WWW CHUYỂN LUÂN

 

Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm Mậu Tư-2008 Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

Trang chủ || Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
 

Góp nhặt cát đá

 

Tác giả

  Video clips
  Online số cũ từ 2003
  Các số báo trước 2003
   

 

Nối Kết:

      

   
  Tác phẩm chọn lọc
  Thầy Nhất Hạnh
   

CHUYỂN LUÂN SỐ THÁNG 10/2004

C̣n ai quan tâm đến sự thật (*)

Michael P. Lynch

 

Đầu năm 2003 Tổng thống Bush tuyên bố Iraq t́m cách mua nguyên liệu để sản xuất vũ khí hạt nhân.  Mặc dù các giới chức trong Nhà Trắng thú nhận rằng họ không có đầy đủ bằng chứng để tin lời tuyên bố đó là sự thật, thậm chí có người c̣n bác bỏ thẳng thừng vấn đề, nhưng cuộc xâm lăng Iraq vẫn được tiến hành.  Những người cầm đầu bộ máy chiến tranh trong Lầu năm góc c̣n đưa thêm một lí do khác cho cuộc chiến: đó là nhằm ổn định t́nh h́nh chính trị Trung Đông và giải phóng Iraq khỏi ách cai trị của Saddam Hussein. 

Nhiều người Mĩ đồng ư với những lí do đưa ra.  Xét cho cùng, c̣n có nhiều lí do khác để lật đổ chế độ của Hussein.  Và, niềm tin cho rằng Iraq là một mối đe dọa hạt nhân đă thật sự củng cố sự đoàn kết của người Mĩ và cung cấp một cái cớ cho những người c̣n nghi ngờ [ư đồ của chính phủ Mĩ] để gây chiến.  Nhưng câu hỏi đặt ra là: nếu những lí do được đưa ra không đúng với thực tế th́ sao?  Đối với nhiều người, suy nghĩ đến cái trừu tượng gọi là “sự thật” là một suy nghĩ ngây thơ; cái mà họ quan tâm không phải là sự thật hay giả dối mà là làm cách nào để bảo vệ họ tránh khỏi khủng bố và bảo đảm nguồn cung cấp dầu hỏa cho những chiếc xe “four wheels” SUV khổng lồ.  Nói theo cách nói của Nietzsche, sự thật có thể là một điều tốt, nhưng thỉnh thoảng tại sao không sử dụng cái giả dối để đạt được mục tiêu?  

Sau đây là những câu hỏi quan trọng.  Tin và hành xử theo sự thật có phải là hành vi tối ưu hay không?  Sự thật có thật sự quan trọng lắm không?  Dẫu biết rằng khái quát hóa là một điều nguy hiểm và dễ phạm vào lỗi lầm ngụy biện, nhưng câu trả lời cho những câu hỏi trên liên quan đến vấn đề Iraq có thể sẽ làm cho nhiều người Mĩ hằn học.   

Chúng ta nên nghi ngờ cái-gọi-là sự thật?  

Chính trị không phải là diễn đàn duy nhất để ngưới ta đi t́m sự hoài nghi.  Một thái độ tương tự cũng khá phổ biến trong giới trí thức Mĩ.  Thật vậy, dưới ngọn cờ hậu hiện đại, chủ nghĩa hoài nghi sự thật và những ư niệm liên quan, cũng giống như tính khách quan và tri thức, đă trở thành một lập trường triết học bán chính thức trong nhiều phân khoa đại học Mĩ.  Nói một cách đại khái, thái độ đó cho rằng sự thật khách quan là một ảo tưởng và cái mà chúng ta gọi là sự thật chỉ là một cái tên gọi khác cho quyền lực mà thôi. Thành ra, nếu sự thật quả có giá trị, th́ cái giá trị đó chỉ là giá trị của một phương tiện, như quyền lực là một phương tiện vậy. 

