|
Nghệ thuật gốm trà Việt Nam
Việt Nam đă biết đến trà thời Đông Hán, nhưng
trà đạo Việt thành h́nh vào đời nhà Đường, theo các nhà sư Phật giáo và Giao
Châu. Sách Trà Kinh của Lục Vũ nhập đề rằng "trà là loài cây lớn ở phương nam".
Chứng tích trà đạo Việt c̣n lưu lại trên những b́nh bát trà gốm Việt Dao từ thời
bắc thuộc, lên đến tột đỉnh thời Phật giáo Lư, Trần. Đạo trà Việt cổ là đạo mà
không đạo, đạo vô môn quan: không cửa vào, không lối ra.
|
 |
|
Bát Trà cổ
h́nh con vẹt. |
Tương truyền Bồ Đề Đạt Ma từ Tây Trúc sang Tàu
chín năm ngồi ẩn trong hang thiền định. Mắt sụp xuống buồn ngủ, ông cả giận bứt
mi mắt vất xuống đất, chỗ ấy mọc thành cây trà đầu tiên. Chuyện hoang đường này
cốt đồng hóa trà cho sự thức tỉnh Định Huệ. Hoa ngữ Ch'a (Trà) và Ch'an (Thiền)
nghe đồng âm và đồng nghĩa. Từ đó, trà là bạn người tu thiền như h́nh với bóng.
Tổ thứ sáu thiền Tào Khê là Huệ Năng, tự nhận là người Man di miền Ngũ Lĩnh, xứ
của trà.
Lục Vũ là một cuồng sĩ đất Hồng Tiệm đời Đường,
thường lang thang ngâm thơ rồi khóc rống. Ông để lại cho đời sách Trà Kinh gồm
ba quyển bàn về trà, gốm trà, cách pha và uống trà, được người đời sau gọi là
ông tiên trà, thờ làm sơ tổ trà đạo Trung Quốc.
Trà Kinh chép:
Trà là loài cây quư ở phương Nam, cây như cây qua lô, lá như lá chi tử, hoa như
hoa bạch tường vi, trái như trái banh lư, nhụy như nhụy hoa đinh hương, mùi vị
rất hàn (lạnh).
Sách Quảng Bác Vật Chí chép: cao lư là tên
riêng của một thứ trà, lá to mà nhụy nhỏ, người nam dùng để uống.
Trà Kinh lại chép:
"Người phương Nam có cây qua lô giống như lá trà non mà nhụy đắng, giă nát ra
pha trà mà uống th́ suốt đêm không ngủ. Ở Giao Châu và Quảng Châu người ta rất
quư thứ này, hễ có khách đến nhà th́ trước hết bày ra đăi khách". Theo lời Đào
Hoàng Cảnh, một ẩn sĩ tài hoa đời Nam Bắc Triều th́ bọn xử sĩ trong thiên hạ rất
chuộng thứ trà này.
Theo sách Nghiêm Bác Tạp Chí trích lời Lư Trọng
Tân học sĩ nói: "Trà ở Giao Chỉ như rêu xanh, vị cay gắt gọi là trà đăng" (tức
là mạt trà). Những núi ở huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hóa có trồng thứ trà này.
Cây trà mọc liên tiếp che khắp rừng. Người bổn thổ hái lá, giă cho nát, phơi khô
trong bóng mát, nấu mà uống, tính nó hơi hàn, có thể làm mát tim phổi và ngủ
ngon.
Cửu Chân, tên gọi Thanh Hóa đất Việt cổ có: núi
đặt tên chữ là Trà Sơn, người ta gọi nôm là núi Chè. Sách An Nam Chí lược chép:
nhà Trần mỗi lần đi sứ nhà Nguyên đều cống trà thơm làm thổ sản quư.
Cái đẹp của Bát Trà
Đời xưa, khi nhà Tống bên Tàu dựng nghiệp, chọn
núi Thiên Mục ở Triết Giang làm chủ sơn, phúc địa mong cầu vững bền triều đại.
Nhà Lư bên ta chọn núi Tiên Du; cũng như nhà Trần ngóng về núi Yên Tử, nơi vua
dựng nhà Trần lui về ẩn tu sau việc nước.
Từ thuở triều Hán, Đường, Tùy sứ ta đă chế được
thứ gốm tên gọi Việt Dao. Gọi tên như thế để chỉ thứ "men tro" trổ màu xanh biếc
như ngọc cổ. Sách Tàu chép Việt Dao phát sinh từ Nam Việt miền Ngũ Lĩnh, chứ
không nói rơ đất Giao Châu, Cửu Chân. Di chứng khảo cổ học, trên đất ta nay tỏ
rơ thời ấy ta đă làm được gốm Việt Dao, mà lại làm một số lượng rất lớn, khởi từ
những giọt men xanh nhiễu đọng trên thân gốm, mà nay xếp vào loại gốm "Hán bản
địa".
