Chữ Nôm và Tinh thần dân tộc
Nguyễn Hữu Vinh
Từ thế kỷ thứ 7 sau Công Nguyên
và cho đến khoảng thế kỷ thứ 10, chữ Hán thâm nhập vào hoạt động văn hóa, tinh
thần của người Việt nhờ vào một hoàn cảnh đặc biệt đó là sự truyền bá đạo
Phật. Có thể nói, v́ do việc hấp thụ giáo lư đạo Phật nên việc học tập chữ Hán
trong giai đoạn này là điều cần thiết. Đến thế kỷ thứ 10 về sau, khi Nho giáo
truyền vào Việt Nam, nếu như trong giai đoạn trước việc học tập chữ Hán chủ
yếu dùng để hiểu biết giáo lư của đạo Phật th́ sau này việc học tập chữ Hán
trở thành một nhu cầu chính thống và rộng răi, không những chỉ dùng để ghi
chép các công việc quản lư hành chính mà nó c̣n có vai tṛ quan trọng trong hệ
thống thi cử nho học xưa kia. Sự kiện quan trọng trong quá tŕnh du nhập của
Nho giáo đó là việc được ghi trong Đại Việt Sử Kư Toàn Thư "Năm Canh Tuất,
niên hiệu Thuần Vũ thứ hai năm 1070 đời Lư Thánh Tông, mùa thu tháng tám cho
xây Văn Miếu, dựng tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tượng 72 người
hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến học ở đây”.
Việc cho xây dựng Văn Miếu đă tạo điều kiện thuận lợi cho
việc học tập và sử dụng chữ Hán. Từ đó, chữ Hán đă trở thành chữ viết
chính thức trong gần 1000 năm, kể từ năm 1075 sau khi vua Lư Nhân Tông cho mở
khoa thi Nho học đầu tiên, cho đến năm 1919 là năm mở khoa thi cuối cùng ở
Huế.
Việc dùng chữ Hán chính thức
trong tầng lớp cai trị đất nước là điều dễ hiểu, nhưng chữ Hán là 1 loại chữ
ngoại lai, không thích hợp với đại đa số dân chúng dùng để biểu đạt ư tưởng
trong cuộc sống thường ngày. Ngay cả trong cung đ́nh, nơi tập trung các quan
lại văn hay chữ tốt, chữ Hán là công cụ chính thức để truyền đạt tư tuởng,
nhưng cũng không phải là không gặp trở ngại. Sự việc vua
Trần Nhân Tông dùng quan Hành Khiển để dịch những lời truyền dụ của vua quan
cho dân chúng th́ rơ. Sau khi đại thắng quân Nguyên, vua Trần Nhân Tông
tuyên cáo cho dân chúng biết, Đại Việt Sử Kư Toàn Thư ghi rằng … Lệ cũ,
mỗi khi tuyên đọc lời vua, th́ viện Hàn lâm lĩnh đưa bản thảo tờ chiếu cho
quan Hành Khiển để giảng tập trước. Đến khi tuyên đọc, th́ giảng cả âm nghĩa
cho dân thường dễ hiểu…
Sau này, Nguyễn Trường Tộ
(1828-1871) trong “Tế cấp bát điều “, có nêu rơ sự bất tiện của chữ Hán và đề
nghị dùng chữ Nôm như chữ chính thức. Gần hơn nữa, Tuy Lư Vương, một nhà Hán
học, văn hay chữ tốt, nhưng cũng ư thức được sự tiện lợi trong việc truyền đạt
tư tưởng bằng chữ Nôm cho quần chúng nên đă viết “Nữ Phạm Diễn Nghĩa Từ” bằng
chữ Nôm. Cũng như Hường Nhung, con của Tuy Lư Vương đă viết “Việt Sử Tứ Tự
Ca”, tóm tắt sử Việt bằng chữ Nôm với lời văn đơn giản để cho con cháu hiểu
biết được một cách dễ dàng và nhanh chóng.
Chính v́
chữ Hán là thứ chữ ngoại lai, nên sự h́nh thành, phát triển và sử dụng một
loại chữ viết thích hợp hơn cho dân tộc là một điều không thể thiếu và bức
thiết. Do vậy chữ Nôm xuất hiện song song với sự phát triển việc dùng
chữ Hán.
Tinh Thần dân tộc thúc đẩy chữ
Nôm ra đời
Chữ Nôm là một sáng tạo rất
có ư nghĩa của tổ tiên cha ông ta. Sự xuất hiện của chữ
Nôm là một sự kiện lớn đánh dấu sự tiến triển của nền văn hóa của dân tộc
trong gần 2000 năm qua. Sự h́nh thành của chữ Nôm có thể do sự bức bách
cần thiết trong việc giáo hóa dân chúng ở vào thời đại xa xưa, Căn Đa cư sĩ
(1) cho rằng Nhâm Diên đă dùng chữ Nôm trong công việc giáo hóa quần chúng.
