|
BÓNG MA BIẾT ĂN BIẾT THỞ BIẾT
YÊU THƯƠNG
(Tặng Nguyên Vũ, Phan Nhật
Nam, Phạm Văn Liễu, Dương Hữu Chiêu và những người đă thật sự làm lính mà tôi
biết.)
Huỳnh Bất Hoặc
Sydney
23/8/2004. Tham gia Đại Chiến 1914-1918 bên trời Âu, Úc đă có 61 ngàn binh sĩ
tử trận. Hôm nay, những người sống sót trở về chỉ c̣n 6, và dĩ nhiên họ đều
trên 100 tuổi. Họ là Gilbert Bennion 105 tuổi, Evan Allen 104, Ted Smout 106,
Peter Casserly 106, John Ross 105 và Marcel Caux 105. Sáu chiến binh đại thọ đó
giờ chỉ c̣n năm, Marcel Caux vừa bỏ đàn bay đi. Marcel Caux là ai?
Thế hệ
của Bất Hoặc tôi, không ít th́ nhiều ai cũng có thể đọc hoặc nghe qua quyển
truyện Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh của nhà văn gốc Đức Erich Maria
Remarque. Nghe nói chuyện này cũng đă được quay thành phim nhưng tôi không được
xem. Remarque là một chiến binh thời Đại Chiến 1914-1918. Remarque viết quyển
Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh năm 1929, trong lúc Hitler đang chuẩn bị
cướp chính quyền. Nội dung phản chiến của cuốn truyện đă mang họa đến cho tác
giả khi chính quyền Đức phát động chiến tranh. Remarque bị tước quyền công dân
và tống ra nước ngoài.
Một
trong những điều nhắc tôi nhớ về quyển Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh là
cảnh một chiến binh Đức đang lâng lâng mơ màng sướng khoái ngồi đại tiện trên
một két đạn lúc chiến trường tạm thời im lắng. Phải chăng đó chính là thời điểm
bi hài duy nhất giúp cho anh chiến binh này nghĩ rằng... mặt trận miền Tây vẫn
yên tỉnh? Nếu vậy th́ phải nói là không chỉ người Việt mới biết thưởng thức cái
hạnh phúc 'nhất Quận Công, nh́ ỉa đồng' rồi.
Đại
chiến 1914-1918 là cuộc chiến đế quốc giữa một bên là Đức-Áo-Hung-Thổ Nhĩ Kỳ,
một bên là Anh-Pháp-Nga và các chư hầu của hai phe trong đó có Úc. Mặt trận
miền Tây là nơi diễn ra những đợt tiến công của Đức Áo vào Tây Âu, chủ chốt là
Pháp với những trận đẫm máu long trời lỡ đất c̣n được sử sách nhắc đến như
Verdun, Somme, Marne, Ypres. Mặt trận miền Tây nổi tiếng là cuộc chiến giao
thông hào và là nơi mà thiết giáp và vũ khí hóa học lần đầu tiên được đem ra
dùng. Một số vương quốc đă sụm luôn v́ cuộc chiến này, rơ ràng nhất là Nga.
Một năm trước khi cuộc chiến kết liễu, chế độ Nga Hoàng đă bị Lenin và các đồng
chí 'thừa bại xông lên' dứt luôn. Cuộc chiến giữa các đế quốc này đă làm cho 10
triệu người chết, và 20 triệu bị thương. Đây là cuộc chiến đẫm máu điên cuồng
đến độ có người gọi đó là 'cuộc chiến chấm dứt các cuộc chiến', nghĩa là làm
người ta sẽ tởn tới già không dám nghĩ đến súng đạn nữa. Ư nghĩ đó cũng chỉ là
ảo giác. Bởi 21 năm sau, Tây Âu lại rủ nhau vào cuộc chém giết mới gọi là Đệ Nhị
Thế Chiến hay chiến tranh 1939-1945 và liền sau đệ nhị thế chiến là chiến tranh
Việt Nam trầm trầy trầm trật kéo dài ngót 30 năm.