Từ màu xanh bích ngọc đời Bắc thuộc đến màu xác
trà đời Lư, Trần, những bát trà Việt ra đời song song bát trà Đường, Tống bên
Tàu. Người Việt vẫn trung thành sở thích sắc màu Việt Dao của dân tộc đến măi
thế kỷ 15. Hóa ra Việt Dao là chữ gọi dân tộc ngày nay ta vẫn mang tên, là người
chế ra men gốm tiền thân gốm men ngọc (proto-celadon) lừng lẫy Đông phương.
Đời Lư, Trần đă làm ra rất nhiều các thứ liễn,
b́nh đựng nước pha trà đi đôi với các loại bát trà mang thần thái đặc thù Đại
Việt. B́nh trang hoàng ṭa sen chạm nổi, âu bát vóc dáng chẳng khác nào b́nh bát
các tăng sư. Làng nào cũng có đ́nh chùa. Bát trà cũng là vật không thể thiếu
được trong các đồ tế nhuyễn bày trên điện thờ, cũng như cúng vào chùa chiền để
các sư uống trà. Nghệ phẩm từ các làng gốm như chở chuyên hồn đạo, tiếng chuông
mơ sớm hôm, mùi trầm nhang quyện trong không gian lũy tre làng trên đất nước.
Thiền gốm Lư, Trần đă mang cung cách rất Việt Nam. Văn bia đời Lư do sư Pháp Kư
soạn cho thầy là sư Tịnh Thiền ghi rằng "Chỗ uống trà là chỗ thập phương thí chủ
dồn về". Chỗ uống trà tức là cửa Phật. Nay ngắm những trà khí cổ, ta mới biết
phép uống trà Việt lồng trong thiền vị từ thuở đầu dựng nước, đưa h́nh sắc của
tâm linh đến cả đại chúng.
Bát trà Việt trong trà đạo
Nhật
Tại nền chùa cổ Dazaifu Kanzeon-ji người ta đào
được những mẫu gốm vỡ của bát trà Đại Việt đời Trần, kề bên mảnh ván mục c̣n đọc
được vết mực ghi niên đại tương đương năm 1330. Trước đó, đă có những trà khí
Đại Việt xưa hơn vào chốn tăng đường Nhật.
Đầu thế kỷ 13, thượng sư Eisa từ Trung Hoa mang
về Nhật Bản lần đầu giống cây trà. Sau đó, đệ tử Ngài là sư Dogen sang du học
tại chùa Thiên Mục Sơn, khi về nước có người hỏi sư học được ǵ, sư đáp: "Không
có chi nhiều ngoài pháp an tâm". Pháp an tâm sư mang về cùng trà đạo và bát trà
Thiên Mục (tiếng Nhật gọi là Temmoku). Dogen được coi là sư tổ của trà đạo Nhật
Bản vậy.
Cũng như Đại Việt, bấy giờ Phật giáo Nhật bén
rễ vào giới thế quyền. Tăng sư là khách quư của các sứ quân và bọn phú hào. Họ
học Phật rồi tiêm nhiễm luôn đạo thưởng trà. Uống trà nhằm luyện con người khu
trừ những chướng ngại phiền năo, để đạt chỗ rốt ráo của an bần lạc đạo, ḥa đồng
với Tự Nhiên, tức là Chân Như.
Uống trà, hành trà đạo phải có các trà khí mà
ngành gốm Nhật bấy giờ rất phôi thai. Nên trà gốm từ Cao Ly, Trung Quốc, Đại
Việt đưa sang giá đắt, chỉ giới hạn trong hàng sứ quân và đại phú. Thay v́ hấp
thu nếp thanh bần, họ bèn mượn trà đạo làm tṛ trà dư tiêu khiển, đặt ra các quy
tắc kiểu cách (Cha No Yu), muốn vào phải qua cổng Hữu Môn Quan. Trà đă đưa thiền
vị đạm bạc vào trú ngụ chỗ đền các xa hoa. Trong khuôn viên cung đ́nh nguy nga,
các chúa công sai dựng nên trà thất bắt chước lều cỏ bần hàn của ẩn sĩ để hành
trà đạo. C̣n bên nước Việt, đạo đă từ cung cấm ra đi, bỏ phú quư phù vân để
phiêu bồng nơi cảnh thật của "rừng trúc lắm chim" (Trúc lâm đa túc điểu) như thơ
ngài Huyền Quang. Các vua Lư, Trần bỏ kinh về núi, thực hiện hạnh tầm đạo dẫm
theo bước của thái tử Tất Đạt Đa.
