|
Công nghệ Sinh học trong nông
nghiệp: con dao hai lưỡi ???
Vũ Nguyên
Cách đây khá lâu, vào ngày 22 tháng 2 năm 1997 khi Viện
nghiên cứu Roslin ở Edinburgh, Tô Cách Lan loan tin sự ra đời của con cừu Dolly,
th́ cả xứ Tô Cách Lan lạnh lẽo và cả thế giới như bùng lên một cơn băo lửa. Đây
là lần đầu tiên khoa học đă thành công trong việc dùng một tế bào thường chứ
không phải là tế bào sinh dục để tạo ra một động vật từ phương pháp sinh sản vô
tính (cloning). Và đây cũng là kết quả mà Hitler thời Đức Quốc Xă đă có lần chủ
trương muốn ‘lai tạo’ một giống người ‘thượng đẳng’ mới để tiêu diệt giống người
‘hạ đẳng’ khác để chiếm đoạt thế giới, hoàn thành giấc mộng bá chủ đồ vương.
Cho nên sự ra đời của con cừu Dolly đă tức khắc dẫn đến một
câu hỏi ai cũng lo âu: Công nghệ sinh học, có phải đây là con dao hai lưỡi của
chúng ta ?
Cơn sốt nổi cộm nhất của công nghệ sinh học trong nông nghiệp
là sự ra đời của một loại thức ăn gọi là thức ăn biến đổi gen (Genetically
Modified Foods, gọi tắc là GM Foods). Đây là loại thức ăn được chế tạo từ những
cây được thay đổi tính di truyền bằng kỹ thuật công nghệ sinh học: ghép những
gen thích hợp nhờ một trung gian, thường là vi khuẩn Agrobacterium hay siêu vi
khuẩn Bacteriophages, để tạo nên những giống cây có năng xuất rất cao, chống
bệnh tốt đáp ứng được yêu cầu cấp bách về lương thực. Loại thức ăn GM này hiện
đă có mặt trên hơn 500 mặt hàng thông dụng bán khắp nơi trong các siêu thị trên
thế giới. Chưa bao giờ có một loại thức ăn mà khi ra đời lại gặp ‘trăm mối ngổn
ngang’ như vậy : kẻ th́ hồ hỡi phấn khởi, người th́ quyết liệt chống đối đến
cùng.
 |
|
H́nh 1. Giống cải dầu biến đổi gen ‘Drakar’ (phía sau) được
ghép gen ‘bar’ sinh trưởng tốt so với giống ‘Drakar’ đối chứng (phía trước).
(Salamini S. and Motto M., 1993). |
Cơn bộc phát dân số thế giới vào giai đoạn sau Thế chiến II
đă tạo ra một t́nh cảnh hết sức đen tối cho con người. Nạn thiếu thực phẩm đă
trở nên trầm trọng cho nhiếu quốc gia nghèo ở Phi châu, Á châu và Châu Mỹ La
Tinh. Mỗi ngày trên quả đất này, đă và đang có hàng triệu trẻ em chết đói hoặc
thiếu ăn. Theo Liên Hiệp Quốc (2002) chỉ ở các nước miền nam châu Phi không thôi
hiện đang có khoảng 14 triệu người lâm nạn đói.
Tăng nhanh thực phẩm để thỏa măn nhu cầu lương thực do đó đă
trở nên mối quan tâm hàng đầu của thế giới. Các nhà khoa học đă làm đủ mọi cách
để đạt mục tiêu trên. Cuc ‘cách mạng xanh’ trong thập niên 60s đă nâng năng xuất
lúa ḿ, lúa nước lên đến 75%, giúp cho nhiều quốc gia nghèo đói trở nên đủ ăn,
có khi c̣n có khả năng để xuất khẩu.
Thế nhưng từ thập niên 80s, con người đă bắt đầu hiểu được
chúng ta đă trả một giá rất đắt cho cuộc ‘cách mạng xanh’ này. ‘Cách mạng xanh’
đă sử dụng quá nhiều phân bón, nông dược, thuốc diệt cỏ để nâng cao năng xuất
đă làm ô nhiễm môi trường, tăng độ kháng của các sâu bệnh và tiêu diệt tính đa
dạng tự nhiên của thế giới thực vật. ‘Cách mạng xanh’ đă tập trung vào một số ít
các giống lai F1 để mất đi một số lớn giống bản xứ tuy năng xuất thấp nhưng lại
mang nhiều đặc tính di truyền tốt về chống sâu bệnh, chất lượng cao. Cho nên đến
thập niên 90s, đă có nhiều phê phán cho rằng kỹ thuật nông nghiệp sau Thế chiến
II và cuộc ‘cách mạng xanh’ là một kỹ thuật sai lầm, cần sửa đổi. Quan niệm về
một nền ‘nông nghiệp bền vững’ hài ḥa giữa khoa học, môi sinh và con người từ
đó ra đời.
