|
Vài nét
về Vi rút Cúm lợn (heo) (Swine influenza virus)
Nguyễn Đ́nh Nguyên
Lời mở đầu: Vừa mới giữa cuối tháng 8 2004 này,
các nhà nghiên cứu Trung quốc có báo cáo trong một hội thảo là t́m thấy Virus
cúm A(H5N1) trong cơ thể lợn (heo). Thế là đợt sóng lo sợ mới diễn ra.
Cúm A luôn là loại cúm làm cho giới chuyên gia dịch tễ lo sợ v́ lịch sử các trận
đại dịch cúm toàn cầu đều là cúm loại A cả. Lần này lập luận
A(H5N1) mà đă nhảy sang lợn rồi th́ từ lợn sang người mấy chốc, và đại dịch..đại
dịch. WHO lại tiếp tục ra khuyến cáo các quốc gia có dịch A(H5N1) ở gia cầm phải
chú tâm đến đàn lợn của quốc gia ḿnh. Vậy virus cúm nhóm A có phải là lần đầu
xuất hiện ở lợn không? Chúng tôi xin giới thiệu đến bạn đọc vài nét về lịch sử
virus cúm ở loại vật nuôi lấy thịt này.
Lịch sử:
Cúm lợn lần đầu tiên được công
nhận là một bệnh hoàn toàn mới trong suốt kỳ đại dịch cúm toàn cầu ở người năm
1918 (1,3). Do tổn thương thể hiện giống nhau giữa lợn và người, cho nên Bác sĩ
Koen và các bác sĩ thú y cùng trung-bắc Mỹ coi như là một bệnh mới ở lợn là
“cúm” (2). Sau năm 1918, cúm lợn cổ điển đă trở thành dịch ở Mỹ, nhưng một số
nơi khác trên thế giới mới chỉ có báo cáo các đợt dịch rải rác. Tuy nhiên, đầu
năm 1976, cúm lợn đă có biểu hiện tăng tần suất xuất hiện ở nhiều vùng nuôi lợn
khác. Trong khi bệnh và mô h́nh dịch tễ của bệnh có thay đổi chút ít kể từ năm
1918, thế nhưng loại vi rút tác nhân influenza A th́ lại thay đổi rất lớn (3).
Vi rút influenza H1N1 cổ điển lần
đầu tiên được phân lập ở lợn năm 1930 (7) ở người cũng phân lập được sau đó vào
năm 1933. Những nét giống nhau giữa hai loại vi rút có nguồn gốc ở lợn và người
là một điều xác nhận lập luận của các thầy thuốc thú y cũng như những người chăn
nuôi lợn trước đó rằng chỉ có một tác nhân gây ra chứng cúm ở người và lợn. Từ
ca cúm lợn đầu tiên được báo cáo là một bệnh hoàn toàn mới vào năm 1918, sau đó
người ta cho rằng chính nguyên uỷ là vi rút cúm này được lây truyền từ người
sang lợn rồi từ đó lợn mới biểu hiện bệnh. Các cuộc điều tra hồi cứu các mẫu
huyết thanh đă cung cấp thêm bằng chứng hỗ trợ cho suy đoán là chỉ có một tác
nhân gây ra các vụ bùng phát dịch cúm ở người và lợn vào năm 1918 đó. Tuy nhiên,
các số liệu này không giúp chúng ta hiểu thấu được bằng cách nào mà vi rút có
thể lây truyền từ người sang lợn và ngược lại. Câu hỏi đă được đặt ra là vi rút
này có xuất phát điểm từ người hay lợn, hoặc từ một chủng nào khác rồi truyền
sang cho cả lợn và người cho đến nay vẫn c̣n bỏ ngỏ.
