C̣n ai quan tâm
đến sự thật (*)
Michael P. Lynch
Đầu năm 2003 Tổng thống Bush tuyên bố Iraq t́m cách mua nguyên liệu để sản xuất
vũ khí hạt nhân. Mặc dù các giới chức trong Nhà Trắng thú nhận rằng họ không có
đầy đủ bằng chứng để tin lời tuyên bố đó là sự thật, thậm chí có người c̣n bác
bỏ thẳng thừng vấn đề, nhưng cuộc xâm lăng Iraq vẫn được tiến hành. Những người
cầm đầu bộ máy chiến tranh trong Lầu năm góc c̣n đưa thêm một lí do khác cho
cuộc chiến: đó là nhằm ổn định t́nh h́nh chính trị Trung Đông và giải phóng Iraq
khỏi ách cai trị của Saddam Hussein.
Nhiều người Mĩ đồng ư với những lí do đưa ra. Xét cho cùng, c̣n có nhiều lí do
khác để lật đổ chế độ của Hussein. Và, niềm tin cho rằng Iraq là một mối đe dọa
hạt nhân đă thật sự củng cố sự đoàn kết của người Mĩ và cung cấp một cái cớ cho
những người c̣n nghi ngờ [ư đồ của chính phủ Mĩ] để gây chiến. Nhưng câu hỏi
đặt ra là: nếu những lí do được đưa ra không đúng với thực tế th́ sao? Đối với
nhiều người, suy nghĩ đến cái trừu tượng gọi là “sự thật” là một suy nghĩ ngây
thơ; cái mà họ quan tâm không phải là sự thật hay giả dối mà là làm cách nào để
bảo vệ họ tránh khỏi khủng bố và bảo đảm nguồn cung cấp dầu hỏa cho những chiếc
xe “four wheels” SUV khổng lồ. Nói theo cách nói của Nietzsche, sự thật có
thể là một điều tốt, nhưng thỉnh thoảng tại sao không sử dụng cái giả dối để đạt
được mục tiêu?
Sau đây là những câu hỏi quan trọng. Tin và hành xử theo sự thật có phải là
hành vi tối ưu hay không? Sự thật có thật sự quan trọng lắm không? Dẫu biết
rằng khái quát hóa là một điều nguy hiểm và dễ phạm vào lỗi lầm ngụy biện, nhưng
câu trả lời cho những câu hỏi trên liên quan đến vấn đề Iraq có thể sẽ làm cho
nhiều người Mĩ hằn học.
Chúng ta nên nghi ngờ
cái-gọi-là sự thật?
Chính trị không phải là diễn đàn duy nhất để ngưới ta đi t́m sự hoài nghi. Một
thái độ tương tự cũng khá phổ biến trong giới trí thức Mĩ. Thật vậy, dưới ngọn
cờ hậu hiện đại, chủ nghĩa hoài nghi sự thật và những ư niệm liên quan, cũng
giống như tính khách quan và tri thức, đă trở thành một lập trường triết học bán
chính thức trong nhiều phân khoa đại học Mĩ. Nói một cách đại khái, thái độ đó
cho rằng sự thật khách quan là một ảo tưởng và cái mà chúng ta gọi là sự thật
chỉ là một cái tên gọi khác cho quyền lực mà thôi. Thành ra, nếu sự thật quả có
giá trị, th́ cái giá trị đó chỉ là giá trị của một phương tiện, như quyền lực là
một phương tiện vậy.
Nhà phê b́nh văn học nổi tiếng Stanley Fish (cũng là cựu
khoa trưởng) c̣n phun ra những câu chữ
ḱ quặc chống lại sự thật trong một bài viết năm ngoái, "Sự
thật nhưng vô hệ quả: Tại sao triết học chẳng có giá trị" (Truth but No
Consequences: Why Philosophy Doesn't Matter). Sự thật không những chỉ là một ảo
tưởng, theo Fish, quan tâm đến bản chất của sự thật chỉ phí thời gian. Tranh
luận về những ư niệm trừu tượng như sự thật chẳng những buồn cười, không thích
hợp, mà c̣n vô duyên.
