|
NHÂN
CHUYẾN VỀ CỦA THẦY NHẤT HẠNH
Ít ra th́ cũng có hai ước vọng của
những người Phật tử nhập cuộc đă được thành tựu. Thứ nhất, hâm nóng t́nh tự dân
tộc. Thứ hai, cảnh giác về những tác hại và lợi dụng tôn giáo vào những mục
tiêu chính trị bất lợi cho đất nước và đồng bào. Hai ước vọng đó giờ đă trở
thành định chế của quốc gia bằng Nghị Quyết 36 và Pháp Lệnh Tôn Giáo. Cho nên,
đàng nào th́ người Phật tử nhập cuộc cũng không thể chối từ trách nhiệm tiếp sức
thực hiện và phát huy những định chế đó v́ lợi lạc của đồng bào và an ninh của
tổ quốc. Tiếp sức như thế nào?
Bài này được khởi thảo nhân dịp Phật Đản 2004 và đă đạo đạt đến một số anh chị
em để xin ư kiến. Hầu hết đă đáp ứng. Đây là bản đúc kết những bổ sung và hiệu
đính quư báu đó. Nhân chuyến về của Thầy Nhất Hạnh, một chuyến về mà chúng tôi
chờ đợi đă từ lâu, xin công bố bài viết này như một đóng góp vào hành trang của
Thầy trên đường về. Xin hoan hỉ tiếp tục góp ư.
Chuyển Luân
CÂU CHUYỆN PHẬT ĐẢN 2004
V́ năm nay nhuận nên đến tháng 6 này
Phật tử Việt Nam mới tổ chức mừng Phật ra đời để tưởng niệm đấng đă vạch cho đời
một lẽ sống, vạch cho ḿnh một con đường thành đạt hạnh phúc tối hậu. Đó là con
đường thoát khổ, con đường chứng đạt Niết Bàn.
Theo lịch sử ghi lại, Phật đă mất sáu
năm suy nghĩ về nguyên ủy của khổ và thể nghiệm cách thoát khổ đạt Niết Bàn.
Phật tử gọi biến cố đó là giác ngộ.
Lịch sử Việt Nam là đấu trường của ba hệ
thống tư tưởng Phật, Ki-Tô và Marx, có khi va chạm từng cặp một như thời Pháp
hay thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, có khi cả ba đồng rập như hồi chiến tranh Việt-Mỹ
hoặc khi đất nước đă ḥa b́nh thống không c̣n bóng dáng ngoại nhân. Nhân mùa
Phật Đản 2004, xin thử b́nh tâm nh́n lại cái trùng trùng duyên khởi oan nghiệt
này, để từ đó tự t́m cho ḿnh một hướng đi thuận duyên với ước nguyện tu tập và
đóng góp cho đời cho đạo.
PHẬT - KI-TÔ - MARX
Phật giáo, Ki-Tô giáo và chủ nghĩa Marx
đều chia sẻ một bi quan uyên nguyên đó là không nh́n cuộc đời như nơi vẹn toàn
hạnh lạc. Cả ba đều nh́n thấy thế giới như bể khổ và hô hào vượt qua bể khổ đó
bằng cách trả lời những câu hỏi: khổ là ǵ? làm thế nào thoát khổ? thoát khổ rồi
được ǵ? Chính cách trả lời những câu hỏi đó đă tạo nên những điểm dị đồng giữa
ba hệ thống tư tưởng Phật, Ki-Tô, Marx.
Phật giáo gọi nguyên ủy của khổ là vô
minh. Vô minh là không thấy ǵ cả, hoặc thấy con rắn tưởng sợi dây thừng nên
làm bậy, đời này qua đời khác dồn lại khiến cho cuộc đời trở thành bể khổ chứ
chẳng ai khác gây ra cho ḿnh. Biết được điều đó là điều kiện tiên quyết để tự
ra khỏi cảnh khổ uyên nguyên.
Ki-Tô giáo xuất hiện năm thế kỷ sau Phật
giáo cũng nhận cốt lơi cuộc đời cũng là khổ. Nhưng theo Ki-Tô giáo đó không
phải là khổ tự nhiên mà là do Thượng Đế gây ra để trừng phạt tội phạm thượng của
tổ tiên loài người là cặp Adam–Eve. Con người không thể nào thoát khỏi cảnh khổ
đó nếu Thượng Đế không ra tay cứu rỗi bằng cách cho con ḿnh giáng sanh làm
người để chỉ đường thoát khổ và thực chứng nhân dạng và lời nói của ḿnh bằng
cách sống lại ba ngày sau khi bị giết chết. Đó là nội dung của hai huyền thoại
Giáng sinh và Phục sinh.
Marx cũng thừa nhận có một địa đàng uyên
nguyên, nhưng địa đàng đó đă hóa thành địa ngục v́ ḷng tham. Ḷng tham làm cho
con người mất nhân tính trở thành vong thân. Vong Thân là nỗi khổ uyên nguyên
của cuộc đời. Vong thân làm cho địa đàng biến thành địa ngục, trong đó sướng
khổ không phải là do số phận cá nhân hay v́ Thượng Đế trừng phạt, nhưng là do
định phận tập thể gọi là giai cấp. Niềm lạc quan của Marx là con người có thể
biến địa ngục trở lại thành địa đàng – không phải bằng tự lực giác ngộ cá nhân –
nhưng là bằng một giác ngộ tập thể gọi là giác ngộ giai cấp, qua quyết tâm ‘vô
sản thế giới đoàn kết lại.’