Càng về sau, mỗi lần đất nước bị kẻ thù phương Bắc xâm lược th́ trong những
thời kỳ đó, chữ Nôm lại đóng vai tṛ tích cực hơn trong việc chống trả ngoại
xâm và xây dựng đất nước. Có người căn cứ trên hai chữ Bố Cái cho rằng chữ Nôm
có từ thời Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng. Có người căn cứ trên ba chữ Đại Cồ
Việt để cho rằng Nôm có từ thời Đinh Tiên Hoàng. Đào Duy
Anh cho rằng chữ Nôm có thể h́nh thành ngay vào lúc họ Khúc dấy nghiệp (8),
rồi dần dà phát triển mạnh ở các thời đại về sau.
Cho đến hôm nay, nguồn gốc và diễn biến của chữ Nôm vẫn là chuyện tồn nghi.
Keng Hui Ling (17) cho rằng
từ đời Tần cho tới thời trước khi loạn 12 sứ quân th́ xă hội Việt Nam thời đó
nằm trong khuôn khổ chính trị, tập quán, văn hóa của Trung Quốc.
Những khởi nghĩa chống lại Trung quốc cũng chỉ lẻ tẻ.
Các phần tử trung kiên của xă hội vẫn một ḷng chấp nhận văn hóa, tập quán,
phong tục của Trung Quốc, nhưng đến thời Ngũ Đại với loạn 12 sứ quân th́ sự
việc đă bắt đầu đổi khác. Sự khống chế từ phương Bắc yếu
dần th́ các thế lực địa phương bắt đầu lớn mạnh. Tuy nhiên, sự phân ly
giữa các thế lực này đối với phương Bắc cũng chỉ nằm trong
ṿng tranh dành quyền thế ở địa phương chứ chưa chính thức có ư thức
tinh thần dân tộc và ư thức quốc gia rơ rệt. Đợi khi tới
đời Đinh, Lư th́ mới thực sự h́nh thành khái niệm ư thức quốc gia.
Việc định đặt quan chế, xây dựng kinh đô vào thời nhà Lư
đă tăng mạnh thêm ư thức quốc gia. Đạo Phật lớn mạnh vào thời Lư làm
cho ư thức này lan rộng vào cả toàn dân.
Cuối cùng đời Trần thừa hưởng di sản đó, ư thức quốc gia
bắt đầu vững mạnh thêm. Đây chính là lúc đất nước
xây dựng tất cả mọi mặt. Song song với sự tiến triển của xă hội Việt
Nam do sự tiếp thu và sử dụng chữ Hán trong tầng
lớp quan lại th́ chữ Nôm đóng vai tṛ truyền đạt văn hóa trong dân gian một
cách hữu hiệu và xác thực hơn. Cheng Chin Ho (6) cho rằng chữ Nôm chỉ có thể
được h́nh thành vào khoảng thời gian khi đất nước thoát khỏi ách thống trị của
phương Bắc. Đào Duy Anh năm 1975 phát hiện ra chứng cứ xưa nhất về chữ Nôm
được sử dụng đó là việc t́m thấy vết tích của tấm bia của vua Lư Cao Tông
(8).Đây là một chứng cứ xác đáng nhất chứng minh việc chữ Nôm ảnh hưởng rơ rệt
vào đời sống trong dân gian. Rồi sau đó phát triển khá vững vàng vào thế kỷ
13, điển h́nh là có các bài phú chữ Nôm của Trần Nhân Tông c̣n để lại như là
Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca", "Cư Trần Lạc Đạo Phú" và "Vịnh Vân
Yên Tự Phú" trong bản in "Thiền Tông Bản Hạnh". Văn Hựu năm 1932 (5), nhà
nghiên cứu chữ Nôm nổi tiếng ở Trung quốc cho rằng chữ Nôm chỉ có thế phát
triển một cách hoàn hảo sau khi hệ thống loại chữ Khải của chữ Hán ra đời,
chính là vào khoảng thời gian trong triều đại Lư, Trần của Việt Nam. Nguyễn
Tài Cẩn (10) dưới mắt ngữ âm học lịch sử nh́n sự liên quan giữa vần và thanh
điệu của âm Hán Việt với âm Nôm kết luận rằng “Loại chữ Nôm hiện có là là
một loại chữ không thể nào h́nh thành đồng thời hay sớm hơn thời Sĩ Nhiếp. Chỉ
từ thế kỷ 8, 9 trở đi, nghĩa là sau khi hệ thống phát âm Đường, Tống ghi trong
Thiết Vận, Quảng vận đă các lập được ở Việt Nam (hệ thống này về sau sẽ diễn
biến dần và chuyển thành cách đọc Hán Việt hiện nay) th́ loại Nôm mà chúng ta
hiện thấy mới thực sự có đầy đủ tiền đề cần thiết để xuất hiện”. Bửu Cầm
1960 (7) cho rằng chữ Nôm có thể h́nh thành trong khoảng thế kỷ thứ 8 đến
thứ 10, thời kỳ mà xă hội Việt nam đang manh nha tư tưởng và hành động đấu
tranh dành độc lập. Bửu Cầm nhấn mạnh rằng “chữ Nôm xuất hiện sau thời Sĩ
Nhiếp và phát triển mạnh mẽ vào thời Trần”. Dù vấn đề chữ Nôm h́nh thành
từ lúc nào c̣n đang là đề tài nghiên cứu, nhưng không ai phủ nhận được rằng
chữ Nôm đă đơm hoa kết trái bắt đầu từ thời đại nhà
Trần ở thế kỷ thứ 13.