Nhà phê b́nh văn học nổi tiếng Stanley Fish (cũng là cu khoa trưởng) c̣n phun ra những câu ch ḱ quặc chống lại sự thật trong một bài viết năm ngoái, "S thật nhưng vô hệ quả: Tại sao triết học chẳng có giá trị" (Truth but No Consequences: Why Philosophy Doesn't Matter).  Sự thật không những chỉ là một ảo tưởng, theo Fish, quan tâm đến bản chất của sự thật chỉ phí thời gian.  Tranh luận về những ư niệm trừu tượng như sự thật chẳng những buồn cười, không thích hợp, mà c̣n vô duyên. 

Chúng ta có thể nói chúng ta muốn tin vào sự thật, nhưng những ǵ chúng ta thật sự nói là khát khao tin vào những ǵ có lợi ích.  Những niềm tin tốt lành sẽ cung cấp những ǵ chúng ta muốn, chẳng hạn như một bộ quần áo đẹp, giảm thuế thu nhập, hay một nguồn cung cấp dầu hỏa đáng tin cậy, hay một chiếc xe SUV để phun khói đầy đường.  Nói cho cùng, sự thật của những ǵ chúng ta tin và nói chỉ là điều phụ mà thôi; cái đáng nói và quan trọng hơn là hệ quả. 

Chủ nghĩa thực dụng loại “ḿ ăn liền” như thế đă ăn sâu vào máu tủy của tri thức chúng ta.  Nó hấp dẫn đối với người Mĩ, những người muốn tự tô vẽ ḿnh là những anh hùng “vai năm tất rộng thân mười mét cao”.  Và nó cũng giải thích một phần tại sao những tiếng kêu gào về sự gian dối của Nhà Trắng về cuộc chiến Iraq bị rơi vào khoảng không, chẳng ai thèm nghe.  Không phải chúng ta tin rằng "chúng ta đoàn kết đứng lên" ("united we stand") mà trong thâm tâm nhiều người Mĩ có xu hướng nghĩ rằng kết quả hay cứu cánh, chứ không phải nguyên tắc hay phương tiện, mới quan trọng.  Cũng giống như Fish và Bush, một số người trong chúng ta cảm thấy lo ngại và có khi nhàm chán vi nhng nguyên tắc tru tượng như sự thật, nhng nguyên tắc mà chỉ có những ai xem đài truyền h́nh C-Span quan tâm, hay những người đặt ra những câu hỏi đại loại như “một bản án t h́nh có công bằng hay không.”  

Dĩ nhiên, nhiều nhà trí thức sẵn sàng bảo vệ ư tưởng sự thật quả thật quan trọng.  Nhưng khốn thay, trong quá tŕnh bảo vệ ư tưởng này, một số lại rơi vào t́nh huống có thể làm xoáy ṃn giá trị của sự thật bằng nhiều cách khác nhau.  Có một xu hướng mà nhiều người tin tưởng rằng giữ ǵn sự thật có nghĩa là giữ ǵn những giá trị sự thật cổ điển.  Đó là luận điểm quen thuộc của phe cánh hữu như Allan Bloom và Robert H. Bork, những luận điểm càng ngày càng xuất hiện nhiều trên mặt báo sau ngày 11/9/2001.  Họ cho rằng người Mĩ đă đánh mất cái “la bàn đạo đức” ("moral compass") và kêu gọi chúng ta cần phải mài sắc cái nh́n của chúng ta bằng cái gọi là “đạo đức trong sáng” ( "moral clarity").  Họ cho rằng những người cấp tiến cánh tả đang làm suy yếu nước Mĩ, và kêu gọi đă đến lúc chúng ta phải tái khám phá sự thật mà Thượng đế đă ban cho.  Cái sự thật mà họ kêu gào là “Chúng ta đúng, mọi người khác đều sai”. 