Điểm khác biệt căn bản giữa Phật giáo và
Ki-Tô giáo là một khi đă chứng đạt Niết Bàn, Phật ở lại trần gian thêm 49 năm để
chỉ cho người đời biết cách chứng Niết Bàn như ḿnh, chứ không ở lại trong Niết
Bàn hay đi thẳng về Niết Bàn như Giê-Su đi thẳng về Thiên Đàng sau khi sống lại.
Theo huyền thoại Phục sinh, Giê-Su đi thẳng về Thiên Đàng chứ không ở lại trần
gian như Phật, để huấn luyện người kế truyền như Phật, mà phó mặc mọi chuyện cho
những đồ đệ hoang mang ngơ ngác.
Nhân sinh quan cũng như thế mạt luận của
Phật cũng như của Marx có thể áp dụng vào một thế giới không nhất thiết phải có
Phật hay Marx. Có lẽ v́ vậy mà cả hai bị lên án là vô thần, nghĩa là không thừa
nhận Thượng Đế theo quan niệm độc thần. Trước Phật hay song hành với Phật vẫn
có những kẻ thành công như Phật. Đó là những Thanh Văn Độc Giác. Trước Marx và
‘tuyên ngôn cộng sản’ đă có địa đàng ‘công sản nguyên thủy’. Nói thế khác, có
Phật, có Marx hay không, con người vẫn có thể t́m ra hạnh phúc cho ḿnh nếu biết
được khổ do đâu mà có và làm sao đoạn ĺa khổ. Ki-Tô giáo không chấp nhận bất
cứ ai đứng ra ngoài ṿng hào quang của Thượng Đế và không chấp nhận đại diện
Thượng Đế là Giê-Su. Giê-Su là người - Giê-Su Nazareth và Giê-Su cũng là chúa -
Giê-Su Ki-Tô. Ki-Tô là Đạo, là Con Đường, chỉ có con đường đó dẫn đến Thiên Đàng.
Điều này đặt ra những vấn nạn đến nay vẫn không chư có giải đáp như: trước Giê-Su
có ai biết có thiên đàng không? Biết mà chưa có Giê-Su chỉ đường cho th́ theo
nẽo nào mà về đó? Không về đó th́ đi đâu? Chấp nhận những câu hỏi không giải
đáp ấy mà không thắc mắc nữa đó là tín lư, là huyền nhiệm, là “phúc cho những kẻ
không thấy mà tin”, ḷng tin mù quáng vô điều kiện đó chính là điều kiện để lên
thiên đàng.
Marx gần Phật giáo ở chỗ tin rằng thiện
chí của con người có thể là khí giới chống khổ. Phật và Marx gọi khí giới đó là
khả năng giác ngộ. Marx gọi là giác ngộ giai cấp, Phật gọi là giác ngộ cá nhân
hay tự ngộ. Triệt hạ giai cấp, triệt hạ vô minh là triệt khổ.
Phật giáo, Ki-Tô giáo và Marx giống nhau
ở chỗ cả ba tin rằng cuộc chiến chống khổ phải do một tập thể lănh đạo. Phật
giáo gọi tập thể đó là Tăng già, Ki-Tô giáo gọi là Hội Thánh và Marx gọi đó là
giai cấp vô sản và thành phần cốt cán của giai cấp này là Đảng chuyên chính.
PHẬT - KI-TÔ - MARX Ở VIỆT NAM
Phục vụ dân tộc trong ánh sáng của đạo
pháp và phục vụ đạo pháp theo điều kiện khế hợp của dân tộc
là khẩu hiệu nhập cuộc của Phật giáo từ khi tôn giáo này bắt rễ vào tâm hồn đại
đa số dân Việt. Đó là thước đo thành bại của Phật giáo trong quá tŕnh diệt khổ
cho ḿnh, và cùng diệt khổ với đồng bào ḿnh, và với mọi loài mọi vật.
Đă hẳn, trên đường phục vụ, Phật tử
không coi chuyện được thua thành bại là quan trọng, bởi thành hay bại, được hay
thua th́ đều phải hoan hỉ hồi hướng công đức nghĩa là chia cho tất cả, chứ không
thể ôm làm của riêng. Nhưng không thấy chỗ ḿnh vừa đi qua th́ cũng không thấy
chỗ ḿnh sẽ đi đến. Như vậy, nhân mùa Phật Đản năm nay, câu hỏi đặt ra cho Phật
tử ngoài nước cũng như trong nước là trong năm qua, nghĩa là từ Phật Đản 2003
đến nay - Phật giáo đă làm được ǵ, không làm được ǵ?
VỀ CHUYỆN PHỤC HOẠT PHẬT GIÁO THỐNG NHẤT Ở NGUYÊN
THIỀU VÀ MELBOURNE
Trong quan hệ giữa Phật giáo với chính quyền, sự kiện
đáng ghi nhận trước hết trong năm qua là cuộc gặp gỡ giữa Hoà Thượng Huyền Quang
với Thủ Tướng Phan văn Khải nhân chuyến Ḥa Thường tự động rời nơi chỉ định cư
trú là Quảng Ngăi ra Hà Nội chữa bệnh rồi đi về. Sự kiện quan trọng thứ hai là
Ḥa Thượng Quảng Độ và Thượng Tọa Tuệ Sĩ đă được giảm chế, nghĩa là HT Quảng Độ
không c̣n bị biệt giam để “diện bích” trên thượng lầu Thanh Minh Thiền Viện và
TT Tuệ Sĩ không c̣n bị giam lỏng trong Chùa Già Lam theo điều kiện dành cho một
tù nhân từng bị án tử h́nh đă được đại xá.
