|
Công quyền trong thời đại đế quốc
Nguyễn Văn
Có lẽ bạn đọc sẽ cao mày hỏi đặt vấn đề công quyền làm ǵ khi mà ngôn ngữ bị
chặt ra từng mảnh, và khi ư nghĩa của ngôn từ bị chảy máu. Làm sao có thể hiểu
nỗi hai chữ công quyền trong bối cảnh đó. Khi tự do có nghĩa là chiếm đóng, khi
dân chủ có nghĩa là chủ nghĩa bóc lột kiểu mới, khi cải cách có nghĩa là đàn áp,
khi những chữ như “ǵn giữ ḥa b́nh” làm cho chúng ta lạnh người, th́ công quyền
có thể có bất cứ nghĩa ǵ mà người ta muốn có.
Ở Mĩ người dân đang bị lôi kéo, bị uốn nắn để tin rằng họ là người đang bị bao
vây, và kẻ bảo hộ che chở cho họ là chính phủ Mĩ. Kẻ bao vây, nếu không là cộng
sản th́ phải là al-Qaeda. Nếu không là Cuba th́ chắc chắn phải là Nicaragua.
Thành ra, quốc gia hùng mạnh số 1 trên thế giới với một kho đạn dược và vũ khí
không nước nào sánh nổi và từng làm nên những cuộc chiến đẩm máu trong lịch sử
loài người là quốc gia của những người đang cảm thấy bất an, đang thấy ḿnh đang
bị khủng bố! Cái nghịch lí có khi khó hiểu nổi. Nhưng cái nghịch lí đó làm cho
người dân Mĩ gắn bó keo sơn với chính phủ họ, một sự gắn bó không phải được nối
kết bằng dịch vụ xă hội hay đạo đức, mà bằng sự sợ hăi.
Nhà nước Mĩ phải sản xuất ra cái sợ để tranh thủ sự ủng hộ của quần chúng để
hoàn thành sứ mệnh gây hấn của họ trên thế giới. Nhưng với sự hội tụ giữa quần
chúng và chính phủ như thế làm cho người dân ngoài nước Mĩ không phân biệt được
đâu là hành động của chính phủ, và đâu là hành động hay ư nguyện của người dân
Mĩ. Có lẽ chính sự lẫn lộn này là dầu xăng cho chủ nghĩa bài Mĩ trên khắp thế
giới. Chủ nghĩa bài Mĩ được nhà nước Mĩ và giới truyền thông Mĩ hân hoan đón
nhận, v́ họ thấy đó là một công cụ, một động lực để tranh thủ vận động quần
chúng Mĩ đứng sau lưng họ. Thành ra, không phải ngẫu nhiên mà chúng ta thường
nghe những phát biểu đại loại như “Họ ghét chế độ tự do của chúng ta”, hay “Họ
ghét nền dân chủ của chúng ta”, hay “Họ ghanh tị trước sự thịnh vượng của chúng
ta”, v.v. và v.v.
Sử dụng những mối đe dọa tưởng tượng từ những kẻ ngoại thù tưởng tượng để tranh
thù ủng hộ quần chúng là một thủ đoạn rất cổ xưa, nhưng đó lại là một mánh khóe
cực ḱ hiệu nghiệm để đưa dẫn các chính khách vào hành lang quyền lực, vào chiến
tranh.
Trước khi Mĩ xâm chiếm Iraq, theo kết quả thăm ḍ ư kiến của hăng Gallup
International, gần 90% dân chúng chống lại hành động đơn phương của Mĩ. Ngày
15/2/2003, vài tuần trước cuộc xâm lăng vào Iraq, hơn 10 triệu người trên khắp
thế giới xuống đường biểu t́nh phản đối chiến tranh. Ấy thế mà chính phủ của
các nước được gọi là tự do dân chủ vẫn làm ngơ và quyết định gây chiến.
Câu hỏi cần được đặt ra là Chế độ dân chủ có phải là dân chủ không? Người dân
có làm chủ chính trị trong các chế độ này không? Các chính phủ do dân bầu có
trách nhiệm, lắng nghe nguyện vọng của người dân hay không? Người dân có chịu
trách nhiệm cho hành động của chính phủ mà hô bầu lên hay không?
Nếu chịu khó suy nghĩ, bất cứ ai cũng sẽ thấy cái lô-gích của cuộc chiến chống
khủng bố và khủng bố rất giống nhau. Cả hai đều làm cho thường dân phải trả cái
giá bằng mạng sống của ḿnh cho việc làm của chính phủ họ. Bọn al-Qaeda làm cho
hàng ngàn người Mĩ chết v́ chính sách của Mĩ đối với Palestine, Saudi Arabia,
Iraq, Afghanistan … Chính phủ Mĩ làm cho hàng chục ngàn người Afghanistan trả
giá bằng sinh mạng ḿnh cho việc làm của nhóm Taliban, và hàng chục ngàn người
Iraq chết v́ hành động của Saddam Hussein.