Trong
cuộc chiến 1914-1918, Úc đă có mặt trong các trận lớn ở Flanders, Somme,
Palestine, và nhất là Gallipoli. Thời gian từ 2/1915 đến 6/1916, Anh muốn mở
mặt trận tấn công Thổ nhĩ Kỳ từ eo biển Dardanelles để bắt tay với Nga làm thành
thế trận đè bẹp Thổ. Đầu cầu của mặt trận này là một bán đảo dài khoảng 75 km
rộng 6 km có tên là Gallipoli được giao cho đoàn quân viễn chinh Úc chiếm giữ.
Gallipoli là địa ngục trần gian của đạo quân viễn chinh Úc, nơi họ đă chịu
nhiều tổn thất nặng nề và cay đắng nhất từ trước đến nay.
Không
biết v́ mộng giang hồ hay v́ mă thượng ham vui mà một thanh niên miền quê Úc đă
khai gian tuổi từ 18 xuống c̣n 16 khi đáp lời kêu gọi ṭng quân tăng viện cho
chiến trường bên trời Âu. Hắn được gửi đến những chiến trận đẫm máu nhất và ba
lần bị thương trên đất Pháp. Hai lần đầu năm 1916 và lần thứ ba năm 1918 trên
chiến trường Villiers Bretonneux. Một viên đạn phá bể đầu gối của hắn. Hắn may
mắn được chữa lành không phải cưa cụt, nhưng chân không c̣n co duỗi được nữa.
Hắn hồi hương và được xuất ngũ. Trở lại đời sống dân sự, hắn đi xin trợ cấp
thương phế binh th́ nhân viên xă hội trả lời: Anh c̣n đứng được tại sao không đi
làm mà phải xin trợ cấp?!
Không
biết người cựu chiến binh này có giải thích cho nhân viên xă hội biết ḿnh c̣n
đứng được nhưng đứng trơ thôi, không co gị lại được không, nhưng câu trả lời đó
quả đă đổi đời hắn. Thật vậy, tuy hắn không hề mơ tưởng những tuyên dương công
trạng hào nhoáng giả tạo, tuy hắn không hề mong những tiếng hoan hô, những ṿng
hoa chiến thắng tưởng tượng, nhưng hắn vẫn có thể nghĩ ít ra th́ mẫu quốc Anh
cũng đă mắc nợ hắn, chính quyền Úc cũng đang mắc nợ hắn. Cái nợ xương máu, cái
nợ nước mắt và mồ hôi hắn đă đổ ra trong những giao thông hào nhầy nhụa bùn lầy
và thịt xương của đồng đội cũng như của những những kẻ hắn được chỉ cho biết là
kẻ thù. Cái thằng cha nhân viên Bộ Cựu Chiến Binh h́nh như không thèm biết đến
chuyện ấy, dương mắt nh́n hắn tội nghiệp như muốn nói: Mầy ngu ráng chịu! Muốn
ăn vạ th́ t́m vua Anh và Thủ Tướng Úc mà đ̣i, đừng xớ rớ đứng đây quấy rầy tao,
không cho tao ăn làm... Bầu trời chính nghĩa như đổ ập xuống đầu hắn. Hắn cắn
răng nín thở quyết chui ra khỏi đống gạch vụn của quá khứ vinh quang chiến trận
và hắn trở thành một người khác. Hắn quyết thoát xác, và đă thoát xác.
Hắn về
nhà, đào sâu chôn chặt cái quá khứ chiến binh oai hùng. Ngày đi tŕnh diện nhập
ngũ hắn tên Harold Katte. Harold Katte đó đă chết, giờ chỉ c̣n Marcel Caux.
Hắn lập gia đ́nh, lấy vợ đẻ con. Ngót 80 năm hắn quyết dấu luôn tung tích không
chỉ với xă hội, với chính quyền, mà cả với chính vợ con hắn. Phải! 80 năm! Kỳ
cho đến một ngày, chính phủ Pháp truy ra tông tích hắn, ṃ ra tọa độ của hắn đến
tưởng thưởng cho hắn cái huy chương cao quư nhất của Pháp là Bảo Quốc Huân
Chương - La médaille de la légion d'honneur. Chuyện ấy xảy ra năm 1998, nghĩa
là ít ra cũng 80 năm sau ngày nhân viên Bộ Cựu Chiến Binh xáng vào mặt hắn câu
nguyên văn: If you can still stand, Mr Caux, you don't need a pension, you can
get a job.