Phương pháp lai tạo cổ điển ‘kiểu Mendel’ th́ chờ đợi kết quả
ở sự kết hợp tự nhiên của cha mẹ, nên có khi phải mất 10, 20 năm mới lai được
một giống mới vừa ư, hoặc có khi không lai được giống nào. Trong khi ở phương
pháp di truyền công học, chỉ cần biết được gen muốn cải thiện ở đâu, là có thể
tách ra rồi ghép vào cây muốn cải thiện. V́ thế cho nên không lạ ǵ khi thấy
trong đậu nành lại mang gen Bt chống sâu bọ lấy từ vi khuẩn, trong cà chua lại
mang gen anti-freeze chống lạnh lấy từ cá, trong sữa ḅ lại mang gen
alpha-lactalbumin lấy từ con người và trong lúa lại có gen beta-carotene lấy
từ hoa thủy tiên. Tuy gen được cấy không phải là gen của giống cùng loài, nhưng
về mặt sinh hoá, cấu tạo của gen này cũng là một đoạn DNA gồm hai nhánh xoắn
ḷ xo mang 4 nucleotides A-T, C-G.
Những lợi ích của cây biến đổi
gen
Những lợi ích của cây biến đổi gen có thể được tóm tắt như
sau:
1. Nâng cao năng xuất:
Mặc dù thuốc lá là loại cây đầu tiên ứng dụng thành công kỹ
thuật ghép gen theo phương pháp di truyền công học (1983), nhưng giống cà chua
Flavr Savr (1992) có tính tồn trữ lâu do ghép được gen long shelf life tách từ
vi khuẩn mà công ty Calgene (Hoa Kỳ) đă đưa vào thị trường năm 1994 mới là loại
thực phẩm biến đổi gen thương măi đầu tiên mà con người biết đến.
Sau Flavr Savr, hàng loạt các giống cà chua công nghiệp, tức
cà chua đóng hp, cà chua làm sauce, cà chua làm juice mang nhăn hiệu USA đều đă
được ghép gen long shelf life để quả được chín đồng bộ, đưa năng xuất lên cao.
Từ 60 tấn/mẫu tây, cà chua công nghiệp Hoa Kỳ nay đă tăng lên được 120 tấn/mẫu
tây.
2. Giảm lao động:
Công ty Monsanto (Hoa Kỳ) là công ty đầu tiên giới thiệu các
giống Roundup-Ready đậu nành, bông vải, bắp và cải dầu (canola) mang gen chống
thuốc diệt cỏ. Roundupâ là tên thương măi của một loại thuốc diệt cỏ. V́ các
giống đậu nành, bông vải, bắp và cải dầu nói trên đă được ghép gen chống thuốc
diệt cỏ, cho nên khi gieo trồng, nông gia có thể xịt Roundup để diệt cỏ mà không
hề sợ ảnh hưởng xấu đến cây trồng. Với nền nông nghiệp đại điền, lương lao động
cao như ở Hoa kỳ, Úc, Canada, công tác kiểm soát cỏ dại bằng thuốc diệt cỏ đă
giảm thiểu rất nhiều lao động cho việc sản xuất.
3. Bảo vệ môi sinh bằng cách giảm việc sử dụng nông
dược:
Công ty Ciba-Geigy (Thụy Sĩ) gần đây đă giới thiệu giống Bắp-Bt
mang gen Bt chống các loại sâu bọ. Gen Bt là gen kháng sâu bọ tách từ vi khuẩn
Bacillus thuringiensis (Bt) có khả năng tạo một protein gây độc cho đường ruột
của các loại sâu ăn lá và đục quả như Manduca sexta, Heliothis virescens và
Heliothis zea nhưng lại không gây ảnh hưởng xấu đến các loại thiên địch, gia súc
và con người. Trồng hoa màu mang gen Bt, nông gia đă giảm thiểu được một lượng
thuốc trừ sâu rất lớn, góp phần vào việc bảo vệ môi sinh.