Trong cuốn Why We Fight: Moral Clarity and the War on Terrorism, William J. Bennett than vản những điều mà ông ta gọi là chủ nghĩa tương đối.  Ông tiếc nuối những “ngày xưa vàng son”, những ngày mà trẻ con Mĩ được dạy phải cảm nhận nhng giá trị cao cả tuyệt vời của người Mĩ và cách sống kiểu Mĩ.  Trong thời ḱ thanh b́nh êm ả của Bennett, thời ḱ mà những người theo chủ nghĩa tương đối chưa có thói quen đo lường mảnh đất nhà ḿnh rộng bao nhiêu, sự thật rơ ràng như trắng với đen, rơ đến độ đứa trẻ lên ba cũng hiểu và cảm nhận được.  Đó là loại sự thật mà Bennett cho là quan trọng nhất.  Sự thật thời đó không những khách quan, mà c̣n đơn giản và hoàn toàn bất định. 

Nếu ai dám đem những lí luận loại này ra để bảo vệ sự thật, th́ người đó chỉ tự chuốc lấy thất bại.  Ḷng trung thành tuyệt đối, hay tin tưởng vào những điều ḿnh nghĩ là đúng không phải là một biểu hiện về sự quan tâm đến sự thật.  Nó là biểu hiện của chủ nghĩa giáo điều.  Quan tâm đến sự thật không có nghĩa là không bao giờ chịu thú nhận ḿnh sai.  Ngược lại, quan tâm đến sự thật có nghĩa là ḿnh phải sẵn sàng chấp nhận niềm tin của ḿnh có thể sai lầm.  Đó là hệ quả của ư niệm về sự thật khách quan.  Những niềm tin theo chủ nghĩa giáo điều là những niềm tin vào thế giới thực tại, chứ không phải cái thế giới mà chúng ta mong muốn có (hay không muốn có) hay cái thế giới mà chúng ta tưởng tượng trong đầu.  Nếu sự thật quả thật khách quan, niềm tin không thể làm thay đổi sự thật đó; và ngay cả những người hay to tiếng lên lớp về đạo đức vẫn sai như thường.  Đó là những người như Bennett – và chính phủ hiện tại – cần phải nhớ.  Đó không phải là loại đức hạnh phải khăng khăng giữ lấy những ǵ ḿnh tin tưởng mà không cần biết đến sự thật là ǵ.   

Thành ra, một số tác giả như Fish cho rằng v́ niềm tin vào truyền thống là một hành vi ngây thơ, sự thật không có giá trị ǵ cả.  Một số khác, như Bennett chẳng hạn, lí giải rằng bởi v́ sự thật có giá trị, chúng ta nên t́m cách học thuộc ḷng những giáo điều cổ xưa.  Nhưng cái giả định gián tiếp cho cả hai quan điểm này là chỉ có một sự thật có giá trị, đó là Sự thật Tuyệt đối.  Giả định đó sai lầm.  Chúng ta không cần phải tô vẽ sự thật bằng chữ hoa để làm cho nó đáng chú ư; một sự thật đơn giản b́nh dân cũng có giá trị rồi, không cần phải trang điểm ǵ cả.  

Cũng giống như phần lớn giới trí thức thiên tả tốt nghiệp đại học vào thập niên 90s, tôi cũng từng lu bù và hoài nghi sự thật.  Tôi từng đóng vai người hậu hiện đại; tôi từng có nhiều cảm t́nh cho chủ nghĩa tương đối qua nhiều tác phẩm của tôi.  Tôi kinh tởm những giá trị tuyệt đối vô điều kiện của cánh hữu; và nhiều người trong chúng tôi không muốn nói đến sự thật khách quan; c̣n một số th́ đi theo quan điểm của nhà triết học Richard Rorty, đề cao lập trường “mỉa mai” cảm t́nh cấp tiến của chúng tôi.  Chúng tôi không cần biết chúng tôi “đúng” hay sai, nhưng lại quan tâm đến cái nguyên nhân làm cho thế giới quay ṿng.  Những hành vi đó làm cho chúng tôi có khi ưu phiền hơn nhưng ít ngây thơ hơn. 