Phân tích cấu trúc phân tử và kháng nguyên của các vi rút cúm lợn được phân lập
từ năm 1930 đă chứng tỏ rằng bệnh có thể được gây ra do một số chủng của
influenza nhóm A. Như đă đề cập ở trên, vi rút cúm lợn cổ điển 1918 đă gây thành
dịch ở Mỹ và rải rác các báo cáo có phân lập được vi rút ở một số nước châu Âu
trong thởi kỳ những năm giữa 40-50, Tuy nhiên từ 1975 cho đến nay, tần suất các
vụ dịch cúm lợn bùng phát thấy tăng lên và phân bố địa lư cũng rải rộng ra trên
toàn thế giới khi số lượng lợn nuôi tăng lên rơ rệt. Thú vị là, qua những vụ
bùng phát này người ta nhận dạng được nhiều loại kháng nguyên và cấy trúc di
truyền, khác biệt với chủng cúm nhóm A, bao gồm chủng cổ điển H1N1, H1N1 giống ở
loài chim, chủng H3N2 có nguồn gốc từ người, và dạng tái kết hợp H1N2 giữa chủng
cúm lợn cổ điển H1N1 và chủng cúm H3N2 ở lợn nhưng giống như ở người (1,3). Ở
Bắc Mỹ, nơi chủng cúm lợn H1N1 cổ điển chiếm ưu thế, th́ từ những năm 1990 đă có
dấu hiệu thay đổi . Một vài chủng influenza nhóm A khác đă phân lập được từ lợn
ở Canada, bao gồm các chủng vi rút H1N1 cổ điển giống như loại đă được phân lập
năm 1930 và các loại cúm lợn mới xuất hiện gần đây rồi các vi rút H3N2 giống như
H3N2 ở người trước đây (1,3,4). Gần đây hơn, ở Canada các vi rút cúm influenza
H4N6 từ loài chim cũng đă phân lập được ở những con lợn bị bệnh đường hô hấp
(4). Đến năm 1998, vi rút lợn dạng tái hợp H3N2 (lợn-người và chim-lợn-người)
đă dấy lên ở Mỹ.
Cấu trúc:
Cấu trúc và chức năng của các vi
rút cúm influenza nhóm A thể hiện ở nhiều chi tiết (5,6). Các loại vi rút này
có kích thước trung b́nh (80-120 nm, nanomet), có lớp vỏ bọc lipid, h́nh cầu đa
h́nh thái có nucleocapsid xoắn bên trong, trên bề mặt có các gai lồi dài 10-12
nm (thường được gọi là các “gai”) bọc quanh lớp vỏ. Nhân virion có chứa 8 đoạn
RNA (ribonucleotide acid) đạng xoắn đơn không nhạy cảm chịu trách nhiệm mă hoá
cho ít nhất là 10 protein- 8 protein cấu trúc và 2 loại protein không cấu trúc.
Mỗi đoạn RNA có chức năng mă hoá di truyền cho một hay hai protein.
Nucleocapsid bên trong của nhân virion được cấu tạo bởi 8 phân đoạn RNA cùng với
các polymerases (PA1, PA2, and PB) và nucleoprotein (NP). Phân tử protein M1,
c̣n được gọi là màng hay protein ma trận, là phần ngoài của nucleocapsid và có
liên hệ mật thiết với bề mặt bên trong của lớp vỏ lipid . Không giống như M1,
loại chiếm tỷ lệ nhiều nhất trong virion, th́ protein M2 hiện diện với số lượng
ít và là một protein chuyển màng nằm ngang qua lớp vỏ lipid. Các gai bề mặt có
hai thành phần glycoprotein khác nhau, hemagglutinin (HA) có dạng que và
neuraminidase (NA) có dạng h́nh nấm. Các glycoproteins HA và NA này có phần kỵ
nước móc vào trong lớp vỏ lipid (8).