Tinh Thần dân tộc nh́n từ phía
cấu trúc của chữ Nôm
Từ khi vấn đề chữ Nôm được
Cheon đưa ra nghiên cứu vào năm 1905 (5) cho đến đầu thập niên 70, những nhà
nghiên cứu nổi tiếng như Dương Quảng Hàm, Hoàng Xuân Hăn, Vương Lực, Chen
Ching Ho, Văn Hựu, Trần Văn Giáp, Đào Duy Anh, Bửu Cầm, Vũ Văn kính v.v đều
cho rằng chữ Nôm đă sử dụng 3 phương pháp tạo chữ trong 6 phương pháp (Lục
Thư) tạo chữ của chữ Hán, đó là ba phép Giả tá, H́nh thanh và Hội ư. Chen Chin
Ho năm 1949 (6) cũng đă phân loại cấu trúc chữ Nôm theo ba loại là Giả tá,
H́nh thanh và Hội ư. Trong đó Chen cho rằng có ba loại Giả tá, hai loại H́nh
thanh và đưa ra năm chữ Hội ư. Trước đó, Dương Quảng Hàm (3) năm 1942 cho rằng
có năm loại Giả tá, hai loại H́nh thanh và đưa ra một chữ Hội ư. Sau này, Đào
Duy Anh (8) năm 1975 giải thích chi tiếc hơn năm loại Giả tá, hai loại H́nh
thanh và chỉ đưa ra sáu chữ Hội ư. Các cách phân chia trên có thể nói là đă
bao gồm hầu hết các loại chữ Nôm. Tuy nhiên trên thực tế,
c̣n có nhiều loại chữ Nôm có cách cấu trúc đặc biệt th́ cả ba phép tạo chữ này
đ̣i hỏi linh động hơn khi giải thích sự cấu tạo của chữ. Ví dụ như loại
chữ Nôm mà các thành tố của chữ đều mang tính cách biểu âm như
Săi
,
Ba
v.v
Ngoài ra, c̣n có rất nhiều loại chữ Nôm đặc biệt như loại mang âm Việt cổ,
hoặc chữ bị viết giản nét hoặc dùng một chữ Nôm khác làm thành tố biểu âm th́
ba phương pháp này hơi gặp lúng túng trong sự giải thích sự cấu tạo chữ. Chữ
Nôm trong thời kỳ mới phôi thai, phép giả tá được
sử dụng rất nhiều, phép h́nh thanh th́ càng về sau này càng được sử dụng rộng
răi. Theo Chen Ching Ho (6) th́ tỷ lệ chữ Hội ư chỉ chiếm khoảng 2%
mà thôi.
Sau thập niên 70, các nhà
nghiên cứu Nôm nhận thấy những mô h́nh cấu tạo chữ Nôm thời trước đă nêu vẫn
chưa được hoàn hảo để giải thích nhiều trường hợp đặc biệt, nên đă đi sâu hơn
như là t́m hiểu sự liên quan giữa âm Nôm của toàn chữ với âm Hán Việt của
thành tố biểu thị âm đọc, hay là dựa trên những phương pháp ngữ âm học lịch
sử, hoặc là chia chữ Nôm ra thành loại “có âm đọc” và “không có âm đọc”.
Trước hết, Nguyễn Tài Cẩn (10) năm 1976, đưa ra mô h́nh cấu trúc chia chữ Nôm
ra bảy loại dựa trên căn bản chữ “mượn Hán” (A, B,C)
gồm chữ Hán Việt, gốc Hán Việt, viết tắt, giả tá và loại chữ “Sáng tạo” (D, E,
F, G) trong đó gồm chữ h́nh thanh, hội ư, viết tắt, dấu nháy và âm Việt cổ.
Công tŕnh nghiên cứu và mô h́nh của Nguyễn Tài Cẩn dẫn
đến các công tŕnh nghiên cứu khác sau này với những lối nh́n khác hơn và chi
tiết hơn. Lê văn Quán (2) năm 1981 đưa ra mô h́nh giải thích mới trong
đó chữ Nôm được chia ra thành 14 loại, 6 loại đầu (A, B, C, D, E, F)
thuộc nhóm chữ dựa trên chữ Hán hiện có, c̣n 8 loại sau (G, H, I, K, L,
M, N) thuộc nhóm chữ “Sáng tạo” gồm chữ h́nh thanh, hội ư, viết tắt, dấu nháy
và âm Việt cổ. Sau này Nguyễn Ngọc San (2) năm 1988 dựa vào âm đọc chia chữ
Nôm ra 14 loại trong đó chỉ có 4 loại là trực tiếp mượn âm Hán Việt. Với ba mô
h́nh giải thích cấu tạo chữ Nôm của ba học giả nói trên cho thấy sự đa dạng
của cấu trúc chữ Nôm không những chỉ đơn thuần gồm ba loại Giả tá, H́nh thanh
và Hội ư căn bản thường thấy mà c̣n nhiều loại chữ có cấu trúc đặc biệt, nói
lên sự đa dạng và phong phú của âm Nôm hơn âm tiếng Hán.