Những sự kiện xảy ra trong ṿng 3 năm qua đă chứng minh chiến lược đó sai lầm.  Sự thật là chính phủ chúng ta đang lừa dối chúng ta, đă làm cho chúng ta mê muội đi vào chiến tranh, và đă sản sinh ra những đạo luật đe dọa đến các quyền căn bản của con người.  Những hành động này của chính phủ quả thật xúc phạm đến chúng ta.   

Sự thật cũng có ư nghĩa chính trị quan trọng.  Có ba lí do để nghĩ rằng sự thật có giá trị chính trị.  Lí do thứ nhất liên quan đến khái niệm sự thật và giả dối.  Chúng ta có thể phân biệt sự thật với sự giả dối, bởi v́ chúng ta có thể phân biệt một câu trả lời đúng và một câu trả lời sai.  Chẳng hạn như trong trường hợp về vũ khí tàn phá hàng loạt ở Iraq minh chứng, chúng ta cần một phương cách để phân biệt giữa niềm tin mà chúng ta chỉ có một ít bằng chứng, hay niềm tin mà đa số quần chúng chấp nhận, hay nó phù hợp với tham vọng chính trị của chúng ta. 

Không phải là chúng ta không có khả năng phán đoán niềm tin bằng những cách như thế; ngược lại, chúng ta hoàn toàn có khả năng phán đoán.  Chúng ta nghĩ rằng có quan điểm chúng ta là đúng, là sự thật, bởi v́ chúng ta có bằng chứng làm cơ sở cho quan điểm đó.  Chúng ta phê phán những người có quan điểm mơ tưởng bởi v́ những quan điểm này dẫn đến sự giả dối.  Nói tóm lại, điều cơ bản để có được một khái niệm về sự thật là chúng ta cần một cái tiêu chuẩn để đánh giá và thẩm định những niềm tin của chúng ta về thế giới chung quanh.  Chúng ta cần có cách thức để phân biệt niềm tin nào là sự thật và niềm tin nào là giả dối. 

Bây giờ chúng ta thử tưởng tượng một xă hội mà trong đó mọi người tin rằng quyền lực là phương tiện biến một ư kiến thành sự thật.  (Nói cách khác, chỉ có những kẻ có quyền thế mới nói điều thật).  Nếu kẻ có quyền thế nói người da đen lạc hậu hay kém thông minh hơn người da trắng; hay những kẻ có địa vị cho rằng t́nh yêu là thù hận, chiến tranh là ḥa b́nh, th́ công dân trong xă hội đó sẽ nghĩ là sự thật.  Một xă hội như thế thiếu một cái ǵ đó, một cái ǵ rất căn bản.  Đặc biệt là công dân trong xă hội đó hiểu lầm về sự thật, và sự hiểu lầm của họ làm xói ṃn cái nền tảng cơ bản nhất: đó là có một khái niệm.  Phê b́nh xă hội thường được thể hiện bằng cách phát biểu những bất đồng ư kiến với những kẻ có quyền thế -- không ngần ngại chỉ ra rằng quan điểm của họ là sai lầm.  Để làm được việc này họ phải có khả năng suy nghĩ và phê phán một cách có tiêu chuẩn, có hệ thống.   