Thoạt đầu th́ các vi rút influenza
được phân làm 3 loại A, B và C dựa trên sự hiện diện của các kháng nguyên của
nucleoprotein (NP) và protein ma trận (M1). Vi rút influenza nhóm A c̣n được
chia ra thành các phụ nhóm dựa trên sự hiện diện của các glycoprotein bề mặt HA
và NA. Loại HA đóng vai tṛ kết gắn vi rút vào các thụ thể (receptors) của vật
chủ và hoà vào màng tế bào của vật chủ ddêr tiến hành chu kỳ nhân bản. C̣n NA
th́ được cho rằng có vai tṛ giải phóng các thế hệ vi rút con cháu đó ra khỏi
các tế bào của vật chủ và trợ giúp cho các vi rút có thể xâm nhập được vào lớp
màng bọc ở các tế bào biểu mô hô hấp. Hiện tại đă nhận dạng được 15 phụ nhóm
loại HA và 9 phụ nhóm loại NA (8).
Chức năng:
Đáp ứng miễn dịch bảo vệ của cơ
thể vật chủ trực tiếp tiên phát là đánh vào các glycoprotein loại HA và thứ phát
đối với các loại NA. V́ thế, các biến đổi kháng nguyên ở loại HA và biến đổi
chút ít ở loại NA có liên quan đến sự tăng khả năng tiềm tàng gây dịch của các
vi rút influenza nhóm A. Thuật ngữ “trôï dạt kháng nguyên” (“antigenic drift” )
và “chuyển dạng kháng nguyên (“antigenic shift”) là để chỉ hai dạng quan trọng
và nổi bật của sự biến đổi của hai loại protein HA và NA này. Hiện tượng trôï
dạt kháng nguyên nảy sinh từ sự tích tụ các đột biến điểm trong các phân đoạn
RNA của vi rút chịu trách nhiệm mă hoá cho HA và NA, khi nó xảy ra th́ gây ra
những biến đổi về kháng nguyên rất nhỏ ở các glycoprotein bề mặt. Các biến thể
kháng nguyên mới này sẽ vẫn c̣n có những cấu trúc của phụ nhóm HA và NA tương tự,
và có sự tiếp nối tuần tiến các biến thể kháng nguyên này, thế hệ sau thay thế
thế hệ trước (8).
C̣n sự chuyển dạng kháng nguyên là
để chỉ sự xuất hiện đột ngột một loại vi rút hoàn toàn mới mà có các phụ nhóm HA
và NA hoàn toàn khác biệt hoặc có sự thay đổi hoàn toàn hai phụ nhóm HA và NA
này. Những thay đổi lớn của kháng nguyên như thế, có thể được giải thích là do
hiện tượng tích tụ các đột biến. Hiện tượng trôï dạt kháng nguyên được cho là
kết quả chủa sự tái hợp các phân đoạn RNA của vi rút trong khi xảy đột biến ở
các thế hệ sau, khi một tế bào đơn lẻ bị nhiễm bởi hai hay nhiều loại vi rút
influenza có chứa các phụ nhóm HA và NA khác nhau (8)
Trong khi các thành phần kháng
nguyên của các phụ nhóm HA và NA được kiểm soát bằng một gen đơn độc, th́ nhiều
thành phần quan trọng khác của vi rút cúm được kiểm soát bằng nhiều gien hoặc sự
tương tác của đa gen. V́ thế, các đột biến điểm hoặc các tái hợp di truyền mà có
dính líu đến bất kỳ một trong 8 phân đoạn RNA nào của vi rút cúm influenza nhóm
A đều có thể có ảnh hưởng sâu rộng đến thay đổi trong vật chủ, vi rút và có nguy
cơ tiềm tàng cho một đợt dịch cúm influenza. Nhờ vào sự tiến bộ của các kỹ
thuật sinh học phân tử, phân tích di truyền được cả 8 phân đoạn RNA của vi rút,
đă
'mở ra một khung trời' khám phá mới đầy thú vị liên quan đến việc đi truy t́m
nguồn gốc của vi rút cúm và xây dựng các chiến lược pḥng chống bệnh cúm nhóm A
ở động vật.
C̣n kết quả như thế nào th́ lại là câu chuyện khác.