Từ Hà Nội, HT Huyền Quang thong dong đi suốt mọi miền
đất nước thăm dân và Phật tử sau bao năm bó thân ở đất trích. Từ thượng lầu
Thanh Minh Thiền Viện, HT Quảng Độ xuống trần tiếp Phật tử, tiếp khách ngoại
quốc, đối chất với chính quyền, công khai tuyên bố cho Vơ văn Ái thu thanh phát
đi khắp thế giới. Từ Chùa Già Lam, TT Tuệ Sĩ mặc sức đây đó, tiếp ngoại quốc,
tuyên bố, trả lời phỏng vấn, ra sách, cùng với HT Quảng Độ viết bài, mở trang
nhà phê phán chính quyền. Không thấy ai xác nhận làm như vậy là đă tự do tôn
giáo, hay vẫn c̣n ḱm kẹp đàn áp, vẫn c̣n pháp nạn? Nhưng thay v́ triển khai cơ
duyên đó để thực hiện một chuyến từ Nam ra Bắc để thăm dân cho biết sự t́nh như
HT Huyền Quang đă làm từ Bắc vào Nam để có thêm dữ kiện phát họa một kế hoạch
dài hạn cho Phật giáo Việt Nam, HT Quảng Độ và TT Tuệ Sĩ lại bất thần hâm nóng
cuộc ‘nội chiến’ giữa chính quyền và Phật giáo ‘thống nhất’ bằng cách, một mặt
mở chiến dịch ra B́nh Định đón HT Huyền Quang về Sài G̣n, mặt khác cấp tốc mở
‘đại hội’ Nguyên Thiều để phục hoạt GHPGVNTN.
Đại hội Nguyên Thiều bất thường được tiếp diễn khẩn
trương bằng đại hội Melbourne để để suy cử HT Huyền Quang vào chức vụ Đệ Tứ Tăng
Thống và hợp thức hóa các chức vụ Viện Trưởng và Tổng Thư Kư Viện Hóa Đạo mà HT
Quảng Độ và TT Tuệ Sĩ mặc nhiên kiêm nhiệm lâu nay. H́nh ảnh sinh hoạt tu viện
Quảng Đức nơi diễn ra đại hội này không che đậy được âm mưu lấy lá cờ vàng ba
sọc đỏ khoát lên chân dung của HT Huyền Quang, HT Quảng Độ và TT Tuệ Sĩ để đẩy
ba vị vào hàng tiên phong đối kháng và thứ hai là củng cố thế đứng đang bấp bênh
chông chênh của HT Hộ Giác và Vơ văn Ái ở nước ngoài. Âm mưu này hiện rơ khi Vơ
văn Ái trịnh trọng phong cho HT Huyền Quang và HT Hộ Giác làm ‘Thái Thượng
Hoàng’. HT Hộ Giác hân hoan long trọng nhận chức mà không tự hỏi nếu HT là thái
thượng hoàng th́ ai là vua?
Kết quả hai đại hội này như thế nào? V́ biết rơ âm
mưu của Vơ văn Ái nên HT Huyền Quang đă chối từ chức vụ Đệ Tứ Tăng Thống do đại
hội Melbourne gán ghép và chỉ tiếp tục với chức vụ Xử Lư Thường Vụ Viện Tăng
Thống. Đó là chức vụ mà HT Huyền Quang đă kư dưới thông điệp Xuân Giáp Thân giao
cho TT Tuệ Sĩ và Vơ văn Ái thêm bớt trước khi phổ biến. Bàn tay của Vơ văn Ái
đă lộ rơ trong việc đổi danh xưng ‘Xử Lư Thường Vụ Viện Tăng Thống’ thành ‘Đệ Tứ
Tăng Thống’.
Trang nhà
http://www.chuyenluan.com số tháng 5/2005 đă phân tích hành động của Vơ văn
Ái trong vụ này như sau:
‘Đại hội này suy cử Ḥa Thượng Huyền Quang làm Đệ Tứ Tăng
Thống. Ḥa Thượng đă phủ nhận chuyện suy cử ấy. Chứng nhân của lời phủ nhận
này là Thượng Tọa Trí Hoằng ở Connecticut và cư sĩ Hồng Quang ở California. Ḥa
Thượng Huyền Quang cũng đă phủ nhận chuyện suy
cử nầy bằng Thông Điệp nhân Tết Giáp Thân 2004. Thông điệp này do HT Huyền
Quang đích thân thảo và kư là Xử Lư Thường Vụ Viện Tăng Thống thôi. Nhưng đến
khi dự thảo này tới tay Pḥng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế của Vơ văn Ái th́ bị
Vơ văn Ái sửa thành Đệ Tứ Tăng Thống. Vơ văn Ái cũng đă tự động sửa đổi nhiều
đoạn trong bản dự thảo thông điệp đó nữa. HT Huyền Quang c̣n giữ nguyên bản dự
thảo đó. Gian mà không ngoan...
Thứ nhất, nếu HT tự thấy ḿnh là Tăng Thống th́ HT chỉ kư
‘Tăng Thống Thích Huyền Quang’ chứ cần ǵ phải xác định đệ tứ đệ tam. Việc xác
định đó là của người khác làm. Xem lại các văn kiện xưa, có văn kiện nào kư là
Đệ Nhất Tăng Thống Tăng Thống Thích Tịnh Khiết, Đệ Nhị Tăng Thống Thích Giác
Nhiên đâu.