4. Tăng tính chịu đựng của cây trồng:
Ở Úc châu, năm 1996 nhóm nghiên cứu Appels của Bộ Nông Nghiệp
NSW cũng ghép được gen chống lạnh anti-freeze của cá bơn để tạo giống lúa ḿ
chống lạnh.
5. Tăng chất lượng và dược tính của nông sản:
Vào năm 2000, giáo sư Ingo Potrykus thuộc Viện Đại học Bách
Khoa Kỹ Thuật Zurich (Thụy Sĩ) đă ghép thành công gen beta-carotene, một loại
tiền Vitamin A, tách từ hoa thủy tiên vào giống lúa nước để tạo ra một loại gạo
có chứa Vitamin A. Đây là hạt gạo ‘vàng’ golden rice có thể cứu hàng triệu trẻ
em ở các nước nghèo thoát chết v́ bệnh c̣i hoặc mù mắt v́ thiếu Vitamin A. Gần
đây nhất, các nhà khoa học đang cố gắng tạo một giống xà lách có mang vaccine
ngừa bệnh xơ gan Hepatitis Bộ, một bệnh rất phổ biến ở các nước Á Phi. Nếu kế
hoạch nghiên cứu này thành công, con người từ đây không cần phải chích ngừa miễn
dịch những bệnh hiểm nghèo làm chi cho mệt. Chỉ cần ăn nhiều rau quả có ghép các
loại vaccine nói trên, vừa bổ vừa được miễn nhiễm. Khỏe re !!!
Những nguy cơ của thức ăn biến
đổi gen
Công nghệ sinh học, cũng như công nghệ vi tính, là hai ngành
kỹ thuật được phát triển một cách ồ ạt trong ṿng hai thập niên qua. Chúng đă
thay đổi cuộc sống của con người tận gốc rễ. Tuy nhiên, trong khi ngành vi tính
xâm nhập vào đời sống chúng ta một cách nhẹ nhàng êm ái, th́ ngành ghép gen lại
tạo ra nhiều làn sóng chống đối, đặc biệt nhất là ở Âu châu, đứng đầu là Anh
Quốc. Sở dĩ như thế là v́:
1. Trước hết là sự lo sợ về sức khỏe của con người.
Thức ăn biến đổi gen có thể gây dị ứng v́ một gen mới sẽ tạo ra một protein mới
gây dị ứng vốn lâu nay tiềm ẩn trong thân thể chúng ta. Thực ra, nếu chỉ nói
đến tính dị ứng thông thường, th́ dị ứng với thức ăn không phải là điều mới lạ.
Xưa nay chẳng phải đă có rất nhiều người trong chúng ta đă dị ứng với tôm cua
nghêu ṣ ốc hến hoặc sữa ḅ, trứng gà rồi đó sao ! Nhưng điều người ta lo sợ là
những gen của vi khuẩn khi ghép vào cây trồng có khi sẽ tạo ra những phản ứng
khác thường mà với tŕnh độ khoa học hiện nay, chúng ta chưa hoàn toàn hiểu hết
được. Lư luận này chưa được kiểm chứng bằng khoa học v́ thức ăn biến đổi gen mới
có mặt từ năm 1994. Một thời gian quá ngắn để có những nghiên cứu đáng tin cậy.
Nhưng kể từ khi con người biết được đă có những bệnh nan y lây lan từ súc vật
sang người, như bệnh ḅ điên ở Anh chẳng hạn, th́ sự lo sợ về thức ăn biến đổi
gen không phải là không có lư.
2. Kế đến là những lo sợ v́ sự lan truyền các gen của
cây biến đổi gen này vào đất, tạo ô nhiễm cho môi trường. Thông thường khi các
sinh vật chết, các gen của chúng bị phân giải ngay sau môt thời gian ngắn. Các
gen của các cây biến đổi gen th́ có thể tồn tại lâu hơn trong một vài điều kiện
đặc biệt. Ví dụ trong môi trường đất sét, các gen này có thể tồn tại rất lâu,
tạo cơ hi để các vi khuẩn trong đất hấp thụ, biến DNA này thành gen của chính
vi khuẩn đó, rồi truyền sang các thế hệ con cháu. Một gen mới chưa rơ tốt xấu
thế nào mà cứ luân lưu măi trong hệ sinh thái cũng là một điều đáng ngại.