Để nói lên tính cách đặc biệt khác hẵn với phương cách tạo chữ của chữ Hán,
chúng ta thử xem những loại chữ đặc biệt sau đây.
1. Chữ Nôm có dấu nháy
Là loại chữ Nôm sử dụng những kư
hiệu đặc biệt như là nháy cá
,
dấu < v.v. Những kư hiệu này lưu ư người đọc phải đọc âm Nôm hơi khác với âm
của chữ Hán. Ví
dụ: Chữ Cá

2. Chữ Nôm âm Việt cổ
Là loại chữ
Nôm sử dụng những chữ Hán như
巴,
巨,
車,
亠,
多,
司
v.v để ghi âm tiếng Việt cổ.
Ví dụ:
Chữ Trăng

Chữ Trước

Chữ Lời

3. Chữ giả tá Nôm
Là loại chữ
Nôm được cấu tạo bởi một chữ Nôm khác cùng âm hay tương tự, song ư nghĩa của
nó khác hẳn với ư nghĩa với chữ Nôm mượn làm chữ biểu âm.
Loại này tương tự loại chữ giả tá Dương quảng Hàm hay Trần Văn Giáp nêu ra,
chỉ khác là loại đó dùng chữ Hán để biểu thị âm đọc, c̣n
loại này th́ sử dụng chữ Nôm làm chữ biểu thị âm đọc. Ví dụ chữ Non thường
dùng để chỉ Núi non, song ở đây lại được dùng để
chỉ Non nớt. Cùng một loại như Non, c̣n có khá nhiều ví dụ khác như “Đền
(mă
Unicode= U+212b0) đài” với
“Đền
bù”, “Sang (U+22028) giàu” với
“Sang sông”, “đông Đúc” (U+28bf9) với
“Đúc nồi”, “Chín
(U+200e9) mười” với
“sống
Chín” v.v
Ví dụ: Chữ
Non

Chữ Sang

4. Chữ Nôm từ chữ Hán viết giản
nét
Thí dụ điển h́nh nhất là chữ Làm
mà phần nhiều các nhà Nôm học cho rằng nó là cách viết giản nét chữ
Vi
爲,
chữ Phút 丿là
giản nét chữ Phân 分.
5. Chữ Nôm dạng h́nh thanh với
phần chỉ nghĩa là một bộ thủ chữ Hán
Chữ h́nh
thanh là một phát minh độc đáo của dân Việt để cấu tạo ra chữ Nôm.
Loại chữ này thông thường gồm hai chữ Hán kết hợp với nhau
để biểu thị một chữ Nôm, ví dụ. Chữ Ngồi được viết
bằng 坐外,
坐 dùng biểu thị ư
nghĩa và 外 dùng để chỉ
âm đọc. Một trong những cách nới rộng phạm vi
tạo chữ của phép h́nh thanh là tạo chữ bằng cách kết hợp một chữ Hán với một
phần chữ Hán hoặc là với một bộ thủ chữ Hán. ví dụ:
Chữ Nhớ
6. Chữ Nôm
do chữ h́nh thanh viết giản nét
Có thể v́
phép h́nh thanh dạng chính thức làm chữ viết có quá nhiều nét nên khó nhớ, khó
viết nên trong quá tŕnh h́nh thành chữ viết một phần của chữ đă bị cố ư giản
lược đi. Ví dụ:
Đi, là chữ h́nh thanh, tập hợp của
去移,
nhưng chữ 禾
đă bị lược bỏ, chữ Theo
蹺
là tập hợp của bộ Túc với chữ Thiêu
燒
giản nét bộ Hỏa, chữ Nổi
浽
là tập hợp bộ Thủy với chữ
餒
giản nét bộ Thực 食.
7. Chữ Nôm
do ảnh hưởng của chữ cùng đi đôi
Loại này thông thường mang bộ
thủ giống bộ thủ của chữ thường hay đi đôi với chữ. Ví dụ: Chữ Gần thường hay
đi đôi với Xa, như Xa Gần nên Gần có bộ thủ là Bối, giống như bộ thủ của Xa,
trong khi bộ thủ Bối trong chữ Gần không giúp thêm ư nghĩa ǵ cho Gần cả. Có
thể lượt kê một số chữ có cấu trúc tưong tự như Gần trong Xa Gần (bộ Bối), ví
dụ:
Vội (bộ Kim) vàng

Lăn Lóc (bộ Nhân)

Gây (bộ Lập) Dựng

Những loại chữ đặc biệt nêu
trên, mặc dầu không đi ra ngoài nguyên tắc giả tá, h́nh thanh và hội ư, song
chúng đều mang một tính chất sáng tạo mới mẻ, nói lên sự cố gắng cải tiến chữ
Nôm cho thích hợp với hoàn cảnh hơn, góp phần tạo dựng chữ Nôm là 1 loại chữ
riêng cho dân tộc.