Cái Bảo
Quốc Huân Chương của Pháp đă như một ánh đèn pha chiếu vào một người lính mai
danh ẩn tích suốt 80 năm và đưa Marcel Caux vào vùng hào quang của một anh hùng
dân tộc trong một nước đang cần anh hùng để chứng minh ḿnh không phải chỉ là
cái khoảnh outback quê mùa của Hoàng gia Anh hay một đồng minh tôm tép của đại
cường Hoa Kỳ. Và lúc này th́ Marcel Caux đă 99 tuổi, trở thành một bảo vật quốc
gia và chính thức gia nhập nhóm sáu người cuối cùng c̣n sống sót trong số các
chiến binh Úc đă tham gia cuộc chiến 1914-1918.
Quyết
định của Pháp đă khiến cho gia đ́nh, bè bạn, con cái của Marcl Caux và cả chính
quyền trung ương cũng như địa phương đă tá hỏa tam tinh. Bi hài nhất có lẽ là
mẹ con Bà Caux. Bà Caux đă qua đời và chắc chắn là trước khi từ giă chồng con,
bà Caux không những không biết chồng ḿnh là ai, mà chính tuổi thật của chồng bà
cũng không biết. Marcus de Caux, con trai ông kể rằng: Chúng tôi cứ ngẩn người
ra. Chúng tôi chẳng hề hay biết ǵ cả. Ông Tổng Lănh Sự tuyên đọc thành tích
chiến công của ông cụ và chúng tôi nghe như vịt nghe sấm. Chúng tôi không hay
biết và không nghi ngờ một chút ǵ về những chuyện đó cả. Nhất là những chuyện
như chính bố anh kể ra...
Marcel
Caux cho biết trong mặt trận miền Tây, ông bị thương được săn sóc b́nh phục rồi
lại được gởi ra mặt trận, mặt trận Somme. Ông nói: Đúng rồi, đó là nơi tớ đă
mất những thằng bạn thân, những đồng đội chân thật, những thằng bạn thật sự.
Phần đông họ là người Anh, nhưng đám đó đúng là những tay chịu chơi, chịu chơi
hết ḿnh. Và họ đă gởi thây nơi chiến trận như thế nào? Thông thường, chẳng ai
chọn nghề chém giết, trừ trường hợp phải chém giết để tự vệ. Marcel Caux gồng
ḿnh đi lính để rồi phải rơi vào cảnh ḿnh không bắn nó th́ nó độp ḿnh, anh
hùng ǵ, cho nên ông đă dí dỏm kể thành tích oanh liệt của ḿnh như sau: Chúng
tớ gọi họ là đội lính Phổ - anh nào anh nấy cao to thấy mà ngán. Giao thông hào
đầy xác của họ. Tớ chỉ là một thằng nhóc nặng trên dưới 50 kí. Họ có thể đấm
tớ một cú là bẹp dí. Nhưng tớ cũng có cách gỡ huề - khẩu súng. Marcel Caux gỡ
huề được nhưng trên sáu mươi ngàn đồng đội của ông đă không may mắn thoát khỏi
địa ngục Miền Tây như ông. Ông bùi ngùi: Tôi nhớ măi những người không trở về.
Nhiều lắm.