Gần đây, thế giới rất quan tâm đến tác phẩm 1984 của Nhà văn George Orwell.  Nhưng những thảo luận chung quanh tác phẩm này c̣n thiếu một điểm quan trọng.  Khía cạnh đáng kinh tởm nhất trong tác phẩm 1984 là cái “Bộ Sự Thật” (Ministry of Truth); Bộ này không những có khả năng biến con người tin vào những lời nói láo, nhưng nó c̣n thành công trong việc biến con người thành những kẻ không màn đến sự thật.  Trong phần cuối của tác phẩm, O'Brien, một đại biểu nham hiểm của Người Anh Cả (Big Brother), tra tấn Winston để anh ta tin rằng 2 cộng 2 bằng 5.  Quan điểm của O’Brien rất rơ ràng: Winston phải “học lại” tất cả những ǵ đảng nói là sự thật.  O’Brien chẳng cần quan tâm đến quan điểm của Winston về cách làm toán cộng; cái mà hắn ta quan tâm là làm sao tẩy năo để Winston không c̣n biết sự thật là ǵ.  Loại trừ được khả năng phân biệt giữa sự thật và giả dối độc lập với những ǵ chính phủ nói và làm cũng có nghĩa là loại trừ được đối kháng và phê b́nh xă hội.  

Đó là lí do thứ nhất tại sao sự thật có giá trị chính trị.  Chỉ cần có một khái niệm về sự thật khách quan cũng mở cánh cửa tinh thần: Nó cho chúng ta cơ hội suy nghĩ rằng một điều ǵ đó có thể đúng ngay cả nếu những kẻ có quyền thế không đồng ư.  Không có khái niệm về sự thật chúng ta không thể phân biệt được những ǵ kẻ có quyền thế nói là đúng hay sai, sự thật hay giả dối.  

Lí do thứ hai tại sao sự thật có giá trị chính trị quan trọng là khái niệm chính trị căn bản nhất của một xă hội bao hàm cả sự thật khách quan.  Quyền căn bản khác với quyền được tạo ra (hay trao cho người dân) bằng một chính sách của chính phủ.  Những quyền chính trị (chẳng hạn như cảnh sát được quyền mang súng ngắn) là một điều căn bản bởi v́ chúng là phương tiện để phục vụ cho một mục tiêu của xă hội (như sự an ninh xă hội).  Mặt khác, những quyền căn bản là những quyền thuộc về nguyên tắc, như Nhà triết học Ronald Dworkin từng nói trong cuốn sách của ông có cùng tên (Fundamental Rights).  Đó không phải là những quyền làm phương tiện để đạt được những mục tiêu xă hội; quyền căn bản hiện hữu bởi v́ chúng là một bộ phận không thể thiếu được trong một xă hội văn minh mà trong đó các thành viên trong xă hội phải tôn trọng lẫn nhau.  Những quyền căn bản, do đó, phải là ưu tiên số một, ưu tiên hơn tất cả các quan tâm chính trị.  Chẳng hạn như chúng ta không thể đánh mất quyền riêng tư, chỉ v́ vị Bộ trưởng tư pháp quyết định rằng để bảo vệ thành viên trong xă hội lực lượng an ninh có quyền muốn biết chúng ta đọc ǵ, mua ǵ, nghe ǵ, hay nói ǵ.  Đó là những cái mà chúng ta hay gọi là “quyền con người”.  Quyền con người không phải là ân huệ của chính phủ, để họ lúc vui th́ họ ban phát cho và lúc buồn th́ họ thu hồi.    

Thành ra, một điều kiện cần thiết cho những quyền căn bản là sự phân biệt giữa những ǵ chính phủ (hiểu theo nghĩa rộng) nói và những ǵ sự thật.  Nói cách khác, để tôi hiểu rằng tôi quả có những quyền căn bản, tôi phải có những ư tưởng độc lập.  Ngay cả khi mọi người trong cộng đồng cho rằng tất cả các cuộc hôn nhân giữa những người cùng giới tính là ngoài ṿng luật pháp, những người cùng giới tính vẫn có quyền hôn nhân.  Nhưng tôi không nên có ư nghĩ đó trừ phi tôi có khả năng tán thành cái ư tưởng rằng tin như thế không hẳn là như thế, rằng có một khía cạnh trong suy tưởng của tôi có thể đáp lại ư tưởng của người khác, dù người đó có quyền thế hay không.  Khái niệm về những quyền căn bản bao hàm khái niệm sự thật.  Bài học đáng nhớ là: Nếu chúng ta quan tâm đến quyền lợi, chúng ta phải quan tâm đến sự thật.  