Chúng ta có thể nói chúng ta muốn tin vào sự thật, nhưng những ǵ chúng
ta thật sự nói là khát khao tin vào những ǵ có lợi ích. Những niềm tin tốt
lành sẽ cung cấp những ǵ chúng ta muốn, chẳng hạn như một bộ quần áo đẹp, giảm
thuế thu nhập, hay một nguồn cung cấp dầu hỏa đáng tin cậy, hay một chiếc xe SUV
để phun khói đầy đường. Nói cho cùng, sự thật của những ǵ chúng ta tin và nói
chỉ là điều phụ mà thôi; cái đáng nói và quan trọng hơn là hệ quả.
Chủ nghĩa thực dụng loại “ḿ ăn liền” như thế đă ăn sâu vào máu tủy của tri thức
chúng ta. Nó hấp dẫn đối với người Mĩ, những người muốn tự tô vẽ ḿnh là những
anh hùng “vai năm tất rộng thân mười mét cao”. Và nó cũng giải thích một phần
tại sao những tiếng kêu gào về sự gian dối của Nhà Trắng về cuộc chiến Iraq bị
rơi vào khoảng không, chẳng ai thèm nghe. Không phải chúng ta tin rằng "chúng
ta đoàn kết đứng lên" ("united we stand") mà trong thâm tâm nhiều người Mĩ có xu
hướng nghĩ rằng kết quả hay cứu cánh, chứ không phải nguyên tắc hay phương tiện,
mới quan trọng. Cũng giống như Fish và Bush, một số người
trong chúng ta cảm thấy lo ngại và có khi nhàm chán với
những nguyên tắc trừu tượng
như sự thật, những nguyên tắc mà chỉ có những ai xem đài
truyền h́nh C-Span quan tâm, hay những người đặt ra những câu hỏi đại loại như
“một bản án tử h́nh có công bằng hay không.”
Dĩ nhiên, nhiều nhà trí thức sẵn sàng bảo vệ ư tưởng sự thật quả thật quan trọng.
Nhưng khốn thay, trong quá tŕnh bảo vệ ư tưởng này, một số lại rơi vào t́nh
huống có thể làm xoáy ṃn giá trị của sự thật bằng nhiều cách khác nhau. Có một
xu hướng mà nhiều người tin tưởng rằng giữ ǵn sự thật có nghĩa là giữ ǵn những
giá trị sự thật cổ điển. Đó là luận điểm quen thuộc của phe cánh hữu như Allan
Bloom và Robert H. Bork, những luận điểm càng ngày càng xuất hiện nhiều trên mặt
báo sau ngày 11/9/2001. Họ cho rằng người Mĩ đă đánh mất cái “la bàn đạo đức”
("moral compass") và kêu gọi chúng ta cần phải mài sắc cái nh́n của chúng ta
bằng cái gọi là “đạo đức trong sáng” ( "moral clarity"). Họ cho rằng những
người cấp tiến cánh tả đang làm suy yếu nước Mĩ, và kêu gọi đă đến lúc chúng ta
phải tái khám phá sự thật mà Thượng đế đă ban cho. Cái sự thật mà họ kêu gào là
“Chúng ta đúng, mọi người khác đều sai”.
Trong cuốn Why We Fight: Moral Clarity and the War on Terrorism, William
J. Bennett than vản những điều mà ông ta gọi là chủ nghĩa tương đối. Ông tiếc
nuối những “ngày xưa vàng son”, những ngày mà trẻ con Mĩ được dạy phải cảm nhận
những giá trị cao cả tuyệt vời của người Mĩ và cách sống
kiểu Mĩ. Trong thời ḱ thanh b́nh êm ả của Bennett, thời ḱ mà những người theo
chủ nghĩa tương đối chưa có thói quen đo lường mảnh đất nhà ḿnh rộng bao nhiêu,
sự thật rơ ràng như trắng với đen, rơ đến độ đứa trẻ lên ba cũng hiểu và cảm
nhận được. Đó là loại sự thật mà Bennett cho là quan trọng nhất. Sự thật thời
đó không những khách quan, mà c̣n đơn giản và hoàn toàn bất định.
Nếu ai dám đem những lí luận loại này ra để bảo vệ sự thật, th́ người đó chỉ tự
chuốc lấy thất bại. Ḷng trung thành tuyệt đối, hay tin tưởng vào những điều
ḿnh nghĩ là đúng không phải là một biểu hiện về sự quan tâm đến sự thật. Nó là
biểu hiện của chủ nghĩa giáo điều. Quan tâm đến sự thật không có nghĩa là không
bao giờ chịu thú nhận ḿnh sai. Ngược lại, quan tâm đến sự thật có nghĩa là
ḿnh phải sẵn sàng chấp nhận niềm tin của ḿnh có thể sai lầm. Đó là hệ quả của
ư niệm về sự thật khách quan. Những niềm tin theo chủ nghĩa giáo điều là những
niềm tin vào thế giới thực tại, chứ không phải cái thế giới mà chúng ta mong
muốn có (hay không muốn có) hay cái thế giới mà chúng ta tưởng tượng trong đầu.
