesia. Ann Fr Anesth Reanim. 1988;7(5):440. [Article in French]
3. Vaghadia H. Facial paresis after general anesthesia. Report of an unusual case: Heerfordt's syndrome. Anesthesiology. 1986 Apr;64(4):513-4.
4. Spielberger L, Speilberger L. Facial paralysis after general anesthesia? Anesthesiology. 1987 May;66(5):710-1 and 874
5. Pedersen SW. Mask anesthesia in anal fissure as the cause of facial paresis. Lakartidningen. 1986 Dec 17;83(51):4363. [Article in Swedish]
6. Glauber DT.Facial paralysis after general anesthesia. Anesthesiology. 1986 Nov;65(5):516-7.
7. Mayumi T, Yasukawa K, Yasukawa M, Takasaki M, Takahashi T. Facial nerve palsy: an unexpected complication following anesthesia by mask: a case report (author's transl). Masui. 1980 Jan;29(1):80-4. [Article in Japanese]
[i]
Lisitsyn MS: Postnarcotic Paresis of Branches of Facial Nerve due to
pressure During Administration, Vesnik khir 1934;36;17-19. và
Polonvikova EP. Paralysis of Inferior Branch od Facial Nerve Following
Anesthesia. Sovet.khir 1935;10:12.
[ii]
Parks BJ. Postoperative peripheral neuropathies. Surgery 1973; 74: 348-57.
Và
Dhuner
KG. Nerver injuries following operations: A survey of cases occcurring
during a six year period. Anesthesis 1948; 11:289-93.
[iii]
Denny-Brown D, Doherty NM. Effects of transient stretching of peripheral
nerve. Archives of Neurology and Psychiatry 1945;54:116-29. và
Denny-Brown D, Brenner C. Paralysis of nerve induced by direct pressure and
by tourniquet. Archives of Neurology and Psychiatry 1944;51:1-26.
[iv]
Nicholson MJ, McAlpine FS. Neuron injuries associated with surgical
positions and operations. In Martin JT, ed. Positioning in Anesthesia and
Surgery, Philadelphia: WB Saunder CO., 1978:193-224. và
Nicholson
MJ, Eversole UH. Nerve injuries incident to anesthesia an operation.
Anesthesia and Analgesia 1957; 36: 19-32.
[v]
Fuller JE, Thomas DV, Rochester NY. Facial nerve paralysis after general
anaesthesia. JAMA 1956;162:645.
[vi]
Anson BJ. Atlas of Human Anatomy, Philadelphia. WB Saunder Company, 1950:37.
và
Dingman
RO, Grabb WC. Surgical anatomy od the mandibular ramus of the facial nerve
based on the dissection of 100 facial-halves. Plastic and Reconstructive
Surgery. 1962;29:266-72.
[vii]
Zäbisch K. Paralysis of Facial Nerve as Complication of General Anesthesis.
Anaesthetist 1953; 2:141-142.
[viii]
Nightingale PJ, Longreen A. Iatrogenic facial nerve paresis. Anaesthesia
1982; 37:322-23.
[ix]
Churchil-Davidson HC. A practice of anaesthesia 4th ed. London:
Lloyd-Luke, 1978.
[x]
Dingman RO, Grabb WC. Surgical anatomy od the mandibular ramus of the facial
nerve based on the dissection of 100 facial-halves. Plastic and
Reconstructive Surgery. 1962;29:266-72.
[xi]
Duggan M, Ames W, Papsin B, Berdock S. Facial nerve palsy: acomplication
following anaesthesia in a child with Traecher Collins Syndrome. Pediatr
Anaesthesia;14(7):604.
[xii]
Fuller JE, Thomas DV, Rochester NY. Facial nerve paralysis after general
anaesthesia. JAMA 1956;162:645.
[xiii]
Lisitsyn MS: Postnarcotic Paresis of Branches of Facial Nerve DUe to
pressure During Administration, Vesnik khir 1934;36;17-19.
[xiv]
http://vnexpress.net/Vietnam/Suc-khoe/2004/09/3B9D625C/
http://vnexpress.net/Vietnam/Suc-khoe/2004/09/3B9D6323/
http://vnexpress.net/Vietnam/Suc-khoe/2004/09/3B9D6394/
|
|