Nhận thức về mối liên hệ giữa sự thật và quyền lợi biểu lộ khía cạnh thứ 3 và cũng là khía cạnh hiển nhiên nhất về giá trị chính trị của sự thật.  Chính phủ có nhiệm vụ phải nói cho quần chúng biết sự thật, bất kể sự thật đó liên quan đến việc Iraq có vũ khí tàn phá hàng loạt hay không, hay liên quan đến sự kiện các quan chức trong chính phủ dính dáng đến các công ti kĩ nghệ.  Chính sách minh bạch và tự do thông tin là những pḥng thủ rất quan trọng chống lại các hành động bạo ngược.  Một khi chính phủ cảm thấy không cần biết đến sự thật, chính phủ đó trở nên bất chính v́ họ có thể làm những chuyện mà quần chúng không tán thành như xâm nhập bất hợp pháp vào Khách sạn Watergate, hay dội bom xuống Cambodia, hay cho phép dùng tra tấn tù nhân Iraq.  Ngay cả những chính sách này không ảnh hưởng trực tiếp đến chúng ta, những hành động bí mật như thế gián tiếp làm tổn hại đến tính liêm chính của nền dân chủ chúng ta.  Những ǵ chúng ta không biết có thể làm hại chúng ta.   

Nếu một chính phủ không muốn nói cho công dân biết sự thật, nền dân chủ tự do không c̣n là tự do và dân chủ.  

Có lẽ đó là một chân lí quá hiển nhiên.  Nhưng chân lí không chỉ là những câu chữ được thốt ra như những câu kinh.  Trong phạm vi chính trị, chọn thực tiễn thay cho nguyên tắc là điều quá dễ dàng.  Do đó, chân lí thỉnh thoảng hành động như là một cương lĩnh khách quan, nhưng cũng đóng vai như là những người nhắc nhở.   

Như nhà triết học Michel Foucault từng nhận xét rất chính xác rằng không một chính phủ nào có thể tồn tại bằng cách mị dân.  Trí thức cũng thế.  Trí thức không thể tồn tại nếu không dám nói lên sự thật.

(*) Nguyễn Văn lược dịch từ bài viết “Who Cares About the Truth?” của Michael Lynch, đăng trên Tập san Chrinicle of Higher Education, số ra ngày 10/9/2004.  Michael P. Lynch là phó giáo sư triết học tại Đại học Connecticut.  Tiểu luận này được trích dẫn từ tác phẩm “True to Life: Why Truth Matters” sẽ do Nhà xuất bản MIT Press phát hành vào tháng tới.

Bài trong tháng

Ai khủng bố ai?
Buồn ơi chào mi!
Bắc Ninh-miền quê di sản lịch sử
Bằng TS ở Harvard
Chùm thơ Trụ Vũ
Câu chuyện Phật Đản 2004
C̣n ai quan tâm sự thật?
Công nghệ sinh học
Cũng phải nói thôi
Di tích Tử cấm thành Hoàng đế
Dấu ấn lịch sử và đồng tiền VN
Hoàn thành phục chế pho tượng táng
H́nh ảnh và chiến tranh
Hồ Chí Minh, nhà ngoại giao
Hội thảo về Kant
Khủng bố! Ai?
Lắng nghe tiếng của ngàn năm
Mối t́nh "màu tím hoa sim"
Mộ đá ở Mẫu sơn
Một bông Hồng cho Huế
Nhà văn Phan Khôi
Nhận xét về góp ư nghị quyết tôn giáo
Superman đă chết
Tai biến liệt mặt
Tiếng nẫu dấu yêu
Từ địa ngục...
Việt Nam đă tha thứ Mỹ như thế nào
Vụ kiện WJC

 

 

   

Copyright Chuyển Luân 2005

Designed by HT MEDSOFT

CHUYỂN LUÂN ONLINE