Việc duy tŕ được các vi rút
influenza nhóm A trong quần thê vật chủ tự nhiên phụ thuộc vào các yếu tố hoạt
chất, vật chủ và môi trường và sự tương tác giữa các yếu tố này với nhau. Bất kỳ
có một sự biến đổi nào trong các yếu tố này đều có thể làm thay đổi khả năng
nhiễm bênh, khả năng lây nhiễm, độc tính vi rút, hoặc biến đổi vật chủ của vi
rút và các mô h́nh dịch tễ. Chuyện ǵ đă xảy ra ở Mỹ trước khi có các dạng biến
thể năm 1998? Chỉ sau khi có sự nhảy cóc một loại vi rút influenza vào một vật
chủ mới, th́ một tỷ lệ đột biến vi rút lớn diễn ra cho đến khi vi rút thích nghi
được với vật chủ mới. Lợn đươc cho là một cái “thùng trộn”
cho con người- và chim- nơi phát sinh ra vi rút cúm influenza nhóm A và chính
từ cái “thùng trộn”
này một đại dịch toàn cầu cúm nhóm A mới ở người đă dấy lên. Nếu đúng như vậy,
th́ sẽ có các chu kỳ của các loại vi rút cúm mới xuất hiện ở lợn. Các loại vi
rút influenza nhóm A c̣n gây ra các nhiễm trùng tự nhiên
ở lợn, đó là loại kết
hợp có thay đổi hạn chế giữa loại HA và NA. Việc hạn chế thay đổi vật chủ ở
trong bệnh cúm của các loài động vật có vú cấp thấp và con người vẫn chưa giải
thích được. Các biến đổi vật chủ của vi rút influenza do sự kết hợp HA-NA và các
chủng bao gồm:
Ở người: H1N1, H2N2, H3N2 (H5N1,
H9N2)
Lợn: H1N1, H3N2, H1N2, (H9N2, H4N6, H1N7)
Ngựa: H3N2 (H7N7)
Chim (một số chủng): Tất cả 15 phụ nhóm HA và tất cả 9 phụ nhóm NA trong hầu
hết các dạng kết hợp của 135 dạng kết hợp HA-NA tiềm tàng.
Vậy c̣n có ṿng xoắn nào mới của
vi rút cúm ở lợn trong các năm tới không? Không thể dự đoán được. Chuyện chỉ
rơ ràng là chúng ta vẫn
tiếp tục
vui sống, giữ vệ sinh cá nhân, giữ vệ sinh
chung cho gia đ́nh và xă hội. Bệnh mới có xảy đến cũng là ngoài ư muốn và giới
chuyên môn đều luôn có
những hành động sớm để ngăn ngừa và pḥng chống bệnh.
NĐN
2003
Tham khảo:
1. Brown, I.H. 2000. The
epidemiology and evolution of influenza viruses in pigs. Veterinary
Microbiology 74: 29-46.
2. Dorset, M. 1922. Remarks on
“hog flu.” Presented at the 59th Annual Meeting of the American Veterinary
Medical Association, St. Louis, Missouri, August 28 to September 1. pp 162-171.
3. Easterday, B.C., and K. Van
Reeth. 1999. Swine Influenza. In Straw et al. (eds.), Diseases of Swine, 8th
Ed., Iowa State University Press, pp. 277-290.
4. Karasin, A.I., C.W. Olsen, I.
H. Brown, S. Carman, M. Stalker, G. Josephson. 2000. Canadian Vet. J. 41:
938-939.
5. Krug, R.M. 1989. The Influenza
Viruses, Krug, R.M., Ed., Plennum Press, New York
6. Murphy, B.R. and R.G. Webster.
1990. Orthomyxoviruses. In, Virology, Fields, B.N., Ed., Raven Press New York.
pp. 1091-.
7. Shope, R.E. 1931. Swine
influenza. III. Filtration experiments and etiology. J. Exp. Med 54: 373-385.
8. Slemons, R.D. and M. Brugh.
Influenza. In Handbook of Zoonoses, 2nd ed. George Beran Ed., CRC Press Boca
Raton. pp. 385-395.
|
|