Một đặc điểm khác của chữ Nôm
chúng ta cần để ư tới là vị trí của bộ thủ hay là phần biểu nghĩa đối với phần
biểu âm của chữ. Dù chữ Nôm hoặc là mượn chữ Hán hoặc là chữ Nôm sáng tạo cùng
một dạng với chữ Hán th́ vị trí của của các thành phần nói trên không nhất
thiết phải đúng y như là chữ Hán mà hoàn toàn tự do tùy theo ư của người viết,
cho thấy sự cấu tạo chữ Nôm tự do hơn chữ Hán. Xem một vài trường hợp dưới đây
chứng minh điều đó, ví dụ:
Chữ Chém có
phần biểu nghĩa nằm bên phải thành phần biểu âm.

Chữ Chém có
phần biểu nghĩa nằm bên trái thành phần biểu âm.

Chữ Chém có phần biểu nghĩa nằm
bên dưới thành phần biểu âm
Chữ Chém có
bộ thủ vị trí và h́nh dáng giống y như của chữ Hán.

Tóm lại, Những phép cấu tạo
chữ của chữ Nôm đă vượt qua khỏi Lục thư của chữ Hán đă nói lên sự cố gắng tạo
chữ đặc thù khác với phương pháp dùng cho chữ Hán, mang một tinh thần dân tộc
riêng chứ không nhất nhất đều phải rập theo khuôn khổ chữ Hán.
Tinh Thần dân tộc nh́n từ phía
phát triển và sử dụng chữ Nôm
Trần Văn
Giáp (13) sau khi phân tích nhiều khía cạnh của chữ Nôm đă đi đến kết luận
rằng “chữ Nôm đă lưu hành rộng răi trên đất nước ta cả ngàn năm nay, từ
biên giới Trung Hoa cho đến Hà Tiên đă nêu rơ quá tŕnh lịch sử của chữ Nôm.
Nó đă phản ánh được sự phát triển thống nhất của ngôn ngữ và văn hoá của dân
tộc, chứng minh rơ ràng Việt Nam từ Nam chí Bắc, dân tộc Việt Nam là một khối
thống nhất. Chữ Nôm đă đóng vai tṛ quan trọng trong công
việc truyền đạt tư tưởng và văn hóa”.
Thử xem vua Quang Trung làm thế nào để kích động ḷng
yêu nước và vai tṛ của chữ Nôm trong công việc tác động t́nh cảm của quân dân
khi đối đầu với hàng vạn quân Thanh xâm lược. Năm 1788 sau khi được tin quân
Thanh tiến sang chiếm cứ thành Thăng Long, Nguyễn Huệ liền lên ngôi hoàng đế,
lấy niên hiệu là Quang Trung, rồi tức tốc kéo quân ra Bắc. Trước thế mạnh của
quân địch vua Quang Trung đă dùng chữ Nôm làm bài hịch kích động ḷng yêu nước
của tướng sĩ. Lời văn hùng hồn, truyền cảm gợi lên ḷng chiến đấu bất khuất,
dấy lên ḷng căm thù, chí yêu nước, bảo vệ tổ quốc. Lời hịch như một tuyên
ngôn độc lập của đất nước, ngài dụ tướng sĩ và dân chúng rằng: “Đánh, cho
để dài tóc! Đánh, cho để đen răng! Đánh, cho nó chiếc luân bất phản! Đánh, cho
nó phiến giáp bất hoàn! Đánh, cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”
(13). Lời văn ngắn
gọn, dễ hiểu, nhưng hùng hồn hàm chứa biết bao ư nghĩa, tác động lên tinh thần
dân tộc rộng răi vào ḷng quân dân.
Riêng về văn học, có thể chia
ra các thời kỳ phát triển chữ Nôm và nêu lên một vài tác phẩm tiêu biểu ra như
sau:
1)
Thời trước đời Ngô, Đinh là lúc manh nha, rất ít chứng cứ chữ Nôm c̣n
để lại.
2)
Thời Lư, Trần là lúc chữ Nôm bắt đầu trưởng thành, đă được sử dụng
trong văn học và đời sống. Chứng cứ xác đáng nhất chứng minh việc chữ Nôm ảnh
hưởng rơ rệt vào đời sống là vết tích của tấm bia của vua Lư Cao Tông và ba
bài phú chữ Nôm của vua Trần Nhân Tông “Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca",
"Cư trần lạc đạo phú" và "Vịnh Vân Yên Tự phú".
3)
Thời Hồ, Lê sơ.
Việc sử dụng
chữ Nôm trong thời đại này được chú trọng nhiều hơn, đáng tiếc đời Hồ quá ngắn
ngủi. Qua đời Lê
sơ, chữ Nôm đă thừa hưởng những nổ lực của người đi trước, nên đă bắt đấu phát
triển mạnh, điển h́nh là Nguyễn Trăi với Quốc Âm Thi Tập. Sau đó vua Lê Thánh
Tông với hội Tao Đàn, cũng đóng góp nhiều vào nền văn học Nôm. Sau đó, c̣n có
Nguyễn Bỉnh Khiêm với “Bạch Vân Thi tập” v.v
4)
Thời Lê Trung Hưng.
Đây là thời
kỳ đen tối trong lịch sử Việt Nam, kéo dài sau khi đất nước bị chia đôi ngang
sông Gianh vào năm 1672.