Thứ hai, v́ HT chỉ kư với tư cách XLTV nên mới có mấy chữ
‘Thay mặt Hội Đồng Lưỡng Viện’ mà Vơ văn Ái đă quên xóa đi. Nếu là Tăng Thống
th́ cần ǵ phải ghi câu đó. Lại nữa, đă kư Đệ Tứ Tăng Thống th́ không thể tự gọi
là ‘Tỳ Kheo’, mà phải là ‘Hoà Thượng’.
Thứ ba, chưa kể lối đánh số văn thư số 01/VTT/TT cũng như văn
thư không có ngày kư, cái tựa đề ‘Thông Điệp Xuân Giáp Thân của Đức Tăng Thống’
cũng lập cà lập cập không ổn v́ đă Viện Tăng Thống lại c̣n Thông Điệp Xuân Giáp
Thân của Đức Tăng Thống làm ǵ rườm rà lôi thôi vậy? Chỉ cần ghi: ‘Viện Tăng
Thống (xuống hàng) Thông Điệp’ là đủ.
Thứ tư, nếu toàn văn Thông Điệp này là của HT Huyền Quang th́
tại sao không thấy chữ kư và khuôn dấu, mà chỉ có hai chữ ‘Ấn Kư’ trong ngoặc?
Thứ năm, HT Huyền Quang có phải là vị thường kết thúc các văn
kiện của ḿnh bằng câu niệm ‘Nam Mô Đương Lai
Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật’ không? Và ‘hạ’ sanh hay ‘hà’
sanh?
Là một người bao nhiêu năm làm Tổng Thư Kư Viện Hóa Đạo, HT
Huyền Quang làm sao có thể vấp phạm những lỗi lầm ấu trĩ đó. Và như vậy, phải
chăng lỗi đó là lỗi của một kẻ tấp tễnh đẩy những kẻ háo danh làm thái thượng
hoàng để cho ḿnh làm vua?’
Hậu quả thứ hai của màn kịch Nguyên Thiều-Melbourne
là HT Quảng Độ và TT Tuệ Sĩ bỗng đồng rập tịnh khẩu mà không hề cho biết lư
do.
Đại hội Nguyên Thiều-Melbourne chỉ là một màn kịch
được dàn dựng để phục vụ âm mưu của những thành phần sau đây:
-Thứ nhất, tiếp tay với âm mưu tôn giáo vận của một
số tín đồ Ki-Tô giáo và Tin Lành. Trong khi Tin Lành đang ŕnh rập cơ hội bất ổn
để khuấy động ở cao nguyên th́ Ki-Tô giáo đang hổn loạn từ trong ra ngoài từ
ngoài vào trong v́ bức Tâm Thư ngày 17/4/2003 của LM Nguyễn văn Lư thành khẩn ăn
năn tội với nhà nước và hô hào tiến đến một thể chế Ki-Tô giáo tự trị như Ki-Tô
giáo Trung Quốc. Trong khi Ki-Tô giáo cũng đang điên đầu v́ nhà nước không chịu
thừa nhận việc Vatican phong TGM Phạm minh Mẫn lên Hồng Y th́ GHPGVNTN nhảy ra
đỡ đ̣n hết cho họ.
-Thứ hai, Vơ văn Ái và công ty có cơ hội hoàn thành
báo cáo công tác cho năm 2003 để lập hồ sơ xin chính quền Mỹ tái cấp ngân khoản.
-Thứ ba, nhờ đại hội Nguyên Thiều-Melbourne này mà HT
Hộ Giác mặc nhiên được khoát lên người hai chức vụ thượng thủ đó là tự điền
khuyết vào chức vụ Viện Trưởng Viện Tăng Thống để trống sau khi HT Đức Niệm viên
tịch và Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN-Hải Ngoại. Sau lưng HT Hộ Giác là HT
Tâm Châu. Cả hai đẩy chuyện phục hoạt GHPGVNTN lên mục tiêu hàng đầu mà quên
rằng năm 1967, ngay khi GHPGVNTN bị khai tử bằng Sắc Luật 23/67 của Nguyễn văn
Thiệu th́ HT Tâm Châu bỏ GHPGVNTN và Ấn Quang về chiếm VNQT và HT Hộ Giác ly
khai Ấn Quang với cái giá là chức Phó Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo để đứng
hầu TT Tâm Giác Giám Đốc.
-Thứ tư, thế hợp đồng trong nước Huyền Quang-Quảng
Độ-Tuệ Sĩ và ngoài nước Vơ văn Ái-Hộ Giác tan vỡ. HT Huyền Quang thấy rơ mưu đồ
khuynh loát của Vơ văn Ái. Trong khi HT Quảng Độ, TT Tuệ Sĩ tịch cốc tịnh khẩu
mất liên lạc, chưa kể là c̣n bị TT Tuệ Sĩ công khai tẩy chay, nên Vơ văn Ái trở
thành độc diễn, nếu không loay hoay bám riết đám cuồng tín quỷ ám ở nước ngoài
th́ cũng t́m cách xúi bẫy HT Hộ Giác, HT Tâm Châu dập dềnh để có đề tài viết
Thông Cáo Báo Chí tính điểm với cơ quan tài trợ.