Có một khác biệt quan trọng: đó là không ai bầu cho bọn al Qaeda, Taliban, hay
Saddam Hussein. Nhưng tổng thống Mĩ th́ do dân Mĩ bầu lên, dù ông chỉ chiếm đa
số vài lá phiếu.
Thủ tướng Ư, Tây Ban Nha, Anh, và Úc được dân bầu. Thế th́ người dân trong các
nước đó có chịu trách nhiệm cho hành động của chính phủ họ trước cái chết của
hàng chục, thậm chí hàng trăm, ngàn người hay không?
Thượng đế của ai phán quyết một cuộc chiến là “công bằng” hay “just war”? Tổng
thống Bush cha từng nói “Tôi sẽ không bao giờ xin lỗi cho nước Mĩ. Tôi không
cần biết đến sự thật là ǵ.” Khi vị tổng thống của một quốc gia hùng mạnh nhất
thế giới không cần biết đến sự thật là ǵ, chúng ta nên biết rằng chúng ta đang
sống trong một thời đại của đế quốc chủ nghĩa.
Thế th́ công quyền có ư nghĩa ǵ trong thời đại đế quốc chủ nghĩa? Công quyền
có thực sự tồn tại hay không?
Trong các xă hội gọi là “dân chủ”, có một ư tưởng chính thống cho rằng công
quyền được thể hiện qua lá phiếu. Nhưng lá phiếu của người dân có thực sự đem
lại quyền lực cho người dân? Chính phủ người dân bầu lên có thực sự là chính
phủ họ muốn có hay không? Nếu John Kerry trở thành tổng thống, th́ các nhà buôn
dầu hỏa và giới tân bảo thủ chắc chắn sẽ di chuyển khỏi Nhà Trắng, và chắc chẳng
có bao nhiêu người thương tiếc sự ra đi của họ. Nhưng trong thực tế sự ra đi
của họ cũng chẳng làm thay đổi chính sách đối ngoại của Mĩ, bởi v́ Kerry chắc
chắn sẽ tiếp tục đường lối của Tổng thống Bush đă đề ra. Nước
Mĩ có lẽ sẽ có một tổng thống mới, một chính phủ
mới, nhưng chính phủ đó chỉ là chính phủ Bush mà không có Bush. John Kerry cũng
tin vào chủ nghĩa đế quốc như Bush mà thôi.
Giới kĩ nghệ dầu hỏa, quân sự, ngân hàng vẫn c̣n đó, và họ cung cấp tiền bạc cho
cả hai đảng Cộng ḥa lẫn Dân chủ.
Do đó, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy trong những cuộc bầu cử ở Mĩ, một phần
lớn là những cuộc tranh luận giữa hai cá nhân, giữa hai cá tính – ai mạnh hơn ai
trong chiến tranh, ai có thành tích bỏ bom nhiều hơn ai, và ai nằm trong quân
đội nhiều năm hơn ai … Đó không phải là những tranh luận mang màu sắc tri thức
hay đường lối, bởi v́ Mĩ chỉ có một đường lối đối ngoại: đó là theo đuổi chủ
nghĩa đế quốc.
Hệ thống chính trị của Mĩ được xây dựng một cách cẩn thận sao cho không ai, kể
cả những người được đắc cử, có thể chất vấn cái “thiện”, cái vĩ đại của kĩ nghệ
quân sự qua hành lang quyền lực.
Thành ra, không nên ngạc nhiên khi trong cuộc bầu cử lần này, người Mĩ chỉ có
hai cá nhân để chọn. Cả hai đều là cựu sinh viên Đại học Yale, là cựu thành
viên của nhóm Skull and Bone (Đầu lâu và Xương, một hội đoàn bí mật), cả
hai đều là triệu phú, cả hai đều khoe ḿnh có thành tích trong quân đội, cả hai
đều nói đến chiến tranh, và cả hai đều ồn ào căi cọ ai là người có khả năng lănh
đạo cuộc chiến chống khủng bố hữu hiệu nhất (nên đọc và hiểu là: bỏ bom nhiều
nhất).
Cũng như Tổng thống Clinton trước đây, Kerry – nếu đắc cử - sẽ tiếp tục bành
trướng thế lực kinh tế và quân sự của Mĩ trên thế giới. Kerry hứa sẽ gửi thêm
quân đội vào Iraq. Kerry vẫn phải ủng hộ Do Thái và Ariel Sharon 100 phần trăm.