Hoặc gen chống thuốc diệt cỏ ở cải dầu Roundup Ready. Cải dầu
thuộc họ Brassica mà trong đó có cả giống cải dại wild mustard. Đây là một loại
cỏ dại rất phổ biến ở nông thôn. Khi trồng giống cải dầu Round-up Ready này,
chúng sẽ lai tạp với giống cải dại. Như thế chỉ trong vài thế hệ, loại cải dại
cũng mang gen chống thuốc diệt cỏ, trở thành một lại ‘siêu cỏ dại’ mà không có
một loại thuốc diệt cỏ nào có thể kiểm soát được. Nghiên cứu của đại học bang
Ohio, Hoa Kỳ đă chứng minh rằng giống hướng dương dại khi lai tạp với giống
hướng dương Round-up Ready đă trở nên khó diệt hơn và sản xuất hạt nhiều hơn 50%
so với giống hướng dương dại đối chứng.
Hoặc gen Bt chống sâu ăn lá và đục quả ở giống bắp dùng làm
thực phẩm cho gia súc. Gen Bt có khả năng tạo một protein gây độc cho sâu.
Protein này có khả năng chống chất kháng sinh của sâu cho nên người ta lo ngại
rằng khả năng chống được chất kháng sinh này trong bắp có thể sẽ truyền qua các
vi khuẩn đường ruột của gia súc khi chúng ăn vào, và do đó khi chúng ta ăn thịt
gia súc, sẽ có sác xuất chúng ta cũng mang chất kháng sinh, do đó chúng ta không
thể dùng thuốc kháng sinh để trị bệnh được nữa. Theo báo cáo của Hội đồng Khoa
học Ḥang gia Anh th́ ‘khả năng truyền đạt chất chống kháng sinh từ cây biến đổi
gen sang vi khuẩn đường ruột hầu như không thể xẩy ra’, nhưng theo Derek Burke,
nguyên chủ tịch Hội đồng Tư vấn cho chính phủ Anh về vấn đề thực phẩm, th́ "điều
chúng tôi có thể nói, là mức đ nguy hiểm này không phải là zero".
Có rất nhiều mối lo lắng và nghi ngờ về thức ăn biến đổi gen.
Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu hoặc một bằng chứng nào cho thấy thức ăn biến
đổi gen có hại trực tiếp đến sức khỏe con người. Vào trung tuần tháng hai năm
1999, một nhóm 20 nhà khoa học quốc tế lên tiếng ủng h lời tố cáo của Arpad
Pusztai, một nhà nghiên cứu của Viện Nghiên Cứu Rowett ở Aberdeen, Tô Cách Lan,
cho rằng thức ăn biến đổi gen đă có những kết quả không tốt trên các cơ quan nội
tạng của chuột bạch khi chúng được nuôi bằng khoai tây biến đổi gen. Khổ nỗi
nhóm khoa học gia này lại không phải chuyên gia trong ngành sinh vật học, nên
lời họ tố cáo không có giá trị đối với những khám phá khoa học của Pusztai, mà
chỉ nhằm tố cáo chính phủ Anh đă âm mưu che đậy kết quả của Pusztai và làm áp
lực để ông ta phải nghỉ hưu sớm. Nghiên cứu của Pusztai sau đó đă bị Clive
Meredith, Giám đốc Viện nghiên cứu độc học BIBRA International ở Carshalton,
Surrey, Anh Quốc và Paul Brantram, nhà nghiên cứu cũng của viện nói trên, phủ
nhận tính khoa học của nó. Cũng cần nhắc lại rằng, khi bệnh ḅ điên xuất hiện
ở Anh vào đầu thập niên 80s, cũng chính Chính Phủ Anh Quốc, mà đại diện là ông
Bộ Trưởng Bộ Nông Nghiệp, đă tuyên bố rằng bệnh ḅ điên không bao giờ lây lan
sang con người. Ông Bộ trưởng này đă chứng minh và trấn an dân Anh bằng cách tự
ḿnh và con trai biểu diễn một màn ăn thịt ḅ nướng trước ống kính TV. Qua thập
niên 90s, cũng bằng những h́nh ảnh trên TV, toàn thế giới chứng kiến cảnh thương
tâm của một số trẻ em Anh Quốc bị bệnh ḅ điên. Chính phủ Anh bồi thường mệt
nghỉ v́ màn biểu diễn của ông Bộ trưởng chính trị gia kia!