Ngày
đăng lính lên đường ra trận, Marcel Caux đă ôm ấp một giấc mộng hào hùng thắm
t́nh đồng đội chiến hữu. Và khi sáng mắt ra v́ cú sốc đi xin trợ cấp cựu chiến
binh, Marcel Caux đă quyết vùi chôn giấc mộng hào hùng đó, không phải dưới cái
đống rác thực tế cuộc đời, nhưng là bằng một giấc mộng khác. Giấc mộng của một
kẻ không hề biết chiến tranh là ǵ. Marcel Caux trở thành một bóng ma biết ăn,
biết uống, biết thở, biết yêu thương. Tám mươi năm ông sống với giấc mộng ấy
cho đến ngày ông được cái Bảo Quốc Huân Chương như cái hỏa tiễn đẩy ông vào quỹ
đạo vinh quang, Marcel Caux vẫn một mực chối từ mọi lời khen ngợi, mọi vinh
thăng thù tiếp. Ông tránh không nói về những ngày chinh chiến ở mặt trận miền
Tây. Hoặc có nói th́ ông cũng chỉ khiêm tốn: Quư vị biết mà, chuyện xưa quá
rồi, và lư do duy nhất tôi c̣n sống đến hôm nay là v́ tôi vào lính lúc tôi mới
16 tuổi. Không biết có phải ông muốn nói là ông thoát khỏi được địa ngục trần
gian bên trời Âu v́ thuở ấy ông trẻ người non dạ điếc không sợ súng, chứ chẳng
phải tài ba anh hùng ǵ? Mà nói cho cùng, tài ba anh hùng ǵ đối với một quân
nhân ngậm đáng nuốt cay chịu thương vong v́ hỏa lực bạn? Tài ba anh hùng ǵ đối
với một quân nhân, thiên lôi chỉ đâu đánh đó? Chiến sĩ anh hùng, nếu có, chính
là những người biết tuân thượng lệnh, dù là lệnh của những bạo chúa, những kẻ
độc tài, những vua bù nh́n, những tướng tá phường tṛ như Marcel Caux và những
kẻ thù của ông trên mạt trận miền Tây.
Vạn bất
đắc dĩ phải xuất hiện và nhận ḿnh từng là một chiến binh của mặt trận miền Tây
máu lửa, th́ Caux chỉ than thở: Thế chiến I đă làm tan nát đời tôi, chẳng phải
chỉ v́ tôi đă bị thương ba lần, mà c̣n v́ đă làm tôi tởn tới già. Cho nên ông
dứt khoát: Thôi, tôi ớn cái loại thực tế ấy lắm rồi. Không, không bao giờ nữa.
Ba năm
sau khi từ bóng tối vô danh bước ra ánh sáng vinh quang anh hùng của cả hai quốc
gia Úc và Pháp, Marcel Caux mới chịu tham dự ngày Chiến Sĩ Trận Vong. Lúc đó
Marcel Caux đă 102 tuổi. Thỉnh thoảng ông đến các trường học nói chuyện với học
sinh và trước sau như một, ông luôn luôn cảnh giác học tṛ đừng có một ảo tưởng
huy hoàng vinh quang nào về chiến tranh. Chiến tranh chỉ là phù phiếm.
Đời mỗi
người có lẽ cũng như hạt mầm. Có hạt sinh thành phù du của những 'cây' giá như
hạt đậu xanh, hạt mè. Có hạt nở thành những đại thụ như bồ đề trên sân chùa rộn
rịp, hay như tùng bách trên đầu non cô tịch thi gan với gió trăng một trăm, vài
trăm năm. Phải chăng những kẻ từng trải qua bao nhiêu khó khăn lận đận nhọc nhằn
gian khổ nhưng vẫn sống trơ trơ ngoài trăm tuổi như Marcel Caux là v́ nguồn sinh
lực của mỗi người là một kết tụ kỳ bí của trùng trùng duyên khởi, phải có những
nhân duyên đặc biệt mới làm bật nguồn sinh lực kỳ bí đó ra để trở thành diệu
dụng giúp người đó trường thọ? Hiện Sinh chủ nghĩa gọi những nhân duyên đặc
biệt đó là những hoàn cảnh giới hạn - situation limite. Phải chăng hoàn cảnh
giới hạn của Marcel Caux là những năm mút chỉ cà tha cận kề với cái chết trên
mặt trận miền Tây, và cái quyết tâm dai dẳng suốt 80 năm không cho đời biết ḿnh
là ai? Hoàn cảnh đặc biệt đó làm nẩy bật nguồn sinh lực kỳ bí đó và biến Marcel
Caux thành một đại thụ thách thức với bệnh tật, với cái chết.
Chiều
Chủ Nhật 22/8/2004, con trai ông ghé Viện Dưỡng Lăo thăm bố. Nhâm nhi với bố
hộp le-de, tṛ chuyện đôi điều rồi chia tay ra về. Đêm đó, Marcel Caux ĺa đời
trong giấc ngủ cô tịch, lặng lẽ như một ngọn đèn cạn dầu.
C̣n lại
ǵ từ Marcel Caux? C̣n lại ǵ đây qua 105 năm ăn, ngủ, thở, yêu thương, nhớ và
quên, quên và nhớ?
Huỳnh
Bất Hoặc.
|
|