Nếu sự thật quả thật khách quan, niềm tin không thể làm thay đổi sự thật đó; và
ngay cả những người hay to tiếng lên lớp về đạo đức vẫn sai như thường. Đó là
những người như Bennett – và chính phủ hiện tại – cần phải nhớ. Đó không phải
là loại đức hạnh phải khăng khăng giữ lấy những ǵ ḿnh tin tưởng mà không cần
biết đến sự thật là ǵ.
Thành ra, một số tác giả như Fish cho rằng v́ niềm tin vào truyền thống là một
hành vi ngây thơ, sự thật không có giá trị ǵ cả. Một số khác, như Bennett
chẳng hạn, lí giải rằng bởi v́ sự thật có giá trị, chúng ta nên t́m cách học
thuộc ḷng những giáo điều cổ xưa. Nhưng cái giả định gián tiếp cho cả hai quan
điểm này là chỉ có một sự thật có giá trị, đó là Sự thật Tuyệt đối. Giả định đó
sai lầm. Chúng ta không cần phải tô vẽ sự thật bằng chữ hoa để làm cho nó đáng
chú ư; một sự thật đơn giản b́nh dân cũng có giá trị rồi, không cần phải trang
điểm ǵ cả.
Cũng giống như phần lớn giới trí thức thiên tả tốt nghiệp đại học vào thập niên
90s, tôi cũng từng lu bù và hoài nghi sự thật. Tôi từng đóng vai người hậu hiện
đại; tôi từng có nhiều cảm t́nh cho chủ nghĩa tương đối qua nhiều tác phẩm của
tôi. Tôi kinh tởm những giá trị tuyệt đối vô điều kiện của cánh hữu; và nhiều
người trong chúng tôi không muốn nói đến sự thật khách quan; c̣n một số th́ đi
theo quan điểm của nhà triết học Richard Rorty, đề cao lập trường “mỉa mai” cảm
t́nh cấp tiến của chúng tôi. Chúng tôi không cần biết chúng tôi “đúng” hay sai,
nhưng lại quan tâm đến cái nguyên nhân làm cho thế giới quay ṿng. Những hành
vi đó làm cho chúng tôi có khi ưu phiền hơn nhưng ít ngây thơ hơn.
Những sự kiện xảy ra trong ṿng 3 năm qua đă chứng minh chiến lược đó sai lầm.
Sự thật là chính phủ chúng ta đang lừa dối chúng ta, đă làm cho chúng ta mê muội
đi vào chiến tranh, và đă sản sinh ra những đạo luật đe dọa đến các quyền căn
bản của con người. Những hành động này của chính phủ quả thật xúc phạm đến
chúng ta.
Sự thật cũng có ư nghĩa chính trị quan trọng. Có ba lí do để nghĩ rằng sự thật
có giá trị chính trị. Lí do thứ nhất liên quan đến khái niệm sự thật và giả dối.
Chúng ta có thể phân biệt sự thật với sự giả dối, bởi v́ chúng ta có thể phân
biệt một câu trả lời đúng và một câu trả lời sai. Chẳng hạn như trong trường
hợp về vũ khí tàn phá hàng loạt ở Iraq minh chứng, chúng ta cần một phương cách
để phân biệt giữa niềm tin mà chúng ta chỉ có một ít bằng chứng, hay niềm tin mà
đa số quần chúng chấp nhận, hay nó phù hợp với tham vọng chính trị của chúng ta.
Không phải là chúng ta không có khả năng phán đoán niềm tin bằng những cách như
thế; ngược lại, chúng ta hoàn toàn có khả năng phán đoán. Chúng ta nghĩ rằng có
quan điểm chúng ta là đúng, là sự thật, bởi v́ chúng ta có bằng chứng làm cơ sở
cho quan điểm đó. Chúng ta phê phán những người có quan điểm mơ tưởng bởi v́
những quan điểm này dẫn đến sự giả dối. Nói tóm lại, điều cơ bản để có được một
khái niệm về sự thật là chúng ta cần một cái tiêu chuẩn để đánh giá và thẩm định
những niềm tin của chúng ta về thế giới chung quanh. Chúng ta cần có cách thức
để phân biệt niềm tin nào là sự thật và niềm tin nào là giả dối.