3. Sau hết là điểm then chốt nhưng không được ai nhắc
đến trong cuộc tranh luận. Đó là vấn đề bản quyền của các giống cây biến đổi
gen. Kỹ thuật ghép gen là một kỹ thuật không phải ai cũng làm được. Đây là một
kỹ thuật khó và tốn kém. Chẳng hạn như giống cà chua ‘Flavr Savr’ của công ty
Calgene đă phải tốn đến 25 triệu Mỹ kim mới thành công. Chính v́ vậy cho nên các
công ty sản xuất được những loại cây/con biến đổi gen đều là những công ty siêu
quốc tế, phần lớn trong tay của Hoa Kỳ và Âu Châu. Các công ty này đă buc các
nông gia những điều kiện rất gắt gao, chặc chẽ để bảo vệ bản quyền về giống của
họ. Việc bảo vệ bản quyền của những giống cây/con biến đổi gen này do đó sẽ dễ
dàng đưa đến việc khống chế một ngành kỹ nghệ. Lo ngại hơn hết là những kỹ nghệ
nông nghiệp chiến lược. Hăy thử tưởng tượng ngành lúa ḿ của Úc hay ngành trồng
lúa nước Việt Nam bị khống chế bởi một công ty về một giống lúa chống sâu bệnh.
Cho nên không biết có phải đây là nguyên nhân chính "không-nói-được" đă gây nên
làn sóng chống đối một cách mạnh mẽ đối với những giống cây biến đổi gen chăng?
Thế giới và các loại thức ăn
biến đổi gen
 |
|
H́nh 2. Cảnh sát đang lập biên bản những
người thuộc nhóm Xanh đang phá một nông trường trồng cải dầu biến đổi gen
tại Anh quốc. (NewScientist, 24 May 2003) |
Vào năm 1998 trên thế giới đă có 28.2 triệu mẫu tây trồng các
giống cây biến đổi gen. Đến năm 2000 diện tích này tăng lên 44.2 triệu mẫu tây.
Các giống cây biến đổi gen đă được trồng trên 14 quốc gia, gồm lúa mạch, lúa
miến, lúa nước, đậu nành, các loại rau quả như khoai tây, cà chua, cà rốt, đậu
ḥa lan, dâu tây hoặc các cây công nghiệp như thuốc lá, bông vải, cải dầu. Đây
là những giống cây ngoài những khả năng như chống chịu được sâu bệnh, tuyến
trùng, khô hạn, sương muối, nước mặn, nóng, lạnh, hoặc những giống cây có tính
tồn trữ lâu, chất lượng cao, và mang nhiều dược tính. Mà chúng c̣n đem đến cho
nông gia và giới tiêu thụ những lợi ích khác đáng kể như giá thành rẽ (Ví dụ như
giá thành giống cải dầu biến đổi gen rẽ hơn giống b́nh thường đến 140 Mỹ kim một
mẫu tây), năng xuất cao gấp bi và bảo vệ sức khỏe của con người cũng như môi
sinh nhờ việc giảm thiểu lượng sử dụng nông dược.
Trong số những quốc gia ứng dụng giống cây biến đổi gen, Hoa
Kỳ là quốc gia đứng đầu với gần 32 triệu mẫu tây, trồng 22 giống cây lương thực,
chiếm 72% tổng số diện tích . Argentina chiếm 15%, Canada chiếm 8%. Riêng Âu
châu, Úc châu và Trung Quốc, tất cả cả ba nơi gp lại chỉ mới có chừng gần 2.2
triệu mẫu tây, chiếm 5% tổng số diện tích trồng các loại cây biến đổi gen mà
thôi.
Trừ những giống cây công nghiệp như bông vải, các giống cây
lương thực kia hầu như đều có mặt trong tất cả các loại thực phẩm, kể đến hơn
500 thứ, được bày bán trên thị trường. Chẳng hạn như đậu nành - thành phần được
dùng để làm loăng hoặc đông đặc thức ăn- đă có mặt trong khoảng 60% các loại
thức ăn phổ biến, hoặc cải dầu và bắp là những thành phần thực phẩm có trong
thức ăn trẻ em, chocolate, khoai tây chiên hoặc món pasta, bánh ngọt, bánh ḿ.