Kerry vẫn phải duy tŕ chế độ thuế má của Bush đến 98%.
V́ thế, đằng sau những câu chữ mang tính mạ lị chửi bới om ṣm với nhau là những
cái họ đă đồng ư ngầm với nhau, chẳng có ǵ khác biệt giữa Kerry và Bush. Tổng
thống John Kerbush hay Tổng thống George Berry th́ cũng là một mà thôi.
Đó không phải là một sự lựa chọn thực sự. Đó là mộ sự lựa chọn hiển nhiên.
Cũng giống như người tiêu thụ mua bột giặt trong siêu thị vậy: dù chọn Ivory
Snow hay Tide th́ cả hai đều do Proctor & Gamble sản xuất cả.
Sự thật là nền dân chủ tuyển cử đă và đang trở thành một mánh khóe lôi kéo theo
kiểu hoài nghi chủ nghĩa. Nó cung cấp cho quần chúng một không gian chính trị
rất hạn chế. Nếu ai đó cho rằng cái không gian chính trị này là một lựa chọn
thực sự th́ suy nghĩ người đó c̣n quá ngây thơ.
Sự khủng hoảng của nền dân chủ hiện đại quả là nghiêm trọng.
Trên b́nh diện quốc tế, ngoại trừ cái-gọi-là chủ quyền quốc gia, các công cụ và
cơ phận của hệ thống tài chính và thương mại đang thống trị nền kinh tế tại các
nước đang phát triển. Trong thực tế, họ đang thiết lập một chủ nghĩa thực dân
kiểu mới tại các quốc gia này. Hệ thống này cho phép các đại công ti xâm nhập
thị trường và xuất ra một số tài sản khổng lồ từ bất cứ quốc gia nào thuộc thế
giới thứ ba. Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Ngân hàng thế giới (WB), Quĩ
tiền tệ quốc tế (IMF) và các cơ quan tương tự như Ngân hàng phát triển Á châu (ADB)
hiện đang soạn thảo chính sách kinh tế và chính trị tại các nước đang phát triển
ở Á châu, Phi châu và Châu Mĩ Latin.
Tất cả những việc làm của các tổ chức quốc tế này được núp dưới mĩ từ “Reform” –
cải cách. Hậu quả của cái-gọi-là cải cách là hàng ngàn hăng xưởng nhỏ phải đóng
cửa, hàng triệu công nhân phải mất việc làm, và hàng triệu nông dân phải mất đất
đai.
Tờ Spectator (Anh quốc) hân hoan báo cho thế giới biết rằng “Chúng ta
đang sống trong một thời đại hạnh phúc nhất, thịnh vượng nhất, ḥa b́nh nhất.”
Nhưng hàng tỉ người phải hỏi những người gọi là “Chúng ta” là ai? “Chúng ta”
đang sống ở đâu? Tên của “Chúng ta” là ǵ?
Điều cần phải hiểu là thế này: Dân chủ hiện đại là một thể chế được xây dựng một
cách an toàn, dựa trên nền tảng chính là chấp nhận sự hiện hữu của một nhà nước.
(Sự chấp nhận này mang tính tôn giáo, giống như chấp nhận một niềm tin). Thế
nhưng các đại công ti th́ không nằm trong nền tảng này. Thế th́ dân chủ ở đâu?
V́ thế, khi nói đến công quyền trong thời đại đế quốc chủ nghĩa tức là nói đến
một khái niệm cốt lơi mà trong đó công chúng có quyền phản kháng nhà nước, phản
kháng giai cấp thống trị, phản kháng các thế lực đang tiếp tay cho đế quốc.
“Phản kháng” ở đây có nghĩa là chỉ ra những sai lầm, là vận động cải thiện t́nh
thế làm cho xă hội công bằng hơn.
Những đợt biểu t́nh, xuống đường tuy rất quan trọng, nhưng không có hiệu quả
ngăn chận chiến tranh. Chiến tranh chỉ có thể ngăn chận khi người lính không
muốn cầm súng giết người, khi công nhân từ chối bốc vác vũ khí lên máy bay hay
xuống tàu chiến. Chỉ có thể ngăn chận chiến tranh khi các thế lực yểm trợ cho
chiến tranh bị tẩy chay.
Nếu công chúng muốn dành lại cái không gian chính trị để có quyền phản kháng,
công chúng cần phải tự giải phóng ḿnh ra khỏi cái sợ. Quần chúng phải sử dụng
kinh nghiệm, sáng kiến, và cả trí tưởng tượng để chất vấn những công cụ đàn áp
đang được núp dưới những mĩ từ như “cải cách”. Quần chúng cần phải chỉ ra những
cái bất công, tàn bạo, những cái không thể chấp nhận được.