Từ bát trà Thiên Mục, về sau trà gốm Trung Quốc
xa ĺa hồn đạo, ngày càng tinh kỳ sắc sảo để thỏa măn thị hiếu vua quan, kẻ nhà
giàu thích trưng bày đồ mỹ ngoạn, thành kỹ nghệ xuất đi các nước. Lấy cảm hứng
từ mầu xanh xác trà Việt Dao (proto-celadon), gốm Trung Quốc tiến hóa thành mầu
men ngọc xa hoa (celadon), của ḷ Diệu Châu Bắc Tống, ḷ Long Tuyền Nam Tống.
Trong khi nước Việt vẫn chuộng giữ mầu xác trà "thuận tự nhiên" cốt cách đạm bạc
của tổ tiên.
Khi các trà sư Nhật ra tay đón nhận bát trà
Việt ấy, con mắt trong tâm hồn họ như thoát nhiên thể ngộ được ấn chỉ tâm truyền
ấy.
Quan hệ Trung Quốc, Nhật Bản sinh thù nghịch từ
thế kỷ 14, hồi quân Nguyên Mông sang đánh Nhật, bị ngọn Thần Phong diệt. Khi nhà
Minh lên ngôi, từ năm 1371 ra lệnh cấm dân duyên hải xuất ngoại. Đến năm 1567,
mới bỏ luật này, nhưng vẫn cấm vượt biển sang Nhật Bản v́ nạn "Nuỵ khấu" (cướp
lùn), quẫy nhiễu bờ biển Trung Quốc. Suốt mấy thế kỷ đó, Nhật đă t́m thấy nơi
Đại Việt của nhà Lê nguồn cung cấp tơ sống và gốm sứ.
Lúc này Đại Việt đă làm sứ vẽ lam. Gốm sứ trà
Việt nhập vào Nhật Bản nhiều hơn trước, đóng vai tṛ quan trọng trong nghệ thuật
trà đạo Nhật Bản đang hồi cực thịnh. Không g̣ gẫm tỷ mỷ như bàn tày nghệ nhân
đời Minh, mấy nét đơn sơ trên gốm Việt phóng bút cảnh chim trời, cá nước, sơn
thủy, tùng thạch v.v... xuất cái thần vị Thiền Lăo, chẳng khác nào tranh tốc họa
Sumi-e, và thuật thư pháp, rất hợp với tâm hồn trà nhân Nhật, làm họ say mê. Vẽ
gốm như vẽ tranh Thiền. Di sản tranh cổ họa Việt Nam ngày nay chừng như có thể
thấy trên gốm cổ.
Nhật Bản là một dân tộc hoài cổ và có khiếu
thẩm mỹ từ những vật nho nhỏ. Ngày nay trong các viện bảo tàng khắp nước này
trân quư giữ những món trà khí Việt từ đời Lư - Trần - Lê - Mạc đă liên tục đến
Nhật Bản qua bao thế kỷ. Trong hậu sảnh những thiền viện xưa, c̣n cất giữ những
đồ tế nhuyễn và trà khí làm bởi những nghệ nhân vốn là người mộ Phật ở xứ Việt
xa. Và trong lâu đài cổ, truyền thừa các sứ quân và giới phú hào ngày nay c̣n
gia truyền các bộ gốm sứ Việt Nam làm báu vật. Bộ sưu tập gốm Việt trứ danh nhất
của ḍng họ thương nhân Ozawa Shrouemon từ Hội An trở về Nhật Bản năm 1638, khi
chúa Tokugawa cấm dân Nhật xuất dương. Chiếc bát vẽ mầu "Beni-Annam" ngày ngày
chúa Tokugawa ưa dùng thưởng trà nay là báu vật trong lâu đài của chúa ở Nagoya
v.v...
Ḍng trà gốm đầu tiên Raku đă mang dáng bát trà
Lư, Trần. Về sau truyền thừa ḍng gốm này và các trường phái khác thường mô
phỏng theo mỹ thuật gốm nước ta. Họ gọi là Annam Yaki để chỉ cho ḍng gốm hoa
lam của ḷ Chu Đậu, Bát Tràng ở Đàng Ngoài thời Lê, Mạc; và Kochi Yaki, tức gốm
Cochin China xứ Quảng Nam Đàng Trong của chúa Nguyễn về sau.
Sử Nhật chép vị sơ tổ ḍng gốm Raku tên là
Zengoro, c̣n một hiệp sĩ theo pḥ lănh chúa Ashikaga, ông làm gốm tế nhuyễn cho
thiền viện Kasuga, và trà khí cho tăng sư hành trà đạo. Con cháu về sau lấy đó
làm nghiệp nhà.