-Thứ năm, một số quư vị trong GHPGVN bị mang tiếng là
‘quốc doanh’ từng có lúc nghĩ rằng có thế dựa công quyền là có tất cả, là có thể
viên thành tâm nguyện hộ đạo vệ đời. Trong khi một số viên chức chính quyền lại
quên rằng Phật giáo dù ‘quốc doanh’ hay ‘thống nhất’ th́ cũng vẫn có ảnh hưởng
đến đại đa số quần chúng toàn quốc và hải ngoại và xem thường hay phá hỏng ảnh
hưởng đó th́ chỉ có lợi cho những thế lực thù nghịch cả trong lẫn ngoài.
PHẬT GIÁO THÂN CHÍNH VÀ PHẬT GIÁO ĐỐI CHÍNH
Cảnh chợ chiều ba mươi năm đối kháng hải ngoại, cũng
như màn kịch Nguyên Thiều-Melbourne năm vừa qua, là những cơ duyên cho Phật tử
thấy rơ lâu nay họ đă bị màn kịch ‘tự do tôn giáo, nhân quyền, tự do dân chủ,
kinh tế thị trường’ huyễn mị hấp dẫn như thế nào.
Tinh thần Lục Ḥa của Phật giáo là tinh thần xă hội.
Phật bỏ ngai vua để làm Thầy, chứ không để tranh đoạt quyền lực thế trị. Ánh
sáng đạo pháp và Sơn môn trang nghiêm luôn luôn là thế dựa thế trị cho một chính
quyền của Việt Nam, cho Việt Nam, v́ Việt Nam. Cho nên, chế độ cần Phật giáo
hơn là Phật giáo cần chế độ, cả về phẩm lẫn về lượng. Vă lại, nếu chính quyền
có thực ‘sợ’ Phật giáo v́ một lư do nào đó th́ phải để cho Phật giáo có nhiều tổ
chức theo đúng sách lược chia để trị, chứ sao lại trù dập Phật giáo ‘thống nhất’
làm ǵ? Trung Quốc đang phục hưng thời Thịnh Đường dựa vào Phật giáo để trám lỗ
hổng ư thức hệ. Phật giáo tồn tại với dân tộc Việt Nam cả ngàn năm rồi, không
phải v́ pháp lệnh, hiến chương, quy chế, hay v́ mấy danh chức giáo quyền. Vạn
Hạnh, Khuông Việt, Quảng Đức, Thiện Minh làm lịch sử và đi vào lịch sử bằng công
đức tự thân chứ không phải bằng danh chức. Lập đoàn lập hội là để có phương
tiện thi hành Phật sự, phục vụ nhân sinh. Không thể nào, một khi có đoàn, có
hội có tổ chức rồi th́ lại ôm chặt cứng không chịu thay đổi để bảo vệ danh chức
của ḿnh. Đó là điều phải tránh và đó là điều có lẽ một số Phật tử tại gia cũng
như xuất gia đang vấp phải.
Cùng tắc biến, biến tắc thông. Chính quyền đă có
thái độ và việc làm không phải, không đúng với Phật giáo. Đây là cơ duyên cho
Phật tử và chính quyền giải quyết một lần cho xong những sai trái vướng mắc có
từ 1975 đến nay.
Câu hỏi tiên quyết ở đây là, đă có một GHPGVN thân
chính tại sao lại không thể có một GHPGVNTN đối chính, hay bị chính quyền cho là
đối chính - hay tệ hơn là đối kháng? Đó là câu hỏi đặt ra cho cả chính quyền và
Phật tử. Có người nghĩ rằng nhiều Tông Phái cùng sinh hoạt th́
Phật giáo sẽ mạnh, nhưng trong bối cảnh Việt Nam mà có nhiều tổ chức Phật
giáo th́ liệu có tránh được loạn không? Để GHPGVNTN tái sinh hoạt có thề chẳng
phải là một vấn đề, nhưng đó cũng có thể trở thành con tốt thí để cho ngoại bang
và các thế lực thù nghịch khai thác v.v. Nh́n vào thực trạng “thống nhất” của
Thiện Hạnh, Trí Lực trong nước, của giải trừ Pháp nạn với Giác Lượng, Chánh Lạc,
Viên Lư, Quảng Ba, Tâm Châu, Tâm Phương ở nước ngoài lâu nay, nỗi lo ngại ấy
không phải là không có cơ sở.
Nhưng đối lập hay đối chính là một định chế dân chủ
hợp pháp hợp hiến mà trọng tài là người dân và ṭa án. Dân có quyền dân th́
nước cũng có phép nước. Cứ luật pháp công minh mà xử. Lại nữa, đối chính hay
đối lập là kiểm soát, phê b́nh xây dựng đâu phải đối kháng lật đổ. Đối chính
hay đối lập là điều kiện của dân chủ hóa chế độ mà chính quyền đang muốn hướng
đến. Sự thật hiển nhiên là Phật giáo Việt Nam như một đại thể chưa hề phản quốc,
chưa hề theo thế lực ngoại quốc thù địch để làm hại quốc gia dân tộc. Phật giáo
tiên quyết hành động v́ quốc gia dân tộc. Thời Pháp thuộc rồi Đệ Nhất Cộng Ḥa,
Phật giáo chống Dụ số 10 ngày 6/8/1950 của Bảo Đại - và được Đệ Nhất Cộng Ḥa
tiếp tục áp dụng - trước tiên không phải đó là một gông cùm đối với Phật giáo mà
là v́ việc áp dụng văn kiện ấy là một bằng chứng độc tài áp bức của những chế độ
đó.