Trong những năm gần đây, thế giới chứng kiến sự ra đời của các tổ chức phi chính
phủ gọi là NGO (non-government organizations). Các tổ chức này ngày càng có mặt
đông đảo tại các nước đang phát triển, kể cả Việt Nam. Phần lớn các tổ chức NGO
nhận tài trợ từ các cơ quan như Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Ngân hàng thế
giới (WB), Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF) và chính phủ các nước Tây phương. Tại sao
các cơ quan này tài trợ cho NGO? Chủ trương “khai sáng” cho thuộc địa? V́ cảm
thấy có tội?
Bề ngoài NGO thường cho ra một ấn tượng đẹp, v́ họ làm từ thiện, v́ họ lấp vào
cái khoảng trống nhà nước địa phương không hay chưa đảm đang được. Cống hiến
thực sự của NGO là họ xoa dịu những tức tối chính trị của người dân trong các
nước đang phát triển bằng cách tung ra những chiêu thức “cứu trợ nhân đạo”, làm
như họ là những người nhân từ thật sự. Qua hành động thực tế bề ngoài, NGO làm
thay đổi tâm lí quần chúng. Họ biến quần chúng trong các nước nghèo khó thành
những đối tượng phụ thuộc vào đồng tiền của họ. Họ làm cho lưỡi dao phản kháng
chính trị của quần chúng cùn đi. NGO, v́ thế, là một trái độn giữa đế quốc và
thần dân của đế quốc. NGO trở thành một người trọng tài, người thông dịch viên,
người tạo điều kiện.
Về lâu về dài, NGO chịu trách nhiệm với những cơ quan tài trợ và nuôi sống họ,
chứ đâu chịu trách nhiệm với ngừơi dân trong các nước nghèo khó. NGO – nói theo
ngôn ngữ của giới thực vật học – là những “indicator species” hay “sinh vật thể
hiện”. Muốn hiểu ư niệm này, chúng ta chỉ cần nh́n qua quá tŕnh chuẩn bị xâm
lăng vào Iraq của Mĩ: trong khi chuẩn bị bom đạn, Mĩ bật đèn xanh cho các tổ
chức NGO lên chương tŕnh dọn dẹp và làm sạch vết thương chiến tranh. Đúng là
một chiến thuật vừa đánh vừa xoa!
Ở Mĩ, Quốc hội đă thông qua dự luật Ái quốc (USA Patriot Act) và dự luật này
đang trở thành một loại kim chỉ nam cho các dự luật chống khủng bố của các nước
khác trên thế giới. Qua dự luật này, nhân danh bảo vệ tự do nhà nước tước lấy
quyền tự do của người dân.
Trong khi cái khoảng cách giữa người nghèo và người giàu càng gia tăng, khi nhu
cầu kiểm soát nguồn tài nguyên thế giới để nuôi sống guồng máy tư bản càng cấp
thiết, t́nh trạng bất ổn sẽ trở nên nghiêm trọng.
Các quan to trong guồng máy thương mại như các đại giám đốc, quan ṭa, tướng
lănh trong quân đội từ trên cao nh́n xuống đám dân lành thấp cổ bé họng lắc đầu
nói “Không c̣n con đường nào khác các con ạ”. Rồi từ những đống tro tàn ở
Afghanistan, Iraq, Palestine, v.v… người dân trả lời “Không c̣n con đường nào
khác hơn là vùng lên.” Nổi dậy. Khủng bố. Đấu tranh vũ trang. Kêu bằng danh
từ nào bạn thích.
Khủng bố là một hành động tàn sác, ghê tởm, và bất nhân, không chỉ đối với kẻ
khủng bố mà c̣n nạn nhân của khủng bố. Chiến tranh cũng thế. Cuộc chiến chống
khủng bố đang biến thành một cuộc khủng bố. Kẻ khủng bố là những tên buôn bán
chiến tranh. Họ là những người tin rằng nhà nước sở hữu độc quyền sử dụng bạo
động.
Nhưng dĩ nhiên có một cái có thể thay thế cho khủng bố: đó là công lí.
Đă đến lúc thế giới phải nhận thức rằng không có một vũ khí hạt nhân nào, không
có một sự thống trị nào, hay một bom daisy cutter nào, hay một Governing Council
– hội đồng cai quản nào có thể mua được ḥa b́nh. Chỉ có công lí mới mua được
ḥa b́nh.
|