Thức ăn biến đổi gen cũng đă được phân phối khắp nơi, không
những ở những nước kỹ nghệ ở Mỹ châu, Âu châu, Úc châu mà c̣n ở các nước thuộc
thế giới thứ ba qua h́nh thức viện trợ.
Kỹ thuật biến đổi gen và tương
lai nông nghiệp thế giới
Thế giới hiện đang có 6 tỉ người. Với tốc đ tăng trưởng dân
số như hiện nay, con người cần phải sản xuất một lượng thực phẩm nhiều gấp đôi
để nuôi một thế giới 8 tỷ người vào năm 2025, nhiều gấp ba để nuôi 10 tỷ người
vào năm 2050. V́ kỹ thuật lai tạo kiểu cổ điển chỉ có khả năng tăng năng xuất
1.5% mỗi năm, nên chúng ta cần một kỹ thuật tạo going mới để có một bước nhảy
vọt, giống như bước nhảy vọt của cuộc "cách mang xanh" của thập niên 60s năm nào.
Nếu suy nghĩ theo hướng đó th́ kỹ thuật biến đổi gen là một
kỹ thuật mới, khả thi. Bởi v́ chỉ có kỹ thuật này con người mới nhanh chóng và
chủ động trong việc cải thiện giống cây/con bằng cách đưa một hay nhiều gen mới
vào. Cấu trúc của gen dù của vi khuẩn, hay của một giống khác, trên phương diện
sinh hoá, cũng là một đoạn DNA giống y như cấu trúc của những gen khác mà thôi.
Thực ra, con người từ lâu đă biết ứng dụng phương pháp sinh
học tương tự như kỹ thuật biến đổi gen để cải thiện cây/con, tạo nên sự giàu
mạnh và phong phú cho đời sống ḿnh. Những sản phẩm lên men như bia, yoghurt,
bánh ḿ, dấm, dưa chua, thuốc kháng sinh penicillin, hoặc những giống cây/ con
được cải thiện tự nhiên hay lai tạo kiểu Mendel đều nằm trong khuôn khổ biến đổi
tính di truyền này để tạo nên những sản phẩm mới tốt đẹp hơn. Có điều những sản
phẩm đó được h́nh thành một cách tự nhiên, chậm chạp, có khi ngẫu nhiên, ngoài
sự hiểu biết của con người. Nên trong qúa khứ đă không có ai phàn nàn, phản đối.
Nay khoa học tiến bộ, và tiến bộ quá nhanh. Chúng ta hiểu
khoa học và ứng dụng nó một cách triệt để, nhất là ngành di truyền công học, cho
nên chúng ta thấy rơ ràng ḿnh đang bị khoa học khống chế, có xác xuất dẫn đến
những hậu qủa thiện ác bất minh. Con người do đó sinh ḷng ngờ vực dẫn đến việc
chống đối, tẩy chay.
Việc chống thức ăn biến đổi gen một cách mạnh mẽ, vừa do tâm
lư lo sợ cho sức khỏe và môi sinh của con người, vừa mang tính thời sự quốc tế
về một cuộc chạy đua giành thị trường giữa các công ty siêu quốc tế và người sản
xuất nhỏ địa phương. Đây là ván cờ kinh tế giữa quốc gia giàu có muốn khống chế
các quốc gia nghèo khó v́ họ đang nắm trong tay nguồn giống và kỹ thuật cao.
Việc Hoa Kỳ đang muốn tung các loại thực phẩm biến đổi gen ra khắp thế giới với
giá rẻ mạt cũng là mối đe dọa cho rất nhiều quốc gia khác. Có người cho rằng
chiêu bài "An toàn thực phẩm" là một đ̣n tâm lư của những quốc gia có chính sách
bảo vệ thị trường gióng lên, nhằm ngăn chận mức đột nhập các loại hoa màu ḿnh
không kiểm soát được. Thế nhưng, ngày 2 tháng 7 năm 2003 vừa qua, cộng đồng
chung Âu Châu, sau nhiều năm ban hành lệnh cấm việc trồng và sử dụng cây và thức
ăn biến đổi gen, cuối cùng nay đành phải cho ngưng lệnh cấm này, mở màn cho một
thời đại thức ăn biến đổi gen được tự do lưu hành ở Âu Châu, thành tŕ chống
thức ăn biến đổI gen cuối cùng của thế giới. Như vậy, việc trồng cây biến đổi
gen càng ngày càng tăng sẽ là xu hướng chung của thế giới.