Truyền thừa đời thứ 10, Zengoro Ryozen vẫn làm
gốm lối gia truyền, và khởi đầu bát trà lừng danh Raku. Ông c̣n biệt tài mô
phỏng trà gốm của An Nam (Annam Yaki) và Cochin China (Kochi Yaki). Đến đời con
nối dơi, Zengoro Hogen là một nghệ sĩ tài hoa nhất trong ḍng họ. Ông nổi tiếng
chuyên làm gốm ba mầu (tam thái) kiểu Kochi Yaki, gồm mầu lục, tím đỏ và vàng,
mỗi mầu ngăn cách nhau bằng những nét chạm nổi. Hogen được lănh chúa Tokugawa
đất Kishu thu dụng và sủng ái, ban cho chiếc ấm bạc chạm tên Eiraku (Vĩnh Lạc)
lưu danh trên tác phẩm, coi tài nghệ ông ngang hàng các tuyệt phẩm đời vua Minh
bên Tàu cùng tên, đầu thế kỷ 15. Chúa c̣n ban cho ông một ấn vàng, chỉ được dùng
đóng tên lên các món trà khí được chúa chuẩn nhận.
Năm 1659, một nghệ sĩ gốm người Tàu mà người
Nhật gọi tên là Chin Gempin mở ḷ chuyên sáng tác những trà gốm bằng loại gốm
tiêu biểu ḍng Seto: mầu trắng rạn mịn tựa ngà cổ, mô phỏng kiểu gốm Bát Tràng
của An Nam xuất sang Nhật Bản hồi trước. Ông trang trí trên gốm cảnh sơn thủy,
hoặc đề thư pháp thơ cổ bằng mầu lam xanh.
Ḍng gốm Kutani, chuyên làm gốm mầu sặc sỡ,
trong đó có loại bắt chước làm gốm sứ cổ Tàu, Việt. Năm 1810, thương nhân giàu
có tên Yoshidaya Denyemon tái dựng lại những ḷ gốm đă đóng cửa ở Kutani, để
phục chế kiểu gốm Kochi Đàng Trong Việt Nam đời trước.
Mokubei (1767-1833), là bậc văn nhân theo mẫu
truyền thống đông phương. Ông làu thông kinh sách có khiếu làm thơ, vẽ tranh,
tạo gốm, môn nào cũng tài hoa. Ông bắt chước làm các món sứ cổ, khéo léo chẳng
phân biệt mới cũ đâu vào đâu. Ông đặc biệt mô phỏng các tiêu bản trà gốm Cochin
China không sai sẩy, tác phẩm này nay trưng bày trong Viện Bảo tàng Nghệ thuật
Tokyo.
Thế kỷ 20, những nghệ sĩ học giả Tây phương nào
đến Nhật Bản bị cuốn hút trong đạo vị nền văn hóa nghệ thuật Nhật, dĩ nhiên đều
mê say các cổ trà gốm Việt tại Nhật Bản. Các tên tuổi: William Willets, Stephen
Addis, Hugo Munsterberg, Hazel H.Gorham, John Stevens... dày công nghiên cứu và
giới thiệu cái đẹp trong văn hóa Nhật đến Tây phương. Qua họ, thế giới lần đầu
tiên biết đến bát trà Việt trong trà đạo Nhật. Lừng lẫy nhất là nhà nghệ sĩ gốm
kiêm đạo gia người Anh Bernard Leach, từng trải suốt đời học hỏi và sáng tạo tại
Nhật Bản, được lăo sư ḍng gốm Kenzan thu nhận và ban ấn truyền thừa. Trong sự
nghiệp tầm thầy học đạo, ông học qua thuật làm gốm nung Kochi Yaki, tức gốm Đàng
Trong Việt cổ tại Nhật Bản. Ông trân quư vô ngần một bát trà gốm trắng sứt mẻ
đời Lư trong bộ sưu tập riêng ḿnh. Về già, ông là bạn tâm đắc của Shoji Hamada,
một đạo sư gốm Nhật Bản. Cả hai thuộc vào hàng bốn tên tuổi thượng thừa của
ngành gốm hiện đại. Cả hai đều ưa thích sưu tầm bát trà cổ Việt, dùng đó làm
tiêu bản học bí quyết làm gốm của cổ nhân.
Hai nước đều thấu nhập tinh hoa văn hóa Trung
Quốc, nhưng nghệ thuật gốm trà Việt - chứ không phải Tàu - đă gây ảnh hưởng lớn
trong lịch sử trà đạo Nhật, cho thấy tâm hồn và ḷng rung cảm cái đạo Đẹp của
hai dân tộc đời cũ rất gần nhau. Nghệ thuật dân gian Nhật (mingei) mang những
h́nh thái không khác mấy với nghệ thuật làng quê truyền thống Việt Nam.
(Theo Tạp chí Xưa và
Nay)
Nguồn:
http://www.thanhnien.com.vn/TinTuc/VanHoa/2004/8/30/27745/
|