Đàng ngoài do chúa Trịnh cai trị, đàng trong th́
của chúa Nguyễn. Mặc dù đất nước bị chia đôi dưới hai thể
chế chính trị khác nhau, nhưng chữ Nôm vẫn cứ phát triển và lưu hành trong dân
gian của cả hai miền. Dù nhà Trịnh có khuynh hướng
đè ép không cho chữ Nôm phát triển (6), nhưng trái lại tác phẩm văn học Nôm
lại nhiều hơn trong miền đàng trong với chúa Nguyễn. Đàng trong chỉ có
một vài tác phẩm tiêu biểu như Săi Văi của Nguyễn Cư Trinh, Tư Dung Văn của
Đào Duy Từ, Song Tinh Bất Dạ của Nguyễn Hữu Hào v.v Trong khi dưới thời các
chúa Trịnh, dù chữ Nôm bị phần nào bị cấm đoán, song tiêu biểu có nhiều tác
phẩm nổi tiếng như Chinh Phụ Ngâm do Đoàn Thị Điểm dịch, Cung Oán Ngâm Khúc
của Nguyễn Gia Thiều, Hoa Tiên Kư của Nguyễn Huy Tự.
5)
Thời Tây Sơn và nhà Nguyễn
Sau khi Tây Sơn phá tan quân
Thanh, Vua Quang Trung bắt đầu xây dựng đất nước th́ cho dùng ngay chữ Nôm làm
thứ chữ chính thức thay cho chữ Hán, nhưng đáng tiếc thay thời đại này quá
ngắn ngủi. Về văn học, một số tác phẩm thường thấy như Hoài Nam Kư của Hoàng
Quang, Dụ Am văn tập của Phan Huy ích v.v. Ngoài ra c̣n thấy, chữ Nôm trong
thời kỳ c̣n được dùng để viết gia phả, hương ước, địa bạ làng xă v.v Những
loại này vẫn c̣n được lưu giữ cẩn mật ở các vùng vua Quang Trung trú quân ở
Huế, gần chùa Linh Mụ trước khi ra Bắc đánh quân Thanh. Tới thời Nguyễn sau
đời Tự Đức văn học Nôm được các nhà nghiên cứu xem như là thời đại hoàng
kim của các tác phẩm văn học Nôm Việt Nam. Rất
nhiều tác phẩm Nôm nổi tiếng thường thấy đều xuất hiện trong thời gian này như
Kiều, Xuân Hương Thi Tập, Mai Đ́nh Mộng Kư, Lục Vân Tiên, Dương Từ Hà Mậu,
Thánh chế Tự học Giải Nghĩa Ca, Chuyện Đời Xưa, Thanh Hóa Quan Phong, Nam
Phong Giải Trào, Tây Hồ Cảnh Tụng Phú, Việt Sử Tứ Tự Ca, Thiên Nam Ngữ Lục,
Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca, Nữ Phạm Diễn Nghĩa Từ, Quan Âm Thị Kính, Thoại Khanh
Châu Tuấn, Cai Vàng, Phan Trần, Lưu B́nh Phú, Thạch Sanh Lư Thông v.v
Chữ Nôm
và sự phát triển các tác phẩm Nôm biểu hiện rơ rệt sự lớn mạnh về ư thức tinh
thần quốc gia dân tộc. Ư thức này không tùy thuộc
vào sự biến đổi của vương triều vua chúa. Dù triều đại đổi thay nhưng
nền văn học chữ Nôm vẫn lớn mạnh theo sự lớn mạnh
của ư thức tinh thần quốc gia dân tộc của dân chúng. Từ Lê Trung Hưng cho đến
thời Nguyễn, xă hội lâm vào t́nh trạng loạn ly triền miên, dân chúng sinh sống
khổ cực, nhưng cũng chính trong thời gian này, hoàn cảnh loạn ly chính là môi
trường thúc đẩy chữ Nôm phát triển mạnh mẽ. Chữ Nôm bước
vào thời đại Tây Sơn và Nguyễn đă chính thức trở thành phương tiện truyển đạt
ư tưởng và t́nh cảm của dân chúng. Tuy nhiên, hoặc là v́ áp lực ngoại
xâm từ phương Bắc, hoặc là do tầng lớp vua chúa thống trị với tinh thần Nho
giáo hẹp ḥi thúc đẩy mà chữ Nôm từ khi phôi thai, h́nh thành và phát triển,
cho dù qua một thời gian rất dài trong lịch sử, dù đă bắt đầu phát triển mạnh
mẽ từ thời đại nhà Trần, trải qua nhiều thăng trầm và bước vào thời đại hoàng
kim ở thế kỷ 19, trong khoảng thời gian này chữ Nôm chính là phương tiện cần
thiết của các tầng lớp nhân dân trong xă hội ta, nhưng chữ Nôm vẫn chỉ là một
thứ chữ lưu hành rộng răi trong dân gian, chứ vẫn không được điển chế, chưa
được trở thành chữ viết chính thức của quốc gia, ngoại trừ nổ lực của vua
Quang Trung, Hồ Quư Ly và vua Tự Đức. Chỉ tiếc rằng hai thời đại Hồ Quư Ly và
Tây Sơn đều quá ngắn ngủi. C̣n triều Nguyễn, từ sau đời Tự Đức th́ phải đương
đầu với ngoại xâm Pháp, nên việc xây dựng để sử dụng chữ Nôm trong các thời
đại này không được thành công. Nhưng rơ ràng mỗi lần đương đầu với ngoại xâm
th́ sau đó chữ Nôm lại phát triển mạnh. Sau khi đánh đuổi được quân Minh th́
nền văn học Nôm cũng lớn mạnh thêm lên, điển h́nh là Nguyễn Trăi với Quốc Âm
Thi Tập. Sau khi nhà Thanh bị đánh bại, th́ chữ Nôm lại được trọng dụng vào
thời Tây Sơn. Trong thời gian dài không có ngoại xâm th́ chữ Nôm là phương
tiện truyền đạt t́nh cảm, và sinh hoạt làng xă. Với ư thức hệ “phép vua thua
lệ làng” th́ dù tầng lớp vua chúa có ép buộc chăng nữa, như chúa Trịnh đă có
lần cấm đoán, th́ chữ Nôm vẫn có môi trường bành trướng mạnh mẽ. Điều này cho
thấy các cố đạo phương Tây dùng chữ Nôm lúc khởi thủy để truyền đạo cũng là
điều dễ hiểu, do vậy việc GS Hoàng Xuân Hăn phát hiện nhiều
thư tịch chữ Nôm của cha đạo J. Maiorica trong thư
viện quốc gia Pháp cũng không lấy ǵ làm lạ cả (1).