Bây giờ chúng ta thử tưởng tượng một xă hội mà trong đó mọi người tin rằng quyền
lực là phương tiện biến một ư kiến thành sự thật. (Nói cách khác, chỉ có những
kẻ có quyền thế mới nói điều thật). Nếu kẻ có quyền thế nói người da đen lạc
hậu hay kém thông minh hơn người da trắng; hay những kẻ có địa vị cho rằng t́nh
yêu là thù hận, chiến tranh là ḥa b́nh, th́ công dân trong xă hội đó sẽ nghĩ là
sự thật. Một xă hội như thế thiếu một cái ǵ đó, một cái ǵ rất căn bản. Đặc
biệt là công dân trong xă hội đó hiểu lầm về sự thật, và sự hiểu lầm của họ làm
xói ṃn cái nền tảng cơ bản nhất: đó là có một khái niệm. Phê b́nh xă hội
thường được thể hiện bằng cách phát biểu những bất đồng ư kiến với những kẻ có
quyền thế -- không ngần ngại chỉ ra rằng quan điểm của họ là sai lầm. Để làm
được việc này họ phải có khả năng suy nghĩ và phê phán một cách có tiêu chuẩn,
có hệ thống.
Gần đây, thế giới rất quan tâm đến tác phẩm 1984 của Nhà văn George
Orwell. Nhưng những thảo luận chung quanh tác phẩm này c̣n thiếu một
điểm quan trọng. Khía cạnh đáng kinh tởm nhất trong tác phẩm 1984 là cái “Bộ Sự
Thật” (Ministry of Truth); Bộ này không những có khả năng biến con người tin vào
những lời nói láo, nhưng nó c̣n thành công trong việc biến con người thành những
kẻ không màn đến sự thật. Trong phần cuối của tác phẩm, O'Brien, một đại biểu
nham hiểm của Người Anh Cả (Big Brother), tra tấn Winston để anh ta tin rằng 2
cộng 2 bằng 5. Quan điểm của O’Brien rất rơ ràng: Winston phải “học lại” tất cả
những ǵ đảng nói là sự thật. O’Brien chẳng cần quan tâm đến quan điểm của
Winston về cách làm toán cộng; cái mà hắn ta quan tâm là làm sao tẩy năo để
Winston không c̣n biết sự thật là ǵ. Loại trừ được khả năng phân biệt giữa sự
thật và giả dối độc lập với những ǵ chính phủ nói và làm cũng có nghĩa là loại
trừ được đối kháng và phê b́nh xă hội.
Đó là lí do thứ nhất tại sao sự thật có giá trị chính trị. Chỉ cần có một khái
niệm về sự thật khách quan cũng mở cánh cửa tinh thần: Nó cho chúng ta cơ hội
suy nghĩ rằng một điều ǵ đó có thể đúng ngay cả nếu những kẻ có quyền thế không
đồng ư. Không có khái niệm về sự thật chúng ta không thể phân biệt được những
ǵ kẻ có quyền thế nói là đúng hay sai, sự thật hay giả dối.
Lí do thứ hai tại sao sự thật có giá trị chính trị quan trọng là khái niệm chính
trị căn bản nhất của một xă hội bao hàm cả sự thật khách quan. Quyền căn bản
khác với quyền được tạo ra (hay trao cho người dân) bằng một chính sách của
chính phủ. Những quyền chính trị (chẳng hạn như cảnh sát được quyền mang súng
ngắn) là một điều căn bản bởi v́ chúng là phương tiện để phục vụ cho một mục
tiêu của xă hội (như sự an ninh xă hội). Mặt khác, những quyền căn bản là những
quyền thuộc về nguyên tắc, như Nhà triết học Ronald Dworkin từng nói trong cuốn
sách của ông có cùng tên (Fundamental Rights). Đó không phải là những quyền làm
phương tiện để đạt được những mục tiêu xă hội; quyền căn bản hiện hữu bởi v́
chúng là một bộ phận không thể thiếu được trong một xă hội văn minh mà trong đó
các thành viên trong xă hội phải tôn trọng lẫn nhau. Những quyền căn bản, do đó,
phải là ưu tiên số một, ưu tiên hơn tất cả các quan tâm chính trị. Chẳng hạn
như chúng ta không thể đánh mất quyền riêng tư, chỉ v́ vị Bộ trưởng tư pháp
quyết định rằng để bảo vệ thành viên trong xă hội lực lượng an ninh có quyền
muốn biết chúng ta đọc ǵ, mua ǵ, nghe ǵ, hay nói ǵ. Đó là những cái mà
chúng ta hay gọi là “quyền con người”. Quyền con người không phải là ân huệ của
chính phủ, để họ lúc vui th́ họ ban phát cho và lúc buồn th́ họ thu hồi.