Điều quan trọng tiên quyết là Phật tử xuất gia cũng
như tại gia phải đối lập cho ra đối lập, đối chính cho ra đối chính, nghĩa là
phải có chủ trương và chương tŕnh, phải chứng tỏ khả năng đóng góp và bản lănh
đối chính.
NHỮNG CÔNG VIỆC TRƯỚC MẮT
Phân biệt đạo và đời, thế trị và giáo trị là điều cần
thiết cho một xă hội hiện đại và dân chủ. Với tư cách đại diện cho chủ quyền
quốc gia, chủ tŕ việc bảo vệ và thi hành hiến pháp và luật pháp, chính quyền
đương nhiên không thể chối bỏ quyền hạn và trách nhiệm của ḿnh đối với các sinh
hoạt tôn giáo trong xă hội. Ở đây là nói về những quyền hạn và trách nhiệm thế
trị đối với Phật giáo. Chính quyền có thể làm ǵ và phải làm ǵ?
Sau đây là một vài công việc chính quyền có thể đề
xuất, động viên và hiệp lực với Phật tử các hàng trong ngoài nước để thực hiện:
1 -Tạo điều
kiện đưa Phật giáo lên hàng định chế quốc gia, có quyền tự lập, tự quản, tự hành
trong khuôn khổ sinh hoạt xă hội và tâm linh văn hóa Việt Nam. Hơn nữa, phải
yểm trợ các mặt chuẩn bị, huấn luyện, tổ chức đưa Phật giáo vào các sinh hoạt
quốc tế. Về lượng cũng như phẩm, không thể xếp Phật
giáo ngang hàng với hiệp hội nông gia, chuyên gia hay phụ nữ trong Mặt Trận Tổ
Quốc. Dụ số 10 đă đặt Phật giáo ngang hàng với hội đua ngựa, hội đua thuyền. Cũng
không thể dựa vào lư do đoàn kết tôn giáo hay b́nh đẳng tín ngưỡng để đặt Phật
giáo ngang hàng với những tôn giáo phi dân tộc và phản dân tộc hay những tôn
giáo nhỏ như Bahai hay Tin Lành chẳng hạn.
2 - Minh định các ngày lễ Phật. Ngày Phật Đản, rằm
tháng Tư âm lịch phải được thừa nhận là quốc lễ như ngày Giê-Su giáng sinh 25
tháng 12 dương lịch tại các nước Tây phương Thiên Chúa giáo.
3 - Xúc tiến xây dựng một Việt Nam Quốc Tự và một
Trung Tâm Phật Học hay Đại Học Phật Giáo có tầm cỡ quốc gia và quốc tế.
4 - Quy chế hóa các đại tự, các Phật tích thành tài
sản văn hóa quốc gia. Các đại tự, các Phật tích cũng như am đền miếu mạo, cơ sở
các tôn giáo dân tộc không phải chỉ là những ‘điểm du lịch’ mà chính là nơi ǵn
giữ gia tài tâm linh và văn hóa của Việt Nam.
5 - Đưa lịch sử Phật giáo Việt Nam vào học tŕnh sử
địa Tiểu Học và Trung Học. Thiết lập quy chế tương đương giữa bằng cấp quốc gia
và các cấp bằng do Phật Học Viện cấp.
6 - Tạo điều kiện triển khai một nề nếp sinh hoạt tự
túc cho những ai muốn tiếp tục giữ nếp sống của một kẻ xuất gia giữa trần thế. Bởi
rồi đây, trong xă hội sẽ có ba
hạng Phật tử là Xuất gia, Tại gia và Tân Tăng Ni.
Chùa không hứa hẹn quyến rũ ai đi tu,
chùa chỉ đón nhận và tạo điều kiện cho những kẻ muốn rằng đă tu th́ phải tu cho
trót. Hàng xuất gia trong thời đại này phải cân nhắc đắn đo giữa ba đường lựa
chọn: một, hoặc sống như những cán bộ thoát ly, phải có tổ chức vô vụ lợi kinh
doanh để nuôi dưỡng sinh hoạt. Hai, hoặc phải nhờ bố thí của Phật tử. Ba, hoặc
phải lo tự túc, vừa tu vừa học những ngành nghề thông thường cụ thể là trong
phạm vi giáo dục, y tế, xă hội, văn hóa vừa để tự nuôi thân mà tu và để giúp đời.
Chùa phải mở những khóa tu ngắn hạn để khuyến tu và để cho những tân tăng ni
bồi dưỡng.
7 -
Phố biến rộng răi các sách báo và trang nhà Phật giáo có cùng ư hướng tôn chỉ và
tâm nguyện. Điện toán hóa công việc thông tin, quản lư Phật sự. Thực hiện một
Trung Học và Đại Học Phật Giáo Hàm Thụ trên Internet song song với việc chuẩn bị
điều kiện cho một Đại Học Phật Giáo trên đất liền.
8 - Dứt khoát dẹp bỏ mọi biểu hiện, mọi h́nh thái
sinh hoạt mê tín dị đoan và hạng đội lốt nhà tu tham lam thiểu đức. Với
đại đa số quần chúng là tín đồ của ḿnh, và tín đồ lại có thói quen bố thí cho
chùa để cầu phươc cầu đức, Phật giáo không sợ thiếu thốn nghèo khó, mà chỉ sợ dư
dật rồi bị tiền bạc tài sản làm hư. Nhưng ngồi đó mà chờ bố thí, hay lạm dụng
của bố thí, biến của chùa thành tư sản là điều không nên. Không những không nên
mà là đại tội. Nhị Khóa Hiệp nói không ít về đại tội này.