Việt Nam trên bước đường làm quen với công nghệ sinh học
"...Đừng sợ, chúng ta phải theo sát nút công nghệ sinh học
để làm giàu đất nước và nâng cao đời sống ḿnh..." Ư kiến của Giáo sư Peter
Doherty, Nobel 1998, trong bài diễn văn đọc trước Quốc Hội Úc tháng 8 năm 1999
là một ư kiến ủng hộ dứt khoát việc nghiên cứu, du nhập và ứng dụng các loại cây
biến đổi gen dành cho nông nghiệp Úc- một nền nông nghiệp có đến hơn 50% nông
sản dành cho xuất khẩu.
 |
|
H́nh 3. Thu hoạch được một ‘núi’ ngô biến
đổi gen. Nhưng liệu có ai chịu mua không ???
(NewScientist, 24 May 2003) |
Tại Việt Nam, những năm chiến tranh đă để lại cho đất nước
hàng ngàn tấn thuốc khai quang màu da cam. Chất độc màu da cam chưa giải quyết
xong th́ gần đây việc sử dụng bừa băi các loại thuốc bảo vệ thực vật trong nông
nghiệp đă và đang tạo nên những nguy cơ, không phải chỉ về số lượng người dân bị
ng độc chết không thôi, mà về sự ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí. Môi
sinh Việt Nam đang có nhiều vấn đề cần phải quan tâm giải quyết nên việc canh
tác hoặc sử dụng các loại cây biến đổi gen đối với Việt Nam có một ư nghĩa vô
cùng trọng đại. V́ trồng các giống cây biến đổi gen để tăng năng xuất, có chất
lượng cao với giá rẻ đành rằng là một yêu cầu bức thiết. Nhưng thị trường nào sẽ
chấp nhận loại thực phẩm này và những bất lợi về môi sinh cũng như bị khống chế
về nguồn giống mới là vấn đề cần suy nghĩ để có những quyết định đúng đắn. Cho
nên cách hay nhất là trước hết Việt nam cần phải xác nhận rơ ràng việc nghiên
cứu và ứng dụng công nghệ sinh học cho những ngành nào, cho chủng loại cây con
nào. Ví dụ như bông vải có thể được coi là một loại cây có thể ứng dụng kỹ
thuật công nghệ sinh học để khống chế các loại sâu hại, giảm lượng sử dụng nông
dược. Khác với cà chua biến đổi gen, giống bông vải biến đổi gen không ảnh hưởng
đến chất lượng của mặt hang. Do vậy giới tiêu thụ dễ dàng chấp nhận các hàng may
mặc từ giống bông vải này. Ngược lại đối với các loại cây dùng làm thực phẩm như
cà chua, ngô v.v.. giới tiêu thụ càng ngày càng có khuynh hướng thích loại rau
quả hữu cơ. Quan sát thị trường nhập khẩu nông sản thế giới, đặc biệt là thị
trường Nhật Bản, chúng ta thấy rằng có lẽ Việt Nam nên phát triển thêm về ngành
hữu cơ. Như vậy Việt nam sẽ có cả hai ngành sản xuất: vừa canh tác cây biến đổi
gen vừa sản xuất nông sản hữu cơ để cung cấp cho từng thị trường riêng rẽ. Nói
như vậy là nói đến chế đ khoanh vùng ngay từ đầu để không phải lẫn lộn
về sau.
Trong khi sự canh tranh nông sản ngày càng khốc liệt v́ ‘toàn
cầu hoá’ dẫn đến việc hạ giá nông sản. Trong khi các mặt hàng
Trung Quốc ngày
càng lấn chiếm thị trường xuất khẩu thế giới v́ hàng Trung Quốc luôn ở giá thấp
nhất, th́ việc ứng dụng các giống cây con biến đổi gen để tăng năng xuất và giá
thành thấp là một điều bức thiết cho Việt Nam. Nhưng cũng đừng quên rằng thị
trường nhập khẩu nông sản hữu cơ thế giới ngày càng tăng: dù mới chỉ là 15 tỷ Mỹ
kim hôm nay nhưng sẽ tăng vọt lên khoảng 150 tỷ vào năm 2010.
Đó cũng là một thị trường Việt Nam nên đầu tư ngay từ bây giờ!
Sydney, tháng 9 năm 2004
Vũ Nguyên
|
|