Ư thức
quốc gia cũng thấy rơ rệt trong việc cải tiến chữ Nôm qua suốt thời kỳ từ Trần
cho đến thời Nguyễn. Vào thời Trần và các thời đại về sau như Lê sơ,
Mạc th́ chữ Nôm vẫn c̣n dùng rất nhiều chữ giả tá, nghĩa là chữ Nôm mượn h́nh
dáng chữ Hán có sẵn để ghi âm Nôm, nhưng đến thời sau này th́ số lượng chữ giả
tá giảm nhiều trong lúc loại chữ h́nh thanh, là loại chữ có một không hai của
Việt Nam th́ cứ tăng dần rơ rệt. Nguyễn Tá Nhí (11) đưa ra những thí dụ thông
kê, Đào Duy Anh (8) cũng có những thống kê tương tự, chứng minh chữ Nôm phát
triển theo chiều hướng đó.
Tinh Thần dân tộc với việc chữ
Nôm bị tàn lụi
Từ đầu thế kỷ thứ 20 cho đến
1945 là khoảng thời gian có tất cả 4 loại chữ được sử dụng ở Việt nam: chữ
Hán, chữ Nôm, chữ Pháp và chữ Việt Latinh (14).
|
Thời kỳ |
Địa Vị |
Tiếng Nói |
Chữ Viết |
|
111BC-939AD |
Bắc thuộc |
Tiếng Việt |
Chữ Hán |
|
939-1651 |
Lệ thuộc |
Tiếng Việt |
Chữ Hán, chữ Nôm |
|
1651-1861 |
Lệ thuộc Tàu |
Tiếng Việt |
Chữ Hán, chữ Nôm, chữ Việt
Latinh của cố đạo |
|
1861-1945 |
Lệ thuộc Pháp |
Tiếng Việt, tiếng Pháp |
Chữ Hán, chữ Nôm, chữ Việt
Latinh của cố đạo, chữ Pháp |
|
1945- |
Độc lập |
Tiếng Việt |
Quốc Ngữ (Việt Latinh) |
Sau khi Pháp đặt nền cai trị
lên toàn lănh thổ Việt Nam , họ đă diệt bỏ việc
dùng chữ Hán và thay vào đó sử dụng chữ Pháp trong guồng máy chính quyền, bắt
đầu tạI Nam Kỳ. Dầu vậy, trong khoảng thờI gian chữ Pháp đang c̣n phôi thai,
trong dân gian có rất nhiều tác phẩm chữ Nôm được in ấn và phát hành, nhất là
nhóm Duy Minh Thị, nhiều nhà xuất bản cũng xuất hiện như Liễu Văn Đường, Quảng
Văn Đường, Bửu Hoa Các, Thiên Bảo Lâu, Tự Lâm Cục, Kim Ngọc Lâu… Tuy nhiên,
sau1945 , khi chữ quốc ngữ trở thành chữ chính thức
của nước Việt Nam th́ chữ Nôm tàn lụi hẳn. Từ cuối thế kỷ 17 cho đến 1945, chữ
Việt Latinh, tuy lúc đầu là phương tiện truyền
đạo Thiên chúa của các cố đạo song v́ tính cách dễ học, dễ nhớ so với chữ Nôm
khó học, khó nhớ nên dễ dàng được chấp nhận. Hơn nữa, trong quan niệm thông
thường, đó không phảI là chữ Pháp cũng không phảI là chữ Hán, lạI là phương
tiện nhanh chóng để nâng cao dân trí, cho nên cũng phù hợp vớI tinh thần dân
tộc.
Từ Nôm
qua Quốc ngữ đă gây nên bức tường ngăn cách sự liên tục sự truyền đạt các tác
phẩm văn học Việt Nam. Chữ Quốc ngữ mới được truyền bá sau này, các tác
phẩm văn học thuần tuư Việt nam đều được sáng tác và phổ biến bằng chữ Nôm. Do
đó việc phiên dịch từ Nôm ra quốc ngữ là một việc làm quan trọng và cấp bách.