9 - Mở phong trào các chùa, các tự viện thảo luận và
phản hồi các Nghị quyết, Pháp lệnh tôn giáo của Nhà Nước. Khuyến thỉnh chư tăng
ni - cũng như tu sĩ các tôn giáo khác, hăng hái tiếp tay vào việc bảo vệ tổ quốc,
hiện đại hóa đất nước, giữ ǵn và phát huy bản sắc dân tộc, ổn định và lành mạnh
hóa xă hội bằng tác phong tu hành, bằng hoạt động từ thiện xă hội, bằng kinh
sách, trong các tự viện, trong chương tŕnh tu học, đào tạo tăng tài, du học, du
lịch, du khảo. Dẹp bỏ những lấn cấn không cần thiết có thể làm khó chịu hay
chùn chân những người có thiện chí đóng góp. Dẹp bỏ hội chứng thống nhất-quốc
doanh, yêu nước-ngụy, cách mạng-phản động. Khuyến thỉnh chư tăng ni - cũng như
tu sĩ các tôn giáo khác - cảnh giác về những hoạt động tôn giáo âm mưu dựa vào
thế lực ngoại bang hay tự nguyện làm công cụ cho ngoại bang để làm băng hoại tâm
linh, truyền thống luân đạo và khuynh đảo xă hội hài ḥa.
10 - Để biểu hiện khung cảnh tôn giáo ‘trăm hoa đua
nở’ sau 1975, hoàn thành một tài liệu đa văn với h́nh ảnh về thực trạng các tôn
giáo chính Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Ḥa Hảo, Hồi giáo v.v. nhấn
mạnh đến những điểm như:
-Số tín đồ các tôn giáo trước và sau 1975
-Số tu sĩ trước và sau 1975
-Số giáo đường trước và sau 1975
-Số tài trợ ngoại quốc đă nhận được sau
1975
-Số tu sĩ xuất ngoại, bao nhiêu người,
bao nhiêu lần, đi đâu sau năm 1975...
-Các trường tư, các cơ quan văn hóa, các
cơ sở từ thiện do các tôn giáo quản trị được mở lại sau 1975.
Tài liệu thông tin này sẽ được phổ biến rộng răi
trong các môi trường như truyền thông hải ngoại lớn, các đại học, các cơ quan
nghiên cứu chính trị văn hóa, các think tank, các Dân biểu, Nghị sĩ Quốc Hội
những nước như Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Anh, Canada, Nhật, Poland, Mexico, Chile,
Argentina, Ấn Độ, Sri Lanka, Burma, Thailand v.v., các cơ quan văn hóa giáo dục
LHQ, các ṭa Đại Sứ và Lănh Sự ngoại quốc ở Việt Nam...
11 - Dịch quyển Tôn Giáo và Tổ Quốc - Những
Vấn Đề Cấp Thiết ra tiếng Anh, Pháp, Đức, Spain, Nga, Trung Quốc để phổ biến
rộng răi trong trong các nơi như trên.
12 - Có thái độ minh bạch với chuyện ‘chào cờ, suy
tôn, mặc niệm’, với hành động gây khó khăn hay ngán trở các hoạt động bang giao
quốc tế, giao lưu văn hóa và ngoại thương của Việt Nam. Theo dơi và định thái
độ đối với các hoạt động chống Việt Nam núp sau chiêu bài tự do tôn giáo và nhân
quyền ở Đài Loan, Phi luật Tân, Paris, Vatican, Washington, California,
Melbourne, Sydney, Praha, Warsaw v.v...
13- Thiết lập những toán hộ niệm tiếp tay với Sơn Môn
trong công tác hộ đạo vệ đời trên toàn quốc, mỗi Tỉnh quốc nội, cũng như mỗi
Tiểu Bang, Tỉnh của những quốc gia hải ngoại có Phật tử Việt Nam định cư.
NH̀N TỚI NH̀N LUI – MÙA TƯỞNG NIỆM 40
NĂM PHÁP NẠN
Tại ngoại quốc, trong năm qua, công việc
có ư nghĩa đáng ghi nhớ nhất ở hải ngoại là phong trào kỷ niệm 40 pháp nạn
1963-2003 do HT Măn Giác ở Los Angeles chủ tŕ.