Thành ra, một điều kiện cần thiết cho những quyền căn bản là sự phân biệt giữa
những ǵ chính phủ (hiểu theo nghĩa rộng) nói và những ǵ sự thật. Nói cách
khác, để tôi hiểu rằng tôi quả có những quyền căn bản, tôi phải có những ư tưởng
độc lập. Ngay cả khi mọi người trong cộng đồng cho rằng tất cả các cuộc hôn
nhân giữa những người cùng giới tính là ngoài ṿng luật pháp, những người cùng
giới tính vẫn có quyền hôn nhân. Nhưng tôi không nên có ư nghĩ đó trừ phi tôi
có khả năng tán thành cái ư tưởng rằng tin như thế không hẳn là như thế, rằng có
một khía cạnh trong suy tưởng của tôi có thể đáp lại ư tưởng của người khác, dù
người đó có quyền thế hay không. Khái niệm về những quyền căn bản bao hàm khái
niệm sự thật. Bài học đáng nhớ là: Nếu chúng ta quan tâm đến quyền lợi, chúng
ta phải quan tâm đến sự thật.
Nhận thức về mối liên hệ giữa sự thật và quyền lợi biểu lộ khía cạnh thứ 3 và
cũng là khía cạnh hiển nhiên nhất về giá trị chính trị của sự thật. Chính phủ
có nhiệm vụ phải nói cho quần chúng biết sự thật, bất kể sự thật đó liên quan
đến việc Iraq có vũ khí tàn phá hàng loạt hay không, hay liên quan đến sự kiện
các quan chức trong chính phủ dính dáng đến các công ti kĩ nghệ. Chính sách
minh bạch và tự do thông tin là những pḥng thủ rất quan trọng chống lại các
hành động bạo ngược. Một khi chính phủ cảm thấy không cần biết đến sự thật,
chính phủ đó trở nên bất chính v́ họ có thể làm những chuyện mà quần chúng không
tán thành như xâm nhập bất hợp pháp vào Khách sạn Watergate, hay dội bom xuống
Cambodia, hay cho phép dùng tra tấn tù nhân Iraq. Ngay cả những chính sách này
không ảnh hưởng trực tiếp đến chúng ta, những hành động bí mật như thế gián tiếp
làm tổn hại đến tính liêm chính của nền dân chủ chúng ta. Những ǵ chúng ta
không biết có thể làm hại chúng ta.
Nếu một chính phủ không muốn nói cho công dân biết sự thật, nền dân chủ tự do
không c̣n là tự do và dân chủ.
Có lẽ đó là một chân lí quá hiển nhiên. Nhưng chân lí không chỉ là những câu
chữ được thốt ra như những câu kinh. Trong phạm vi chính trị, chọn thực tiễn
thay cho nguyên tắc là điều quá dễ dàng. Do đó, chân lí thỉnh thoảng hành động
như là một cương lĩnh khách quan, nhưng cũng đóng vai như là những người nhắc
nhở.
Như nhà triết học Michel Foucault từng nhận xét rất chính xác rằng không một
chính phủ nào có thể tồn tại bằng cách mị dân. Trí thức cũng thế. Trí thức
không thể tồn tại nếu không dám nói lên sự thật.
(*)
Nguyễn Văn lược dịch từ bài viết “Who Cares About the Truth?” của Michael Lynch,
đăng trên Tập san Chrinicle of Higher Education, số ra ngày 10/9/2004. Michael
P. Lynch là phó giáo sư triết học tại Đại học Connecticut. Tiểu luận này được
trích dẫn từ tác phẩm “True to Life: Why Truth Matters” sẽ do Nhà xuất bản MIT
Press phát hành vào tháng tới.
|