Dương Quảng Hàm (3) nói rằng “Văn học sử Việt Nam chỉ
được gọi là chân thực khi tất cả tài liệu Nôm được t́m ra manh mối và phiên
dịch”. May rằng qua đầu thế kỷ 21, với kỹ thuật
máy tính mới, chữ Nôm và chữ quốc ngữ đều được hiện đại hóa, chữ Nôm đă được
dần dà đưa lên và hiển thị được trên máy tính (15). Ngày nay đă có hơn
10,000 chữ Nôm đă được tổ chức Unicode (16) cho mă chữ, do vậy việc phiên dịch
và bảo tồn nền văn hóa Nôm sẽ có cơ hội phát triển nhanh chóng trong tương
lai. Đây là môi trường thích hợp và là cơ hội ngàn vàng
cho những ai có ḷng hoài băo đến nền văn hóa nước nhà đang dần dà bị vùi lấp.
Hàng ngàn tác phẩm chữ Nôm đủ các loại Truyện, Ngâm, Diễn Ca, Diễn Truyện,
Thần Tích, Ngọc Phả, Thần Sắc, Điều Ước, Tục Lệ, Địa Bạ, Gia Phả…đang nằm
trong các thư viện trên khắp thế giới, cũng như đang được cất giữ trong dân
gian, đang chờ đợi người có tâm huyết làm công việc phát huy và bảo tồn nền
văn học cổ chữ Nôm này của chúng ta.
Tham Khảo:
1.
“Chữ Nôm or the former Vietnamese script and its past contributions to
Vietnamese literature”, Nguyen Khac Kham, Area and Culture Series, volumn 24,
Tokyo university, Japan.
2.
“Graphemic borrowings from Chinese-The case of chu Nom-Vietnam’s
demotic script”, Nguyễn Đ́nh Ḥa, Bulletin of the Institute of History and
Philosophy, Volume 61, Part 2 (june 1990), Ddate Published: March, 1992.
3.
“Chữ Nôm và công việc khảo cứu cổ văn Việt Nam”, Dương Quảng Hàm, Lê
Văn Đặng dịch từ “ Le Chu Nom ou ecriture demotique, son importance dans
l’etude de l’ancienne Annamite”, Bulletin generale de l’Introduction publique,
No. 7.
4.
“Đại Việt Sử Kư Toàn Thư”, Bản khắc năm Chính Ḥa thứ 18 (1697), Ngô
Đức Thọ dịch và Chú Thích, Nhà xuất bản Khoa Học Xă Hội, Hà Nội, 1998.
5.
“論字喃(chu
Nom)之組織及其與漢字之關係”,
The formation of Chu Nom and Its Relation to Chinese Characters,
聞宥
, 燕京學報,
第十四期
(Yen Ching journal of Chinese Studies 14 (December).
6.
“喃字之形態與產生之年代”,
H́nh Thái và Niên Đại Sáng Chế Chữ Nôm,
陳荊和,
人文科學論叢,
Taipei, Taiwan, 1949.
7.
“Ưu
điểm và Khuyết điểm của chữ Nôm”, Bửu Cầm, Khảo Cổ Tập San 1, Sài G̣n, 1960.
8.
“Chữ Nôm: Nguồn Gốc, cấu tạo và Diễn Biến”, Đào Duy Anh, nhà xuất bản
Khoa Học Xă Hội, Hà Nội, 1975.
9.
“Những Địa Tầng Ngôn Ngữ trong lịch Sử tiếng Việt”, Nguyễn Ngọc Bích.
10.
“Một Số Vấn Đề Chữ Nôm”, Nguyễn Tài Cẩn, Nhà Xuất Bản Đại Học, Hà Nội,
1985.
11.
“Các Phương Thức Biểu Âm trong cấu trúc Chữ Nôm Việt”, Nguyễn Tá Nhí,
Nhà Xuất Bản Khoa Học Xă Hội, Hà Nội, 1998.
12.
“Nguồn Gốc và Quá Tŕnh H́nh Thành Cách Đọc Hán Việt”, Nguyễn Tài Cẩn,
Hà Nội, 1979.
13.
“Lược Khảo Về Nguồn Gốc Chữ Nôm”, Trần Văn Giáp, Lê Văn Đặng thực hiện
văn bản, Ngày Nay Publishing, USA, 2003.
14.
“Colonialism and Language Policy in Viet Nam”, DeFrancis, J. 1977.
15.
http://www.unicode.org/
1.
“Chữ Nôm trên đường hội
nhập với khu vực và thế giới”, Nguyễn Quang Hồng, Viện Nghiên Cứu
Hán Nôm, Hà Nội, 2002.
2.
“七至十四世紀越南國家意識的形成”,
The independence Spirit of Vietnam in the 7th
to 14th centuries.
耿慧玲Keng
Hui Ling, Bulletin of Chinese studies, Chao Yang University, Taiwan, 2003.
Nguồn:
http://www.khuongviet.com/KVso10/Chunom-ttdt.htm