HT Măn Giác quả đă khai thông một ḍng
thác lũ văn sử với một hành động có một không hai là đặt linh vị của HT Thiện
Minh ngang với linh vị của Ngài Quảng Đức, những thánh tăng của phong trào nhập
thế của Phật Giáo Việt Nam hiện đại. Phong trào tưởng niệm 40 năm pháp nạn đă
là hứng khởi cho một số tác phẩm như Hồ Sơ Phật Giáo 1962 do HT Măn Giác
sưu tập giới thiệu và ấn hành, Sáu Tháng Pháp Nạn 1963 hồi kư của Minh
Không Vũ văn Mẫu, 1963-2003 Bốn Mươi Năm Nh́n Lại tuyển tập của tổ chức
Giao Điểm do Hồng Quang chịu trách nhiệm, Tôn Giáo và Tổ Quốc - Những
Vấn Đề Cấp Thiết của Nhóm Nghiên Cứu Sử Việt, Công Giáo Chính Sử của
Trần chung Ngọc và Thực Chất Đạo Công Giáo và Các Đạo Chúa của Charlie
Nguyễn. Cũng trong chiều hướng này, có thể kể thêm hai tác phẩm nặng kư của sử
gia Vũ ngự Chiêu là Ngàn Năm Soi Mặt và Thánh Chiến Chống Cộng và
quyển Phồn Hoa Kinh của Hoàng Nguyên Nhuận. Trong nước th́ có Phật
Giáo - Nang va Hoa của Cao Huy Thuần - kẻ đă phát pháo tiên khởi phong trào
giải hoặc lịch sử và tôn giáo với quyển Giáo Sĩ Thừa Sai Và Chính Sách Thuộc
Địa Của Pháp Tại Việt Nam (1857-1914) và Lê Cung với Phong Trào Phật Giáo
Miền Nam Việt Nam Năm 1963 tái bản có bổ sung. Đi trước mở đường cho phong
trào tưởng niệm 40 năm nhập cuộc này là quyển Vietnamese Engaged Buddhism -
The Struggle Movement 1963-1966 của Quán Như Phạm văn Minh. Chưa kể những
tác phẩm giải hoặc lịch sử tôn giáo dũng mănh của Hoành Linh Đỗ Mậu, của Trần
chung Ngọc, Bùi Kha, Nguyễn mạnh Quang, Đỗ hữu Tài, Trần văn Kha, Trần Nhu,
Nguyễn Kết. Chưa kể những công tŕnh dịch thuật, sáng tác, nghiên cứu của Thái
kim Lan, Nguyễn hữu Liêm, Phạm công Thiện, Đỗ Thuận Khiêm. Chưa kể Phan tấn Hải,
Lư Khôi Việt, Lư đại Nguyên, Bùi ngọc Đường, Trần quang Thuận đang cố thoát khỏi
mê hồ trận Liên Tôn. Nếu Làng Hồng của HT Nhất Hạnh có vẻ như hướng về một Phật
giáo siêu quốc gia như Đại sư Suzuki trước đây, như Đat Lai Lạt Ma hôm nay th́
nhóm Chuyển Luân, nhóm Giao Điểm lại cố bám lấy Việt Nam, để đào sâu và triển
khai những quan hệ giữa Phật giáo với dân tộc, giữa Phật giáo với y báo và cộng
nghiệp hiện tiền của đất nước hôm nay. Trong một dịp hạnh ngộ giữa hai người
bạn cố tri, HT Măn Giác đă vui miệng hỏi HT Nhất Hạnh: Tại sao Hoa Sen Trong
Biển Lửa không c̣n được liệt kê trong danh sách các tác phẩm cả tiếng Việt
cũng như ngoại ngữ của Thầy? Câu trả lời của HT Nhất Hạnh đă trở thành một công
án: Tại v́ người ta bỏ sót!
Nếu hoàn cảnh Phật giáo trong nước được
hanh thông hơn, có chủ đạo hơn, được điều hướng cụ thể hơn, nếu hoàn cảnh Phật
giáo hải ngoại không bị ngán trở bởi thiểu số chấp danh chấp tướng, mị dân v́
tham tài lợi và vô minh thế sự nên trúng kế ngoại bang và ngoại đạo, th́ phải
chăng hoạt động và đóng góp của các hàng Phật tử hải ngoại hẳn sẽ c̣n phong phú
và cụ thể hơn nữa?
Nhắc đến Phật giáo trong nước trong năm
qua, th́ phải nhắc đến Sư Bà Trí Hải. Đây là một mất mát lớn cho Phật tử, nhất
là Phật tử có chút chữ nghĩa và ít nhiều hệ lụy với thời cuộc. Sau năm 1975, Sư
Bà cũng là một nạn nhân của cuồng vọng cải tạo xă hội chủ nghĩa của một số ông
bà Mác-xít ngất ngơ. Ra tù, Sư Bà tiếp tục Phật sự, thản nhiên như thể Sư Bà
không hề gặp khổ nạn lao lư. Những ngày tù đày của Sư Bà không để lại trong tâm
Sư Bà một vết bầm nào, cho nên những kẻ bán buôn thù hận không hề lợi dụng được
Sư Bà. Cùng với Thượng Tọa Trí Siêu Lê mạnh Thát, Sư Bà đă đóng góp những công
tŕnh biên khảo và dịch thuật xuất sắc cho nền Phật học Việt Nam khởi từ thập
niên 70 tại Đại Học Vạn Hạnh.
Sau hết, đă hẳn biến cố lớn nhất trong
năm qua vẫn là chuyến ra Bắc vào Nam đầy tinh thần ḥa hợp ḥa giải của HT Huyền
Quang. Chuyến đi đó, cộng với việc chối từ chức vụ Đệ Tứ Tăng Thống mà người ta
cố gán cho HT, đă xác quyết thế đứng của HT trong ḍng lịch sử Phật giáo và lịch
sử Việt Nam hiện đại. Thế đứng của một nhà Sư cố vượt lên trên những chấp ngă
chấp tướng mà hoàn cảnh đă tạo ra với lời nhắn nhủ: Không có Phật giáo ‘thân
chính’ cũng như ‘đối chính’, lại càng không có ‘quốc doanh’ cũng như ‘thống nhất’,
chỉ có Phật giáo Việt Nam. Những kẻ xem ra có thể có cơ duyên phù trợ và kế thế
tinh thần đó trước tiên phải chăng chính là những kẻ từng kề cận thăng trầm bao
nhiêu năm qua với HT Huyền Quang là HT Quảng Độ và TT Tuệ Sĩ?
Câu trả lời đương nhiên phải có trong
mùa tưởng niệm Phật Đản 2005.
Chuyển Luân,
Ngày Trăng Tṛn Tháng 6/2004.
|